một số định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hành vi thương mại - Pdf 22

Một số định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hành vi
thương mại
Chương 1 : Những lí luận cơ bản về hành vi thương mại
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Luật thương mại
1.1.1 Quan niệm về Luật thương mại và hành vi thương mại
Thương mại là hoạt động ra đời sớm trong lịch sử xã hội loài người, trên cơ
sở sự phân công lao động xã hội, nó đó tồn tại và phát triển qua nhiều hình
thái kinh tế xã hội khác nhau. Sự ra đời và phát triển của thương mại gắn liền
với nền sản xuất hàng hóa. Khi có sự phân công lao động lần thứ ba trong xã
hội, thương nghiệp ra đời, xuất hiện tầng lớp chuyên mua bán các sản phẩm
đề kiếm lời- các thương nhân, khi đó, hành vi thương mại đã được hình thành.
Luật thương mại là một thuật ngữ được hiểu chung trong giới luật học,
không có nhiều khác biệt và được định nghĩa tương đối giống nhau ở các
nước. Theo cuốn từ điển thuật ngữ pháp lý nổi tiếng thế giới Black’s Law
Dictionary có định nghĩa “ Luật thương mại ” (Commercial Law) là thuật ngữ
được sử dụng để chỉ toàn bộ ngành luật vật chất áp dụng cho các quyền lợi
giao dịch và quan hệ của những người thực hành nghề nghiệp thương mại,
buôn bán.
“ Luật thương mại ” cũng được giải nghĩa trong cuốn Petit Dictionnaire de
Droit (Dalloz) là ngành luật tư điều tiết mối quan hệ giữa các thương nhân
hay các hành vi thương mại.
Trong đời sống kinh tế xã hội cũng như trong khoa học pháp lý ở các nước
theo hệ thống pháp luật châu Âu lục địa, luật thương mại đã tồn tại như một
1
ngành luật quan trọng, cùng với luật dân sự điều chỉnh các quan hệ tài sản
mang tính chất hàng hóa- tiền tệ.
Luật thương mại ra đời do yêu cầu mới của đời sống kinh tế xã hội lúc bấy
giờ và do các quy định của luật dân sự không thể đáp ứng được đối với những
quan hệ mới phát sinh trong lĩnh vực lưu thông thương mại. Lúc đầu người ta
chỉ biết tới dân luật. Tới thời kì thương mại phát triển, người ta nhận thấy có
nhu cầu đặc biệt, cần có các quy tắc riêng mới thỏa mãn được, ví dụ như nhu

biệt giữa luật dân sự và luật thương mại. Các nước Civil Law, theo truyền
thống, có một tiểu phân ngành là luật nghĩa vụ làm nền tảng chung cho các
giao dịch mà trong đó có cả các hợp đồng được phân biệt thành hợp đồng và
hợp đồng thương mại Trong khi đó, ở các nước Common Law thì tất cả các
hợp đồng dù thương mại hay không đều phụ thuộc vào một ngành luật là luật
hợp đồng.
Thương mại có nghĩa là buôn bán. Ở Việt Nam, theo cách hiểu phổ thông,
thương mại là hoạt động trao đổi hay giao lưu hàng hóa, dịch vụ trên cơ sở
thuận mua vừa bán.
Thuật ngữ “hành vi thương mại” được sử dụng khá phổ biến trong luật
thương mại của một số nước. Chẳng hạn như trong bộ luật thương mại Pháp,
tuy chưa xác định rõ khái niệm thế nào là hành vi thương mại nhưng cũng đã
liệt kê một số hành vi được coi là hành vi thương mại. Ở nước ta trước đây,
trong Bộ luật thương mại của Việt Nam cộng hòa năm 1972, tại điều 340 đã
xác định một cách khái quát về hành vi thương mại, đó là những hành vi chế
tạo, lưu chuyển, trung gian có mục đích kiếm lời trực tiếp hay gián tiếp.
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, thuật ngữ thương mại được hiểu
với nghĩa là một hoạt động ít khi được sử dụng. Chỉ đến thời kì chuyển sang
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, thuật ngữ thương mại mới được sử
dụng trở lại.
3
Cùng với việc ban hành Luật thương mại 1997, trên thực tế đã xuất hiện khái
niệm ‘luật thương mại”. Song do khái niệm thương mại được hệ thống pháp
luật nước ta lúc đó tiếp cận ở nghĩa hẹp, tức là chỉ là một khâu của hoạt động
thương mại, nên luật thương mại không được coi là một ngành luật mà chỉ
được coi như một bộ phận của luật kinh tế.
Nội dung của Luật kinh tế bao gồm có Luật thương mại, Luật lao động, Luật
điều chỉnh sở hữu công nghiệp và một số chế định, quy phạm của dân luật có
áp dụng pháp luật công ( quan hệ dân sự do các chế định, quy phạm này điều
chỉnh có sự can thiệp của Nhà nước ). Trong nội dung của luật kinh tế theo

mại; Luật số 12/57 về bằng sáng chế; Nghị định số 92/BKT/CKN ngày
9/4/1968 và nghị định số 406/BKT/ND ngày 11/10/1968 về danh sách các
ngành nghề tiểu công nghệ…quan trọng nhất là Bộ luật thương mại ban hành
20/12/1972 với nội dung khá phong phú, đề cập đến nhiều vấn đề của đời
sống thương mại lúc đó ở miền nam Việt Nam như nhiệm vụ nghề nghiệp của
nhà buôn hay thương gia và sự hành nghề thương mại…
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, thời kì bao cấp nên việc kinh doanh
chủ yếu được các tổ chức thuộc thành phần kinh tế quốc doanh tiến hành, do
đó, luật kinh tế điều chỉnh những quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình
kinh doanh XHCN tập trung ghi nhận các chế độ pháp lí liên quan đến việc tổ
chức và hoạt động của các tổ chức kinh tế quốc doanh
Đến khi chúng ta bắt đầu bước vào xây dựng nền kinh tế thị thường định
hướng xã hội chủ nghĩa, việc đổi mới cơ chế quản lí kinh tế đã làm thay đổi
cơ bản tính chất của các quan hệ trong kinh doanh. Về thực chất, luật kinh tế
trong giai đoạn này vẫn được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật do
5
Nhà nước ban hành, điều chỉnh những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá
trình hoạt động sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp hoặc giữa chúng
với cơ quan quản lí nhà nước về kinh tế nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế,
xã hội của đất nước. Để đáp ứng yêu cầu của cơ chế quản lý kinh tế mới, Nhà
nước đã ban hành một loạt văn bản pháp luật kinh tế mới thay thế những văn
bản ban hành trước đây như Luật doanh nghiệp 1999, Luật Doanh nghiệp Nhà
nước năm 1995, Luật hợp tác xã năm 1996, Luật phá sản doanh nghiệp năm
1993, Luật thương mại năm 1997…
Cho đến nay, cùng với sự phát triển và mở của hội nhập của nền kinh tế Việt
Nam, chúng ta đang cố gắng tạo một hành lang pháp lý thông thoáng, hiệu
quả nhằm tăng trưởng kinh tế, tạo một môi trường ổn định và hiệu quả cho
các nhà kinh doanh trong và ngoài nước đầu tư vào nền kinh tế, do đó chúng
ta cũng đã sửa đổi, bổ sung vào những văn bản đang hiện hành sao cho phù
hợp với sự phát triển, đồng thời ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật

là hành vi thương mại. Còn liệt kê chỉ dẫn là việc kết hợp giữa phương pháp
liệt kê và mở ra cho việc nhìn nhận tới các hành vi tương tự khác cũng được
xem là hành vi thương mại;
thứ ba, định nghĩa theo kiểu kết hợp của hai định nghĩa trên.
Kết hợp các phương pháp định nghĩa này, Đạo luật mẫu về thương mại
điện tử do Ủy ban Liên Hợp Quốc về Luật thương mại soạn thảo đưa ra định
nghĩa: “ Thuật ngữ thương mại cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao
quát các vấn đề nảy sinh từ mọi mối quan hệ mang tính chất thương mại, dự
7
cú hay không có hợp đồng. Các mối quan hệ mang tính thương mại bao gồm,
nhưng không chỉ bao gồm, các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch thương mại
nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối;
đại diện hoặc đại lý thương mại; ủy thác hoa hồng; cho thuê dài hạn; xây
dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công trình; đầu tư; cấp vốn; ngân hàng;
bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh và các hình thức
khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành
khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ”.
Ở Việt Nam, Luật thương mại 1997 có đưa ra định nghĩa về “hành vi thương
mại”:
Hành vi thương mại là hành vi của thương nhân trong đầu tư, sản xuất, trao
đổi hàng hóa, cung ứng dịch vụ nhằm mục đích kiếm lợi nhuận, làm phát sinh
quyền và nghĩa vụ giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa thương nhân với
các bên có liên quan.
Một hành vi được coi là hành vi thương mại khi thỏa mãn các điều kiện :
- hành vi do thương nhân thực hiện. trong trường hợp công dân mua
hành của thương nhân thì hành vi của công dân là hành vi dân sự, còn
hành vi của thương nhân là hành vi thương mại
- Hành vi được thực hiện trong khuôn khổ các hoạt động thương mại
của thương nhân. Hành vi mua hàng để bán lại của thương nhân là
hành vi thương mại, nhưng nếu mua hàng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân

niệm thống nhất về hành vi thương mại và một cách hiểu chung về
thương mại hiện nay chưa có.
1.2.2 Thành tố của hành vi thương mại.
9
Trong nền kinh tế thị trường, các thương nhân tham gia tìm kiếm lợi nhuận
thông qua việc sản xuất, mua bán, trao đổi hàng hóa. Cho dù luật không có
một định nghĩa nào và cũng không cho biết những thành tố của một hành vi
thương mại, nhưng về mặt pháp lý thì người ta phân tích hành vi thương mại
thành hai yếu tố là mua về và bỏn đớ.
• Mua về
Đõy là yếu tố khởi đầu để tạo nên hành vi thương mại. Việc bán đi những
gì không phải do bản thân người bán mua về thì không phải là hành vi thương
mại, như người nông dân hay thợ thủ công, bán sản phẩm của mình làm ra thỡ
đõy không phải là hành vi thương mại.
Tuy nhiên, cần phải xem xét đến một vấn đề. Rõ ràng, khi nông dân bán thóc
lúa do mình làm ra thì không phải là hành vi thương mại, nhưng nếu những
người này còn mua thêm những hàng hóa cùng loại để bán cùng với hàng hóa
của mình một cách thường xuyên và số lượng lớn thì hoạt động của họ trở
thành có tính cách thương mại, hay nếu như các hoạt động của họ có quy mô
lớn, sử dụng máy móc để sản xuất lúa gạo hay chăn nuôi để bỏn thỡ lại là
hành vi thương mại
Đối tượng của việc mua bán phải là hàng hóa, vật phẩm. Đó có thể là vật chất
liệu, có thể là sản phẩm của tư duy, trí tuệ hay tài sản vô hình như dịch vụ
điện, điện thoại…
Câu hỏi đặt ra là, mua bất động sản để bán lại có phải là hành vi thương mại?
Dù là mua để bán lại nhưng đây không phải một hành vi thương mại bởi lẽ
bất động sản gắn liền với nhiều tố quyền và vật quyền mà đòi hỏi cần phải có
sự bảo vệ chắc chắn của Luật dân sự.
Từ đây có thể thấy, người ta căn cứ vào mối tương quan giữa tính chất dân sự
và tính chất thương mại của hành vi để xác định hành vi đó có phải là hành vi

bản chất của nó thuộc về công việc buôn bán hoặc vì hình thức của nó được
pháp luật coi là tiêu biểu cho hành vi thương mại.Cỏc hành vi thương mại
thuần túy là những hành vi mang tính chất chất khách quan.
Một ví dụ rất đơn giản về hành vi thương mại thuần túy, đó là việc mua hàng
hóa để bán lại kiếm lời, bởi vì bản chất của hành vi này mang tính thương
mại. Hay như kí hối phiếu, bất kể người kí hối phiếu có là thương nhân hay
không, vì hối phiếu là hình thức của hành vi thương mại nên việc kí hối phiếu
cũng là một hành vi thương mại thuần túy.
- Hành vi thương mại phụ thuộc là những hành vi có bản chất dân sự nhưng
do thương nhân thực hiện theo nhu cầu nghề nghiệp hay nhõn lỳc hành nghề
và do đó được coi là hành vi thương mại. Lại có khi một hành vi dân sự được
một thương gia thực hiện có tính cách thương mại do phụ thuộc vào một hành
vi thương mại khác. Theo đó mọi hành vi của thương nhân trong hoạt
động kinh doanh đều là hành vi thương mại trừ phi họ chứng minh được
rằng hành vi đó thực hiện không nhu cầu thương mại.
Đối lập lại với hành vi thương mại thuần túy là hành vi khách quan, những
hành vi thương mại phụ thuộc là những hành vi thương mại phát sinh từ tư
cách thương gia của người thực hiện, do đó, những hành vi này là hành vi
thương mại chủ quan. Ví dụ, thương nhân mua phương tiện, trang thiết bị để
trang bị cho công việc của mình. Đây là hành vi thương mại phụ thuộc vì
hành vi này có tính chất dân sự nhưng do nhu cầu của nghề nghiệp mà thương
nhân thực hiện hành vi.
Một hành vi có bản chất là dân sự chỉ có thể trở thành hành vi thương mại khi
hội đủ hai yếu tố : Hành vi đó phải do thương nhân thực hiện; và hành vi đó
12
được thương nhân thực hiện nhân dịp hành nghề hoặc do nhu cầu nghề
nghiệp.
Mặc dù đã được đúc kết như vậy, nhưng việc áp dụng lại là một điều phức
tạp. Xét đến hành vi của thương gia khi thuê nhân công lao động phục vụ cho
công việc của mình, đó là hành vi thương mại. Nhưng hành vi này có tính

thương mại ngay cả khi chúng được những người không phải là thương nhân
thực hiện. Các hành vi này bao gồm hành vi lập hối phiếu; hành vi của các
công ty thương mại…
Các hành vi thương mại phụ thuộc là các hành vi phụ thuộc vào hoạt động
thương mại hoặc các thương gia như các trái vụ giữa các thương nhân với
nhau.
Trong học thuật, người ta có thể chia hành vi thương mại thành hành vi
thương mại thuần tuý và hành thương mại phụ thuộc .
Các hành vi thương mại thuần tuý là các hành vi mà bản chất của nó có tính
cách thương mại, buôn bán như mua hàng hoá để bán kiếm lời… hoặc hình
thức của nó khiến cho pháp luật quy định là hành vi thương mại đương nhiên
như lập hối phiếu…
Các hành vi thương mại phụ thuộc là các hành vi có bản chất là dân sự nhưng
do thương nhân thực hiện khi tiến hành nghề nghiệp của mình.
Ở đây cũng cần hiểu rằng có những hành vi thương mại lại được coi là hành
vi dân sự vì người thực hiện chúng không phải là thương nhân. Điều đó có
nghĩa là tư cách của người thực hiện hành vi có ảnh hưởng phần nào đến việc
phân biệt hành vi đó là hành vi dân sự hay là hành vi thương mại.
14
* Bộ luật thương mại của Bỉ chia hành vi thương mại thành hai loại:
- Hành vi thương mại do bản chất (hành vi thương mại khách quan) gồm có :
thủ đắc nguyên vật liệu; sản xuất vật phẩm để cho thuê hoặc để bỏn; bỏn hoặc
cho thuê có kèm theo thủ đắc; cho thuê bất động sản nhằm mục đích cho thuê
lại…
- Hành vi được coi là hành vi thương mại bởi chúng được thương nhân thực
hiện trong hoạt động nghề nghiệp của mình (hành vi thương mại chủ quan)
bao gồm : tất cả nghĩa vụ của thương nhân trừ khi chúng minh được rằng
nguyên nhân của chúng không tương thích với hoạt động thương mại; những
hành vi có bản chất dân sự được coi là hành vi thương mại khi chúng được
thực hiện trong phạm vi của hoạt động thương mại.

thương nhân. Pháp luật của các nước có sự khác nhau đáng kể trong việc
phân biệt giữa thương nhân và phi thương nhân. Ở nhiều nước, nhất là ở
những nước thực hiện chế độ tự do thương mại, lại không có sự phân biệt
giữa thương nhân và phi thương nhân. Có thể xếp vào ba nhóm chủ yếu:
- Nhóm thứ nhất : bao gồm các nước có sự phân biệt rõ ràng giữa thương
nhân và phi thương nhân mà tại đó công nhận sự hiện diện của cả
thương gia thể nhân và thương gia pháp nhân, như Pháp, Đức, Bỉ, Tây
Ban Nha…
- Nhóm thứ hai : bao gồm các nước có sự phân biệt giữa thương nhân và
phi thương nhân, nhưng có hạn chế đối với pháp nhân hay không đề
cập đến pháp nhân trong luật thực định, như Brazil, Bồ Đào Nha.
16
- Nhóm thứ ba : bao gồm các nước không có sự phân biệt rõ ràng giữa
thương nhân và phi thương nhân. Tuy nhiên trong lĩnh vực phá sản,
thuế, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, mua bán hàng húa… vẫn có sự
phân biệt thương nhân và phi thương nhân, ví dụ như Hoa Kỳ, Anh, Hà
Lan…
Vốn dĩ luật thương mại được coi là luật của các thương gia, vì vậy, khái niệm
về thương gia (thương nhân) luôn được xác định trong pháp luật thương mại
của các nước nói chung và của Việt Nam nói riêng.
Luật thực định của các quốc gia cú cỏc định nghĩa khác nhau về thương
nhân nhưng tóm lại có hai cách định nghĩa chính được sử dụng là định nghĩa
theo bản chất thương mại và định nghĩa theo hình thức quản lý.
* Pháp là một trong những quốc gia định nghĩa thương nhân theo bản chất.
Trong bộ luật thương mại Pháp 1807 cũng là bộ luật thương mại đầu tiên trên
thế giới định nghĩa tại điều 1: “Thương nhân là những người thực hiện các
hành vi thương mại và lấy chúng làm nghề nghiệp thường xuyên của mỡnh”.
Có thể nói, như theo giáo sư Roger Houin và Michel Pộdamon, thỡ đây là một
định nghĩa kép, bao gồm cả thương gia thể nhân được xác định bởi bản chất
của hành vi và thương gia pháp nhân, hay chính xác hơn là thương hội, được

pháp luật thương mại Đức quy định về thương nhân có phần phức tạp hơn.
* Khác với việc định nghĩa thương nhân theo bản chất của Pháp, Bộ luật
thương mại Czech lại định nghĩa thương nhân theo hình thức đăng kí thương
mại. Theo cách thức liệt kê, mô tả, khoản 2 điều 2 Bộ luật thương mại Czech
đã quy định: “ Theo bộ luật này, thương nhân được coi là :
- người (thể nhân hoặc pháp nhân) được ghi tên vào sổ đăng kí thương mại;
18
- người thực hiện hoạt động kinh doanh trên cơ sở một giấy phép cho tiến
hành một số hoạt động buôn bán nhất định;
- người thực hiện các hoạt động kinh doanh trên cơ sở một giấy phép được
cấp theo các luật hoặc các quy định đặc biệt khác với các quy định điều chỉnh
việc cấp giấy phép buôn bán;
- thể nhân thực hiện hoạt động nông nghiệp (sản xuất nông nghiệp) mà được
đăng kí vào sổ đăng kí thích hợp theo luật hoặc quy định đặc biệt”.
Như vậy, Bộ luật thương mại Czech không đề cập tới vấn đề hành vi thương
mại để xác định thương nhân mà dựa vào việc đăng kí kinh doanh để xác định
thương nhân.
* Trong khoa học pháp lý cũng như trong pháp luật thực định của Việt Nam
tồn tại ba khái niệm có nội hàm và ngoại diên về cơ bản là giống nhau, đó là
doanh nghiệp, thương gia và thương nhân.
Thương nhân theo pháp luật Việt Nam, được đinh nghĩa tại điều 1 Bộ luật
thương mại Việt Nam Cộng hòa 1972 : “Thương gia là những người làm hành
vi thương mại cho chính mình và lấy hành vi ấy làm nghề nghiệp thường
xuyên của mỡnh”.
Một người chỉ được coi là thương gia khi thực hiện hành vi thương mại.
Những hành vi thương mại do bản chất mang lại cho người thực hiện nó tư
cách thương gia, còn đối hành vi thương mại phụ thuộc, chính tư cách thương
gia sẵn có của người thực hiện làm cho hành vi trở thành hành vi có tính cách
thương mại.
Điều kiện để trở thành một thương gia theo đạo luật này đó là: là người thực

nhân theo kiểu hình thức đăng kí kinh doanh sẽ làm bó hẹp phạm vi điều
chỉnh của luật thương mại. Định nghĩa như vậy cũng sẽ làm loại bỏ sự điều
20
chỉnh và giải quyết các hoạt động thương mại trong thực tế. Về mặt lịch sử
phát triển thì đăng kí thương mại phát sinh sau các quy tắc thương mại được
hình thành giữa các thương gia vào lúc Nhà nước muốn quản lý các hoạt
động thương mại nhằm các mục đích công cộng trong đó có cả thuế. Vậy
đăng kí thương mại không tạo nên cái chất của hoạt động thương mại.
1.3 Sự khác biệt giữa hành vi thương mại - hành vi dân sự và ý nghĩa của
việc xác định hành vi thương mại
1.3.1 Sự khác biệt giữa hành vi thương mại và hành vi dân sự
1.3.1a. Sự phân biệt Luật dân sự và Luật thương mại
Theo nghĩa truyền thống, Luật dân sự là một ngành luật xác định giới hạn
của quyền lợi tư, nó bao gồm các vấn đề liên quan đến quyền lợi tư và chủ thể
thực hiện các quyền lợi tư. Những quyền lợi này phát sinh trong giao lưu
hàng ngày. Có nghĩa là, bất kì thể nhân hay pháp nhân nào cũng có thể tham
gia vào các giao dịch dân sự nhằm thỏa mãn nhu cầu về vật chất và tinh thần.
Vậy cũng với tư cách là luật tư, Luật thương mại và Luật dân sự có điểm gì
khác biệt?
Về lịch sử hình thành, Luật thương mại và luật dân sự có nguồn gốc khác
nhau. Luật dân sự ở các nước Châu Âu lục địa có nguồn gốc chính yếu từ
Luật La Mó. Cũn Luật thương mại lại bắt nguồn từ các quy tắc tập quán của
các thương nhân người Ý vào khoảng đầu thế kỉ XII và XIII.
Cơ sở kinh tế làm phát sinh và phát triển Luật thương mại và Luật dân sự
cũng khác nhau. Khi loài người biết tổ chức thành cộng đồng, thì cũng là lúc
nhu cầu về các quy tắc điều tiết mối quan hệ thường nhật giữa họ xuất hiện.
Các mối quan hệ và các quy tắc đó trước hết là lĩnh vực của Luật dân sự theo
21
quan niệm ngày nay. Trong khi đó quan hệ thương mại và các quy tắc thương
mại chỉ có thể xuất hiện khi mua bán trao đổi hàng hóa diễn ra thường xuyên

sự này bao gồm những hành vi nào. Tuy nhiên, khi các chủ thể thực hiện hành
vi xử sự của mình phải tuân thủ các quy tắc chung của luật dân sự là : bảo
đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác. Do đó, khi xử sự của một
chủ thể làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khỏc thỡ xử
sự đó bị coi là trái pháp luật dân sự.
Theo cuốn từ điển Luật học thì “Hành vi dân sự là hành vi của cá nhân, pháp
nhân và các chủ thể khác trong quan hệ tài sản và các quan hệ nhân thân phi
tài sản có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với các quan hệ tài sản nhằm làm
phát sinh, thay đối hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Hành vi dân sự được thực hiện dưới dạng hành động (thực hiện những hành
vi nhất định) hoặc không hành động (không thực hiện những hành vi nhất
định)
Và khi đề cập tới mối quan hệ giữa Luật thương mại và Luật dân sự, theo
GS.TSKH Đào Trí Úc thì “ hành vi thương mại là một biểu hiện của hành vi
pháp lý dân sự, phải là đối tượng điều chỉnh của Bộ luật dân sự và Luật
thương mại”. Như vậy, mối quan hệ giữa hành vi dân sự và hành vi thương
mại được nhìn nhận là mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cỏi riờng,
trong đó, hành vi dân sự là cái chung, còn hành vi thương mại là cỏi riêng.
Cái chung của hai loại hành vi này thể hiện ở chỗ hành vi dân sự và hành vi
thương mại đều là hành vi của con người, phát sinh, tồn tại trong quá trình sản
xuất, trao đổi hàng hóa, đều là những nội dung của quan hệ hành húa-tiền tệ,
và ở những mức độ nhất định đều chịu sự tác động của các quy luật kinh tế
khách quan.
23
Tuy nhiên, hành vi dân sự và hành vi thương mại cũng có những điểm khác
biệt và chính những điểm khác biệt đú đó tạo nên đặc điểm của hành vi
thương mại
Thứ nhất, hành vi thương mại khác hành vi dân sự về thời điểm xuất hiện và
về tính ổn định.
Xét về mặt lịch sử, hành vi dân sự ra đời từ rất sớm trong lịch sử xuất hiện xã

bán là khâu quan trọng nhất, là thành tố của hành vi thương mại. Nói đến
thương mại không thể không nói đến thành tố này. Cũn cỏc yếu tố khác (sản
xuất và dịch vụ) phải kết hợp với khâu mua bán mới có thể coi là thực hiện
xong một hành vi thương mại.
Đương nhiên, thị trường nơi diễn ra hành vi thương mại phải là thị trường
hiện (thị trường hợp pháp) bởi hành vi thương mại đang được đề cập là hành
vi thương mại hợp pháp, hành vi thương mại được Nhà nước bảo hộ. Mọi
hành vi sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ sẽ không được coi là hành vi
thương mại nếu chỳng khụng diễn ra trên thị trường hoặc diễn ra trên thị
trường ngầm.
Là hành vi diễn ra trên thị trường, các hành vi thương mại phải tuân theo các
quy luật của thị trường, trong đó phải kể đến các quy luật của thị trường như
Quy luật cạnh tranh, quy luật tăng lợi nhuận, quy luật kích thích sức mua giả
tạo, quy luật cung cầu…và các quy luật riêng trong thương mại như quy luật
về ý chí tiến thủ của chủ doanh nghiệp. Dưới tác động của các quy luật đú,
cỏc hành vi thương mại có những nét đặc thù so với các hành vi dân sự .
Chẳng hạn, dưới sự tác động của quy luật cạnh tranh, các chủ doanh
nghiệp thường phải vươn lên giành giật lấy toàn bộ hoặc một phần nào đó của
thị trường để tồn tại, tăng trưởng và phát triển. Để làm được điều đó, ngoài
25

Trích đoạn Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về hành vi thương mại. Một số định hướng cho việc hoàn thiện pháp luật về hành vi thương mạ Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hành vi thương mạ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status