Trường Đại học Luật TPHCM
MỞ ĐẦU
Tuy xã hội ngày càng tiến bộ và phát triển nhưng không vì thế mà số lượng và
mức độ của hành vi phạm tội suy giảm. Ngược lại, chúng còn tăng lên một cách đáng
kể cùng với mức độ ngày càng nghiêm trọng, chỉ cần lướt qua mục pháp luật của một
vài trang báo ta có thể thấy rõ điều này. Chính những hiện tượng này đã gây ảnh
hưởng không tốt đối với tâm lí của đại bộ phận dân cư trong xã hội, thậm chí tạo một
tiền lệ xấu của một bộ phận giới trẻ, đặc biệt là những đối tượng vị thành niên, trong
đó tiêu biểu nhất chính là vụ việc tôn sùng Lê Văn Luyện làm thần tượng của các
nhóm thanh niên lêu lỏng trong cả nước. Một thực tế đáng báo động hơn chính là số
lượng tội phạm là người vị thanh niên ngày một tăng nhanh không kiểm soát, số vụ
giết người mang tính chất tàn ác, dã man, số vụ hiếp dâm trẻ em, cướp giật… diễn ra ở
hầu hết các địa phương trong cả nước từ những nơi vùng cao xa xôi như Tây Nguyên
và khu vực vùng núi Tây Bắc cho đến vùng đồng bằng như khu vực miền Tây Nam
Bộ, trong số đó phải kể đến hai thành phố đông dân nhất cả nước là Hà Nội và thành
phố Hồ Chí Minh, đang tạo nên một sự nhức nhối trong dư luận và là một đòn đánh
mạnh vào văn hóa, đạo đức người Việt Nam, gần như những vụ án đều không thể được
ngăn chặn trước khi nó xảy ra trên thực tế vì thế hậu quả xảy ra là đều không thể tránh
khỏi. Các đối tượng vi phạm pháp luật Hình sự thuộc đủ mọi loại thành phần trong xã
hội từ công nhân viên, cán bộ công chức (giáo viên, công an, cảnh sát, kiểm lâm,thanh
tra…) cho tới giới học sinh-sinh viên và ngay cả các đối tượng là trẻ em cũng có thể
gây án. Đây là một thực trạng đáng báo động và cần phải được ngăn chặn kịp thời kết
hợp với việc răng đe một cách cứng rắn, mạnh mẽ nhằm thiết lập lại một trật tự ổn
định trong xu hướng hội nhập và phát triển kinh tế của Việt nam hiện nay.
1
Trường Đại học Luật TPHCM
BẮT NGƯỜI TRONG TRƯỜNG HỢP KHẨN CẤP
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
I- KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
1. Khái niệm:
Tập bài giảng Luật Tố tụng Hình sự năm 2012 của trường Đại học Luật TP.HCM
1Hội đồng khoa học đào tạo Khoa Luật Hình sự, Trường Đại học Luật TPHCM, Tập bài giảng Luật Tố tụng hình
sự, 2012, trang 172-173.
2 Nguyễn Như Ý (chủ biên), Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa – Thông tin, 1999, trang 124
3 Capture:
- Catch: to catch a person or an animal ad keep them as a prisoner or in a confined space.
- Take control: to take control of a place, building, ect. using force; to succeed in getting control of
something that other people are also trying to control.
A S Hornby, Oxford Advanced Learner’s Dictionary of Current English, Eight edition, Oxford University Press,
page 210.
2
Trường Đại học Luật TPHCM
đối với người đang bị truy nã nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, tạo điều kiện thuận
lợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
4
Như vậy, có thể định nghĩa: bắt người là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình
sự được áp dụng dưới hình thức cưỡng chế nhà nước nhằm tước quyền tự do của bị
can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả
tang), người đang bị truy nã để kịp thời ngăn chặn tội phạm, bảo đảm cho việc điều
tra, truy tốt, xét xử và thi hành án.
Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 quy định nhiều trường hợp bắt người. Trong đó, bắt
người trong trường hợp khẩn cấp là việc bắt người khi người đó đang chuẩn bị thực
hiện tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc có căn cứ để cho
rằng sau khi thực hiện tội phạm, người đó có hành vi bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.
5
“Khẩn cấp” được hiểu là tình trạng cấp bách, không thể trì hoãn. Ngay tên gọi
“Bắt người trong trường hợp khẩn cấp” đã phản ánh được phần nào tính chất của
trường hợp bắt người này. Có thể hiểu rằng, bắt người trường hợp khẩn cấp là biện
pháp bắt người được áp dụng trong hoàn cảnh cấp bách, không thể trì hoãn khi có đủ
các căn cứ pháp luật quy định.
Chế định bắt người trong trường hợp khẩn cấpthể hiện tính chất đặc biệt cấp bách
cần phải đợi đến khi có quyết định khởi tố bị can, cơ quan điều tra mới có thể tiến
hành việc bắt người, mà khi đã xác định được bất kỳ đối tượng nào thuộc một trong ba
trường hợp nêu trên thì đều có thể tiến hành bắt khẩn cấp theo qui định của pháp luật.
3. Thẩm quyền ra lệnh bắt khẩn cấp:
Theo khoản 2, Điều 81 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (BLTTHS), những người
sau đây có quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp:
a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp;
b) Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy
đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới;
c) Người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng.
So với trường hợp bắt bị can, bị cáo để tạm giam thì trường hợp bắt khẩn cấp có
các chủ thể áp dụng rất khác (trừ Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra các
cấp). Lý do của sự khác biệt này xuất phát từ thực tế các cơ quan trên là những nơi
thường xuyên tiếp xúc với các loại tội phạm, tiếp nhận các nguồn tin, tố giác của công
dân về tội phạm. Do vậy, để đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của cuộc đấu tranh phòng chống
tội phạm là phải phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi
hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội cũng như tạo
thuận lợi cho việc tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử trong quá trình tố
tụng, pháp luật cho phép những người đứng đầu các cơ quan trên được phép ra lệnh
bắt người trong trường hợp khẩn cấp.
6
Tuy nhiên, luật không trao quyền bắt người cho Viện kiểm sát hay Tòa án. Đó là
do chức năng, nghiệp vụ của Viện kiểm sát, Tòa án không phù hợp với công tác tổ
chức, xác định các căn cứ áp dụng, tổ chức cử cán bộ thi hành. Đồng thời, nếu trao
quyền bắt người cho họ sẽ không đảm bảo tính cấp thiết và nhanh chóng của trường
hợp bắt người này. Trong khi đó, những người được trao quyền ra lệnh bắt người trong
trường hợp khẩn cấp quy định trong BLTTHS có các điều kiện tương đối thỏa mãn
những yêu cầu đã nêu.
Điểm c, khoản 2, Điều 81 BLTTHS quy định: “Người chỉ huy tàu bay, tàu biển,
khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng” có quyền ra lệnh bắt người trong
- Trường hợp tạm giữ khi tàu bay, tàu biển đã rời sân bay, rời bến cảng thì cần phải quy
định thời hạn tạm giữ cụ thể tối đa là bao nhiêu ngày, trừ đi những ngày tàu biển, tàu
bay di chuyển từ địa điểm bắt giữ đến địa điểm thực hiện các thủ tục tố tụng tiếp theo.
Khoản 4, Điều 81 BLTTHS quy định thẩm quyền xét phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp là
Viện kiểm sát cùng cấp:
“Trong mọi trường hợp, việc bắt khẩn cấp phải được báo ngay cho Viện kiểm sát
cùng cấp bằng văn bản kèm theo tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp để xét phê
chuẩn.
Viện kiểm sát phải kiểm sát chặt chẽ căn cứ bắt khẩn cấp quy định tại Điều này.
Trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát phải trực tiếp gặp, hỏi người bị bắt trước khi
xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn.
Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận được đề nghị xét phê chuẩn và tài liệu liên
quan đến việc bắt khẩn cấp, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết
định không phê chuẩn. Nếu Viện kiểm sát quyết định không phê chuẩn thì người đã ra
lệnh bắt phải trả tự do ngay cho người bị bắt.”
Tuy nhiên, đối với lệnh bắt khẩn cấp của người chỉ huy tàu bay, tàu biển, Viện
kiểm sát cùng cấp là Viện kiểm sát nào cũng không được quy định rõ trong luật. Chẳng
hạn khi tàu bay đang bay trên bầu trời, tàu biển đang ở ngoài biển…, Viện Kiểm sát
cùng cấp sẽ được xác định như thế nào vẫn chưa được quy định rõ ràng.
Xét thấy cần quy định bổ sung trong khoản 4 Điều 81 với nội dung: Đối với
trường hợp quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều luật này, thẩm quyền để xét phê chuẩn
lệnh bắt khẩn cấp là Viện Kiểm sát nơi có sân bay hoặc bến cảng trở về đầu tiên hoặc
nơi tàu bay, tàu biển đó được đăng ký. Quy định như vậy mới kịp thời ngăn chặn hành
vi phạm tội, ngăn chặn hành động gây khó khăn cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét
xử. Bởi mặc dù liên ngành các cơ quan tiến hành tố tụng ở trung ương hoặc từng
5
Trường Đại học Luật TPHCM
ngành đã có hướng dẫn nhưng để đảm bảo tính hợp pháp và thống nhất trong việc thi
hành thì phải được quy định cụ thể trong BLTTHS.
7
biện pháp ngăn chặn; việc thi hành các lệnh bắt là hoạt động tố tụng nhưng nếu không
có biện pháp nghiệp vụ thì nhiều trường hợp gặp khó khăn vì đối tượng bị bắt thường
lẩn trốn và tìm cách chống trả những người thi hành lệnh bắt, nhất là những người
phạm vào các tội về trật tự xã hội.
Thông thường, những người thi hành lệnh bắt phải tìm cách bí mật, bất ngờ tiếp
cận đối tượng, không để đối tượng kịp thời chạy trốn, thậm chí có trường hợp phải
nhanh chóng sử dụng công cụ hỗ trợ như khoá số 8 để khoá tay, không để đối tượng có
7PGS. TS. Nguyễn Đức Thuận, Về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2003, Tạp chí Luật học số 07 (2008).
Tham khảo trực tuyến tại: http://tks.edu.vn/portal/detail/4712_66__Ve-viec-ap-dung-cac-bien-phap-ngan-chan-
theo-quy-dinh-cua-Bo-luat-to-tung-hinh-su-nam-2003.html
6
Trường Đại học Luật TPHCM
thời cơ chống trả, sau đó mới đọc lệnh bắt trước sự chứng kiến của những người có
mặt theo luật định.
Thế nhưng, khoản 2, Điều 80 BLTTHS quy định: “Lệnh bắt phải ghi rõ ngày,
tháng, năm, họ tên, chức vụ của người ra lệnh; họ tên, địa chỉ của người bị bắt và lý do
bắt. Lệnh bắt phải có chữ ký của người ra lệnh và có đóng dấu. Người thi hành lệnh
phải đọc lệnh, giải thích lệnh, quyền và nghĩa vụ của người bị bắt và phải lập biên bản
về việc bắt…” Điều này cho thấy trong BLTTHS chỉ quy định chung chung là người
thi hành lệnh phải đọc lệnh, giải thích lệnh, quyền và nghĩa vụ của người bị bắt còn
đọc lệnh trước hay sau khi bắt thì không quy định rõ. Trên thực tế rất ít trường hợp đối
tượng bị bắt chịu đứng im để nghe đọc lệnh bắt mà trước đó cán bộ thi hành lệnh bắt
không phải áp dụng các biện pháp chiến thuật, nghiệp vụ.
III- THỰC TIỄN ÁP DỤNG
Theo số liệu của các cơ quan tiến hành tố tụng thì tình hình tội phạm ở nước ta
có diễn biến rất phức tạp, cụ thể là:
• Năm 2003 trên phạm vi cả nước phát hiện 49.682 vụ
• Năm 2004 trên phạm vi cả nước phát hiện 47.477 vụ
• Năm 2004 trên phạm vi cả nước phát hiện 50.855 vụ
9 Nguyễn Xuân Yêm, Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm, NXBCông an nhân dân, Hà Nội 2001,
trang 683-387.
7
Trường Đại học Luật TPHCM
- Xét về lứa tuổi, tỷ lệ tái phạm tội cao nhất tập trung ở lứa tuổi từ 18 - 30 chiếm
77,3%. Tuy nhiên, người tái phạm tội ở lứa tuổi từ 40 tuổi trở lên thường tỏ ra nguy
hiểm hơn.
10
- Xét về thời gian, tái phạm tội thường xảy ra nhiều nhất trong vòng 3 năm đầu
kể từ ngày được trả tự do. Phần lớn việc tái phạm tội xảy ra ngay từ năm đầu tiên sau
khi mãn hạn tù (chiếm 52,4%).
11
Tình hình trên phần nào đã phản ánh được yêu cầu cấp bách cần phải quan tâm
đúng mức vấn đề phòng ngừa, ngăn chặn các loại tội phạm.
Biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp cũng góp phần trong công tác
ngăn chặn tội phạm với nhiều ưu khuyết điểm trong từng trường hợp áp dụng.
1. Trường hợp 1: Khi có căn cứ để cho rằng một người đang chuẩn bị thực hiện
tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Đây là trường hợp hành vi khách quan được quy định trong cấu thành tội phạm chưa
xảy ra mà mới chỉ thể hiện bằng những hành vi tạo ra các điều kiện vật chất hoặc tinh thần
giúp cho việc thực hiện hành vi phạm tội có thể xảy ra hoặc xảy ra thuận lợi dễ dàng hơn.
Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với hành vi này là để ngăn ngừa không cho tội phạm
thuộc loại tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng xảy ra trên thực tế. Theo khoa học
luật hình sự, ngay sau thời điểm chuẩn bị phạm tội là thời điểm bắt đầu thực hiện hành vi
khách quan hay hành vi đi liền trước hành vi khách quan được phản ảnh, mô tả trong cấu
thành tội phạm. Để tránh cho việc thực hiện tội phạm có thể xảy ra gây hậu quả nghiêm trọng
cho xã hội, việc áp dụng biện pháp bắt khẩn cấp trong trường hợp này là cần thiết.
Theo điểm a, Khoản 1, Điều 81 BLTTHS, có hai điều kiện để quyết định bắt người theo
trường hợp khẩn cấp này là:
- Biết chính xác một người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm. Theo quy định của Điều 17 Bộ
Nếu tội phạm mà người chuẩn bị thực hiện tội phạm định thực hiện chỉ là tội phạm ít
nghiêm trọng hay tội phạm nghiêm trọng thì dù sau đó có đủ căn cứ chứng minh là người này
đã thực hiện chuẩn bị phạm tội, họ cũng không phải chịu bất cứ trách nhiệm hình sự nào. Hay
có thể hiểu là nhà làm luật nội dung – Bộ luật Hình sự, cho rằng người thực hiện hành vi
chuẩn bị phạm tội những tội phạm ít nghiêm trọng hay tội phạm nghiêm trọng có tính nguy
hiểm cho xã hội không cao đến mức phải gánh chịu trách nhiệm hình sự, bởi vậy không phải
thực hiện các biện pháp ngăn chặn đặc biệt như bắt khẩn cấp để đấu tranh, phòng chống, từ
đó mà luật hình thức – Bộ luật Tố tụng hình sựquy định như vậy.
Trường hợp bắt khẩn cấp thứ nhất này thường được áp dụng sau khi cơ quan có thẩm
quyền thực hiện một thời gian quá trình theo dõi, thực hiện các biện pháp nghiệp vụ phòng,
chống tội phạm hoặc kiểm tra, xác minh các nguồn tin báo rằng một hay một số người đang
chuẩn bị thực hiện tội phạm.
13
Tuy nhiên, trên thực tế, việc áp dụng chính xác quy định này còn gặp nhiều khó khăn.
Khó khăn ở đây ta có thể hiểu là lúc mới phát hiện hành vi chuẩn bị phạm tội thường rất khó
xác định ngay được tội phạm đang được chuẩn bị đó thuộc tội phạm rất nghiêm trọng hoặc
đặc biệt nghiêm trọng theo quy định tại khoản 2, khoản 3, Điều 8 BLHS. Bên cạnh đó, tính
cấp bách của biện pháp ngăn chặn này cùng với yêu cầu bảo vệ trật tự xã hội không cho phép
việc cơ quan có thẩm quyền chần chừ, đợi tội phạm xảy ra rồi mới tiến hành xử lí. Do vậy,
trên thực tế việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp này thường không đảm bảo yêu cầu thứ
hai mà pháp luật đã quy định cụ thể đối với trường hợp bắt người này. Từ đó, ta có thể thấy
điểm bất cập của quy định này ở chỗ quy định cả hành vi và hậu quả là hai điều kiện cần và
đủ để áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người khẩn cấp. Rất khó để biết hậu quả của hành vi
này là rất nghiệm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng khi ta đã ngăn chặn hành vi thực hiện .
Một hành vi đã bị ngăn chặn thì hậu quả của hành vi đó cũng không thể xảy ra được. Vì vậy
cũng không thể nhận biết được hậu quả đó là gì, tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi
gây ra cho xã hội nghiêm trọng đến đâu.
Ví dụ: Theo thông tin của lực lượng công an, có hai nhóm thanh niên mang trong người
nhiều mã tấu, dao, côn, gậy gộc chuẩn bị đánh nhau giành địa bàn. Vì đây mới chỉ là giai
đoạn chuẩn bị phạm tội, cũng không phải là hành vi khách quan được quy định trong cấu
cổ phần Đầu tư và Công nghiệp Tân Tạo, về hành vi “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm
phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” theo Điều 258
BLHS. Các cơ quan chức năng đang điều tra kết luận để xử lý theo quy định pháp luật.
14
Trong trường hợp này, ta có thể thấy đối tượng Nguyễn Thị Bích Trang nhận được lệnh
bắt khẩn cấp. Căn cứ theo Điều 8 và Điều 258 BLHS thì tội phạm mà chị Trang thực hiện
thuộc loại ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng, vì mức cao nhất của từng khung hình phạt
trong khoản 1 và khoản 2 của Điều 258 lần lượt là ba năm và bảy năm tù tương ứng với tội ít
nghiêm trọng và tội nghiêm trọng.
2. Trường hợp thứ hai, chúng ta cùng xem xét vụ bắt khẩn cấp nhóm bảo vệ đánh hai
công nhân nhập viện được đăng trên báo Lao động ngày 1/12/2012 như sau:
Sáng ngày 30/11/2012, tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn (TNHH) ôtô Hoa Mai (xã Đông Hải,
huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình), hai công nhân đã bị nhân viên bảo vệ của Công ty này
đuổi đánh gây thương tích, trong đó một người nguy kịch.
Hai nạn nhân là anh Nguyễn Văn Lập (sinh năm 1986) và Nguyễn Duy Anh (sinh năm 1987),
cùng trú xã Đông Hải, huyện Quỳnh Phụ. Hai anh là công nhân của xưởng da giày Hoa Mai
(thuộc Công ty Hoa Mai).
Chị Trần Thị Chọn (công nhân của xưởng, đồng thời là họ hàng của nạn nhân Lập) cho biết
khoảng 7h sáng 20/11, chị đến cổng xưởng thì thấy anh Lập và anh Anh đứng tại đây, nhưng
ông In (là bảo vệ) không cho vào. “Hai anh bảo nếu không cho vào làm thì cho vào để rút hồ
14 Tham khảo trực tuyến tại: http://www.cand.com.vn/vi-VN/phapluat/2012/9/180232.cand
10
Trường Đại học Luật TPHCM
sơ, nhưng ông In không nghe, rồi túm cổ anh Duy Anh. Anh Lập thấy vậy gạt ra, thì ông In
quay sang đấm anh Lập. Hai anh bỏ chạy, khi chạy đến khách sạn Hoa Mai (cũng thuộc công
ty Hoa Mai) thì bảo vệ và một số nhân viên nam trong khách sạn cầm ống tuýp kim loại đuổi
theo hai anh…” Trong lúc chạy, anh Lập bị ông In đuổi theo, dùng ống tuýp đánh một phát
vào đỉnh đầu, một phát vào chân. Khi bị ngã ở mé quốc lộ 10, ông In lại dùng ống tuýp đánh
vào sau đầu anh Lập. Anh Duy Anh cũng bị bảo vệ cầm ống tuýp đuổi theo đánh.
Sau khi bị đánh, anh Lập được người dân chở đi cấp cứu tại trạm xá xã, rồi đưa lên Bệnh viện
Một số học sinh cùng lớp ngăn cản cũng bị Thu doạ đâm. Khi thầy giáo phát hiện đưa
nạn nhân đi cấp cứu thì Thảo bị mất quá nhiều máu và tử vong.
16
15 Tham khảo trực tuyến tại: http://laodong.com.vn/Phap-luat/Bat-khan-cap-nhom-bao-ve-danh-2-cong-nhan-
nhap-vien/93847.bld
16 Tham khảo trực tuyến tại: http://dantri.com.vn/su-kien/bat-khan-cap-nu-sinh-lop-10-giet-ban-537438.htm
11
Trường Đại học Luật TPHCM
2. Trường hợp 2: Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm
chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm và xét
thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn.
Từ điều luật cho thấy, trong trường hợp này khi người bị hại, hoặc người có mặt
tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện
tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn thì mới áp dụng biện
pháp bắt người khẩn cấp.
Để bắt người khẩn cấp theo trường hợp này, cần bảo đảm hai điều kiện:
o Thứ nhất, khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông
thấy và xác nhận về người đã thực hiện tội phạm. Người bị hại là người bị thiệt hại về
thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra. Người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm là
người đã trực tiếp chứng kiến sự việc phạm tội đã xảy ra như thế nào. Đây là hai đối
tượng có khả năng cao nhất trong việc nhận dạng người thực hiện hành vi phạm tội.
Do đó, nhằm bảo đảm tính xác thực và giá trị của lời tố giác tội phạm, pháp luật quy
định khi và chỉ khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm xác nhận về
người đã thực hiện tội phạm thì mới có căn cứ để tiến hành việc bắt người.
Ví dụ: Sau khi bị cướp tài sản, người bị hại tình cờ gặp lại tên cướp tại một nơi
nào đó và đã báo cho cơ quan điều tra để bắt.
Đối với hành vi trộm cắp tài sản thì người bị hại sẽ không chính mắt trông thấy
hành vi thực hiện tội phạm nhưng trên thực tế những người có mặt sẽ chính trông thấy
(lén lút với chủ tài sản nhưng có thể công khai với người khác).
Trường hợp người bị hại hoặc người khác đã xác nhận về người thực hiện tội
vụ án ma tuý, Cơ quan điều tra gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc vận dụng
các quy định về bắt người trong trường hợp khẩn cấp. Thiết nghĩ pháp luật cần có quy
định rõ ràng hơn nữa, nhằm tạo điều kiện cho các cơ quan điều tra có thể áp dụng biện
pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp một cách dễ dàng nhằm ngăn ngừa và
phòng chống tội phạm tốt hơn.
Bên cạnh đó, còn một số điểm yếu như sau:
- So với các trường hợp bắt quả tang, tạm giam và truy nã thì bắt khẩn cấp thể
hiện rõ hơn những “dấu hiệu nghi ngờ” tội phạm hay nói cách khác, chứng cứ để xác
định một người đã thực hiện hành vi phạm tội còn mờ nhạt. Việc nghi ngờ này vẫn
mang dấu ấn chủ quan của Cơ quan công an (ví dụ như xuất phát từ giả thiết điều tra
và phán đoán, hoạt động khoanh vùng đối tượng). Do đó, bắt khẩn cấp dễ xảy ra oan
sai. Mặt khác, điểm a, khoản 1 Điều 81 còn nêu: “Khi có căn cứ để cho rằng ” đó là
căn cứ gì? Rõ ràng quy phạm mập mờ này làm cho việc áp dụng pháp luật không đảm
bảo tính khả thi.
- Với dấu hiệu “xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn” quy định tại
điểm b và điểm c, khoản 1 Điều 81 là khe hở cho tình trạng lạm dụng bắt khẩn cấp,
xâm hại đến các quyền của người bị bắt, bị tạm giữ. Căn cứ nào để xác định việc bỏ
trốn? Thực tế trường hợp nào Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát cũng có thể cho là
ngăn chặn người đó bỏ trốn làm căn cứ để bắt khẩn cấp (cũng như bắt tạm giam). Rất
nhiều tội phạm được thực hiện rõ về hậu quả, chứng cứ, bị hại, nơi cư trú tại địa
phương nhưng bị bắt khẩn cấp mà đáng lý họ được tại ngoại để điều tra hoặc chỉ là bắt
bình thường. Trong khi hậu quả của việc lạm dụng bắt khẩn cấp là rất lớn, vì bất cứ lúc
nào người có hành vi có dấu hiệu phạm tội cũng có thể bị bắt, họ không kịp ăn mặc,
chuẩn bị tinh thần v.v ; khoản 3 Điều 81 quy định “không được bắt người vào ban
đêm, trừ trường hợp bắt khẩn cấp quy định tại Điều 81 ”. Về hậu quả tố tụng thì việc
bắt khẩn cấp buộc Viện kiểm sát phải gấp rút xem xét phê chuẩn trong thời hạn 12 giờ,
việc này khó mà đúng thời hạn tố tụng và không hoàn toàn chắc chắn là có căn cứ, hợp
pháp.
17
* Nguyên nhân bất cập trong bắt người:
trường hợp áp dụng quy định một cách tùy tiện, có thể để lại hệ quả là sự hoang mang,
lo lắng cho gia đình, người thân của người bị bắt, có khi họ phải hao tốn công sức và
tiền của để tìm kiếm do việc thông báo là quá muộn.
3. Trường hợp 3: Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của
người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người
đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.
Trường hợp này cần thỏa mãn hai điều kiện sau:
- Tìm thấy dấu vết của của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị tình
nghi là tội phạm:
Người bị nghi thực hiện tội phạm là người mà CQTHTT chưa có đủ tài liệu,
chứng cứ để xác định họ phạm tội nhưng đã phát hiện được những dấu vết của tội
phạm ở người hoặc tại chỗ của người đó và từ những dấu vết này mà người đó bị nghi
đã thực hiện một tội phạm.
Các dấu vết được tìm thấy thường là thông qua sự tố giác của người dân, qua
khám xét chỗ ở, khám người, xem xét dấu vết trên thân thể và thông qua việc kiểm tra
hành chính.
Mặc dù luật không quy định nhưng cũng có thể hiểu ngoài chỗ ở hoặc trên người
của người bị nghi thực hiện tội phạm, thì dấu vết tội phạm còn có thể được phát hiện
tại nơi làm việc, trên các phương tiện vận tải của họ. Khi phát hiện được dấu vết tội
phạm ở những nơi này thì cũng có thể ra lệnh bắt người theo trường hợp bắt khẩn cấp.
- Cần bắt ngay để ngăn chặn việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ:
Điều kiện này đòi hỏi phải có căn cứ cho rằng nếu không bắt ngay, người bị nghi
thực hiện tội phạm nói trên rất có thể sẽ bỏ trốn hoặc sẽ có hành động tiêu hủy chứng
cứ. Các tình tiết được coi là căn cứ để ngăn chặn việc người bị nghi thực hiện tội phạm
14
Trường Đại học Luật TPHCM
không có biểu hiện bỏ trốn nhưng lại có hành động chuẩn bị tiêu hủy chứng cứ hoặc
đang tiêu hủy chứng cứ thì cũng quyết định bắt khẩn cấp ngay.
Chúng ta cùng đi vào một trường hợp cụ thể:
• Với vụ án xác chết không đầu mà hung thủ là Nguyễn Đức Nghĩa cách đây không lâu,
“Căn cứ vào lời khai của đối tượng hoặc bị can trong các vụ án mà lời khai đó được Điều tra
viên đánh giá là tin cậy và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn hoặc tiêu huỷ
chứng cứ” nhằm tháo gỡ khó khăn trong công tác điều ra và nâng cao hiệu quả đấu tranh
phòng, chống tội phạm nói chung, tội phạm ma tuý nói riêng – lĩnh vực mà các đối tượng
phạm tội có nhiều mánh lới, thủ đoạn đối phó với các cơ quan bảo vệ pháp luật.
19
Trong quá trình thực hiện việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp vẫn còn xảy ra oan
hoặc sai nên vẫn còn những trường hợp việc kiểm sát không phê chuẩn. Một trong những
nguyên nhân xảy ra bắt oan hoặc sai là do không hiểu đúng về quy định của pháp luật và vận
dụng không đúng. Chẳng hạn, không hiểu đúng như thế nào là hành vi đang chuẩn bị thực
hiện tội phạm, không đảm bảo đầy đủ các điều kiện bắt trong từng trường hợp quy định tại
Điều 81 BLTTHS đã ra lệnh bắt. Để khắc phục tình trạng này cần phải có hướng dẫn cụ thể
và tăng cường tập huấn nâng cao trình độ pháp luật cho điều tra viên.
20
So với các trường hợp bắt quả tang, tạm giam và truy nã thì bắt khẩn cấp thể hiện
rõ hơn những “dấu hiệu nghi ngờ” tội phạm hay nói cách khác, chứng cứ để xác định
một người đã thực hiện hành vi phạm tội còn mờ nhạt. Việc nghi ngờ này vẫn mang
dấu ấn chủ quan của Cơ quan công an (ví dụ như xuất phát từ giả thiết điều tra và phán
đoán, hoạt động khoanh vùng đối tượng). Do đó, bắt khẩn cấp dễ xảy ra oan sai. Mặt
khác, điểm a, Khoản 1 Điều 81 còn nêu: “Khi có căn cứ để cho rằng…” đó là căn cứ
gì? Rõ ràng quy phạm mập mờ nay làm cho việc áp dụng pháp luật không đảm bảo
tính khả thi. Với dấu hiệu “xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn” quy định
tại điểm b,c, Khoản 1 Điều 81 là khe hở cho tình trạng lạm dụng bắt khẩn cấp, xâm hại
đến các quyền của người bị bắt, bị tạm giữ. Căn cứ nào để xác định việc bỏ trốn? Thực
tế trường hợp nào Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát cũng có thể cho là ngăn chặn
người đó bỏ trốn làm căn cứ để bắt khẩn cấp (cũng như bắt tạm giam). Rất nhiều tội
phạm được thực hiện rõ về hậu quả, chứng cứ, bị hại, nơi cư trú tại địa phương nhưng
bị bắt khẩn cấp mà đáng lý họ được tại ngoại để điều tra hoặc chỉ là bắt bình thường.
Trong khi hậu quả của việc lạm dụng bắt khẩn cấp mà đáng lý họ được tại ngoại để
19 Tham khảo trực tuyến tại: http://tapchikiemsat.org.vn/?mod=viewtopic&parent_id=59&id=874