hoàn thiện kế toán quản trị chi phí ở công ty cổ phần nước khoáng bang quảng bình - Pdf 22

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Chi phí sản xuất kinh doanh là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà
quản lý. Khi tham gia vào kinh doanh, các doanh nghiệp đều mong muốn tối đa hóa lợi
nhuận. Lợi nhuận của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng trực tiếp của những chi phí đã bỏ ra.
Tăng doanh thu và giảm chi phí là con đường duy nhất mà các doanh nghiệp đi đến lợi
nhuận trong môi trường cạnh tranh.
Tuy nhiên, việc tăng doanh thu là điều khó thực hiện vì cần phải tăng sản phẩm tiêu
thụ hay giá bán sản phẩm, hoặc tăng cả hai. Điều này sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như
quan hệ cung cầu của sản phẩm đang kinh doanh, mặt bằng giá cả, tình hình kinh doanh…
do đó các doanh nghiệp sẽ tập trung vào việc quản trị chi phí. Vấn đề của nhà quản lý là
phải nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát sinh chi phí, xây dựng định mức chi phí,
theo dõi quá trình phát sinh chi phí, đo lường và đánh giá sự phù hợp của thực tế với định
mức, từ đó có biện pháp giải quyết hoặc điều chỉnh phù hợp với điều kiện kinh doanh thực
tế. Việc phân tích biến động chi phí là điều mà các nhà quản lý cần thực hiện trong quản lý
chi phí.
Thông qua phân tích biến động chi phí, nhà quản trị xác định nguyên nhân tác động
đến sự tăng giảm chi phí so với tiêu chuẩn đặt ra trước đó. Từ đó đề ra các biện pháp khắc
phục những tồn tại, xây dựng phương án hoạt động mới để tiết kiệm chi phí, tăng lợi
nhuận, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp.
Công ty CP nước khoáng Bang – Quảng Bình là doanh nghiệp sản xuất và kinh
doanh các sản phẩm nước khoáng cũng không tránh khỏi sự cạnh tranh gay gắt từ các đối
thủ trên thị trường như: Thạch Bích, Đảnh thạnh, Lavie, Vĩnh Hão, Thanh Tân(Huế)… Từ
đó đã ảnh hưởng đến thị phần của Công ty ở một số khu vực và ảnh hưởng đến mục tiêu lợi
nhuận mà Công ty cần đạt đến. Vấn đề đang đặt ra cho nhà quản trị Công ty là làm cách
nào để quản lý một cách hiệu quả hoạt động của Công ty và đưa ra những quyết định đúng
đắn, kịp thời trong môi trường kinh doanh này.

Chính vì lý do trên mà tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: “Hoàn thiện kế toán quản trị
chi phí ở Công ty CP nước khoáng Bang – Quảng Bình” làm đề tài luận văn.
2. Tổng quan về đề tài nghiên cứu.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Là những nội dung thuộc kế toán quản trị chi phí trong DN
sản xuất nhằm bảo đảm thông tin cho các yêu cầu quản trị chi phí trong điều kiện cơ chế thị
trường hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu: Công ty nước Khoáng Bang - Quảng Bình, bao gồm các bộ
phận tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh ở Công ty.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, đảm bảo tính hệ thống
trong quá trình nghiên cứu.
Đề tài sử dụng các phương pháp như: tổng hợp, phân tích, so sánh….để nghiên cứu,
trình bày lý luận và thực tiễn một cách phù hợp, logic, rút ra những điểm còn tồn tại, từ đó
đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí ở Công ty CP nước khoáng
Bang – Quảng Bình.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí ở Công ty CP nước khoáng Bang -
Quảng Bình.
Chương 3: Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí ở Công ty CP nước khoáng Bang -
Quảng Bình

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU BẢNG 2.1 KẾ HOẠCH TIÊU THỤ NĂM 2010 45
BẢNG 2.2 KẾ HOẠCH SẢN XUẤT NĂM 2010 46
BẢNG 2.3 GIẤY ĐỀ NGHỊ CẤP VẬT TƯ 48
BẢNG 2.5 PHIẾU XUẤT KHO 49
BẢNG 2.5 SỔ CHI TIẾT TÀI KHOẢN 621 50
BẢNG 2.6 BIÊN BẢN THANH TOÁN LƯƠNG 53

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
TÊN SƠ ĐỒ TRANG

Sơ đồ 2.1 CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT NƯỚC KHOÁNG
Sơ đồ 2.2 BỘ MÁY QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY CP
NƯỚC KHOÁNG BANG - QB
Sơ đồ 2.3 BỘ MÁY KẾ TOÁN CÔNG TY
Sơ đồ 2.4 HÌNH THỨC SỔ: ‘NHẬT KÝ CHUNG”

35

37
39
41 PHỤ LỤC 02 BẢNG ĐỊNH MỨC TIÊU HAO NVL NĂM 2010
Tính cho 1.000SP (chai, bình)

NK mặn NK PET

Tên NVL
Đ
VT
0,
37Lít
0,
46
L
ít
0
,5L
1
,5L
N
K ngọt

0
,33L
N
K ngọt
0,46L
N

4 3
,2
4
,43.Nắp chai
C
ái
1.
010
1.
010 1
010
1
0104.Nhản NK
C
ái
1.
005
1.

0,
12
0
,36

0
,1
0
,12

4,8

7.Keo dán
nhãn
K
g
0,
38
0,
38 0
,25
0
,258.Xút rắn
K


10.Mực in
M
L
1,
2
1,
2
1
,2
1
,2
1
,2
1
,2

1,2

11.Dầu FO
K
g
8

8

1

2



1
1,9
1
6,614.Hương 7up

M
L
2
51
3
5015.Axit Citric
K
1

1

g ,4

g
5,
5

5
,519.Nắpbình
20L
K
g 60

20. Nắp chai
C
ái

1
005
1
005
20

24.Van b20l
C
ái 50

25.Màng co
B20l
C
ái 10
17

26.Thùng giấy
29.Băng dán
C
uộn

0
,4
0
,8
30.Nút kim
K
g 10
50

31.Tem b
ảo
hiểm
C
ái



30
0.000

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BHTN
BHXH
BHYT
CCDC
CP
DN
ĐM
KPCĐ
KTQT
KTTC
L
M
N
NCTT
NK
NVL
SP
SXC
TSCĐ
TT
P
QB

Bảo hiểm thất nghiệp

Theo Ronald W. Hilton, giáo sư Đại học Cornell (Mỹ): “Kế toán quản trị là
một bộ phận của hệ thống thông tin quản trị trong một tổ chức mà nhà quản trị dựa
vào đó để hoạch định và kiểm soát hoạt động của tổ chức”.
Theo hiệp hội kế toán Hoa Kỳ năm 1982: “Kế toán quản trị là quá trình nhận
diện, đo lường, tổng hợp, phân tích, lập báo cáo, giải thích và truyền đạt thông tin
tài chính và phi tài chính cho các nhà quản trị công ty hoạch định, đánh giá và điều
hành hoạt động kinh doanh trong phạm vi nội bộ công ty, nhằm sử dụng có hiệu quả
các tài sản và quản lý chặt chẽ các tài sản đó”.
Trong cuốn “The Macmillan dictionary of accounting”(1992) định nghĩa: “Kế
toán quản trị là phần kế toán liên quan chủ yếu đến công việc báo cáo nội bộ cho
các nhà quản lý của một tổ chức. Nó nhấn mạnh đến việc quản lý và ra quyết định
hơn là khía cạnh kế toán. Nó không phụ thuộc vào pháp luật và các chuẩn mực kế
toán”.
Trong cuốn “Managerial accounting” (1994) của tác giả RayH.Garrison: “Kế
toán quản trị liên quan đến việc cung cấp thông tin cho các nhà quản lý bên trong tổ
chức, những người quản lý và điều hành hoạt động của tổ chức. Kế toán quản trị có
thể tương phản với kế toán tài chính - liên quan đến việc cung cấp thông tin cho cổ
đông, chủ nợ và những người khác bên ngoài tổ chức”.
KTQT là thuật ngữ mới xuất hiện ở Việt Nam trong vòng 15 năm trở lại đây
và đã thu hút được sự chú ý của các doanh nghiệp. Tại Việt Nam, một số doanh
nghiệp đã bước đầu vận dụng và xây dựng bộ phận kế toán quản trị riêng biệt. Đánh
dấu cho sự mở đầu này khi Luật Kế toán Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hoà
XHXN Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 17/6/2003 có hiệu lực kể từ
ngày 01/01/2004 đã quy định về KTQT ở các đơn vị như sau: KTQT là việc thu
12 thập, xử lý và cung cấp thông tin tài chính theo yêu cầu và quyết định kế toán trong
nội bộ đơn vị kế toán (Luật Kế toán Việt Nam - điều 3, khoản 4). Tuy nhiên, việc
này chỉ được dừng lại ở góc độ nhìn nhận và xem xét, chưa có một quyết định cụ

quá khứ được xử lý từ các tài liệu lịch sử, thông qua việc lập các báo cáo chi phí và
giá thành nhằm kiểm soát chi phí và hạ giá thành, thì thông tin KTQT chi phí cung
cấp bao gồm cả những thông tin quá khứ, và những thông tin dự báo thông qua việc
lập các kế hoạch và dự toán chi phí trên cơ sở các định mức chi phí (bao gồm cả các
định mức về số lượng và định mức về đơn giá) nhằm kiểm soát chi phí thực tế,
đồng thời làm căn cứ cho việc lựa chọn các quyết định về giá bán sản phẩm, quyết
định ký kết các hợp đồng, quyết định tiếp tục sản xuất hay thuê ngoài gia công,…
Như vậy, KTQT chi phí nhấn mạnh đến tính dự báo của thông tin và trách
nhiệm của các nhà quản lý thuộc các cấp quản lý (trong đó tập trung vào cấp quản
trị cấp thấp như các tổ, đội, phân xưởng sản xuất hay bộ phận quản lý và phục vụ- là
nơi trực tiếp phát sinh các chi phí) nhằm gắn trách nhiệm của các nhà quản trị với
chi phí phát sinh thông qua hình thức thông tin chi phí được cung cấp theo các trung
tâm chi phí (nguồn gây ra chi phí).
Khi có sự biến động chi phí, trách nhiệm giải thích về những biến động bất
lợi thuộc bộ phận nào thì KTQT chi phí phải theo dõi và báo cáo rõ ràng phục vụ
cho quá trình kiểm soát, điều chỉnh của nhà quản lý.
Có thể nói KTQT chi phí là bộ phận KTQT chuyên thực hiện việc xử lý và
cung cấp các thông tin về chi phí nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng
của nhà quản trị như hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm tra và ra quyết định.
1.1.2.2. Vai trò của KTQT chi phí
KTQT chi phí là một bộ phận của hệ thống kế toán nhằm cung cấp thông tin
về chi phí để giúp nhà quản lý thực hiện các chức năng quản trị DN.
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải lập cả kế
hoạch ngắn hạn và dài hạn. Từ kế hoạch chung của doanh nghiệp các bộ phận triển
khai thành kế hoạch riêng của bộ phận. Để thực hiện vai trò của mình, KTQT chi
phí tiến hành lập dự toán chi phí để trợ giúp các nhà quản trị doanh nghiệp thực
hiện chức năng lập kế hoạch. Trong quá trình thực hiện các mục tiêu mà kế hoạch
đã đề ra, KTQT chi phí đã cung cấp thông tin cho việc quản lý đến từng công việc
14



+ Chi phí NVL chính là chi phí của những loại nguyên vật liệu cấu thành nên
thực thể của sản phẩm., có giá trị lớn và có thể xác định được một cách tách biệt, rõ
ràng, cụ thể cho từng sản phẩm.
+ Chi phí NVL phụ là những nguyên vật liệu có tham gia vào việc cấu thành
thực thể sản phẩm nhưng có giá trị nhỏ và không thể xác định cụ thể, rõ ràng.
+ Các loại nhiên liệu như than, củi, điện,…dùng cung cấp nhiệt lượng trong
quá trình sản xuất sản phẩm.
- Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm tiền lương, phụ cấp lương, và các
khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất. Chi phí này có thể nhận
diện cho từng sản phẩm dựa trên định mức hao phí lao động cho từng sản phẩm nên
cũng được tính thẳng cho từng sản phẩm.
- Chi phí sản xuất chung: là những chi phí cần thiết khác để sản xuất sản
phẩm ngoài hai loại chi phí trên. Chi phí sản xuất chung chủ yếu bao gồm 3 loại chi
phí là chi phí nguyên vật liệu gián tiếp, chi phí lao động gián tiếp và các khoản chi
phí khác. Chi phí nhân công gián tiếp là tiền lương, phụ cấp lương và các khoản
trích theo lương của quản đốc phân xưởng, nhân viên bảo trì….; Chi phí vật liệu
gián tiếp gồm chi phí các loại vật liệu, nhiên liệu cần thiết để hoạt động sản xuất
được trôi chảy. Chi phí khác như chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí điện, nước, chi
phí bảo biểm…
* Chi phí ngoài sản xuất:
Để tổ chức và thực hiện việc tiêu thụ sản phẩm, DN còn phải thực hiện một số
khoản chi phí ở khâu ngoài sản xuất được gọi là chi phí ngoài sản xuất, bao gồm hai
khoản mục: chi phí bán hàng và chi phí quản lý DN.
Chi phí bán hàng bao gồm toàn bộ những chi phí cần thiết để đẩy mạnh quá
trình lưu thông hàng hóa và đảm bảo việc đưa hàng hóa đến tay người tiêu dùng.
Bao gồm các khoản chi phí như: chi phí bốc dỡ, đóng gói sản phẩm, lương nhân
viên bán hàng, tiền hoa hồng bán hàng, khuyến mãi, quảng cáo, tiếp thị…
Chi phí quản lý DN gồm những khoản chi phí liên quan tới việc tổ chức hành
chính và các hoạt động văn phòng làm việc của DN như lương, phụ cấp lương, các

động.
17 Biến phí bào gồm các khoản chi như: Chi phí NVL trực tiếp, chi phí lao
động trực tiếp,….
Xét về mặt tác động thì biến phí chia làm 2 loại: biến phí tỷ lệ và biến phí
cấp bậc.
Biến phí tỷ lệ là những khoản chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận trực tiếp với
biến động của mức độ hoạt động căn cứ. Biến phí tỷ lệ bao gồm chi phí NVL trực
tiếp, chi phí nhân công trực tiếp.
Biến phí cấp bậc là những khoản chi phí thay đổi khi mức độ hoạt động thay
đổi nhiều và rõ ràng. Biến phí này không thay đổi khi mức độ hoạt động căn cứ thay
đổi ít. Nói cách khác biến phí cấp bậc cũng có quan hệ tỷ lệ nhưng không tuyến tính
với mức độ hoạt động thay đổi cho phép chi phí thay đổi để tương ứng với mức
hoạt động mới. Chi phí cấp bậc gồm những khoản chi phí như chi phí lao động gián
tiếp, lao động bảo trì… Chiến lược của nhà quản trị trong việc ứng phó với biến phí
cấp bậc là phải nắm được toàn bộ khả năng cung ứng của từng bậc để tránh khuynh
hướng huy động quá nhiều so với nhu cầu, vì điều này sẽ gây khó khăn khi nhu cầu
sau đó lại gảm đi.
- Định phí: Định phí là những chi phí không thay đổi về tổng số trong một
thời gian nhất định khi có sự thay đổi của số lượng sản phẩm tạo ra, nhưng nếu xét
trên một đơn vị sản phẩm thì tỷ lệ nghịch với sản lượng, khi mức sản lượng tăng thì
định phí tính cho một đơn vị sản lượng giảm và ngược lại. Định phí trong các DN
sản xuất gồm: chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí bảo dưỡng, chi phí công cụ dụng
cụ…
Có hai loại định phí: định phí bắt buộc và định phí có thể thay đổi.
+ Định phí bắt buộc: định phí bắt buộc là loại chi phí có bản chất lâu dài dù
mức độ hoạt động có bị giảm hay đình đốn ở một kỳ nào đó, định phí bắt buộc vẫn
giữ nguyên không đổi, ví dụ như: khấu hao TSCĐ, chi phí bảo hiểm tài sản, …

thường thuộc hai dạng: các khoản chi phí phát sinh ở ngoài phạm vi quản lý của bộ
phận hoặc các chi phí phát sinh thuộc phạm vi hoạt động của bộ phận nhưng thuộc
quyển chi phối và kiểm soát từ cấp quản lý cao hơn.
19 - Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
Theo phương pháp phân phối chi phí cho một đối tượng chịu chi phí, các chi
phí được phân loại thành chi phí trực tiếp (direct costs) và chi phí gián tiếp (indirect
costs).
Chi phí trực tiếp của một đối tượng tập hợp chi phí là khoản chi phí mà có
thể tính thẳng và tính toàn bộ cho đối tượng chịu chi phí. Chi phí trực tiếp gắn liền
với đối tượng tập hợp chi phí, phát sinh, tồn tại, phát triển và mất đii cùng với sự
phát sinh, tồn tại, phát triển và mất đi của đối tượng tập hợp chi phí.
Chi phí gián tiếp của một đối tượng tập hợp chi phí là những khoản chi phí
mà không thể tính thẳng toàn bộ cho đối tượng đó là phải thực hiện phân bổ. Chi
phí gián tiếp là những khoản chi phí gắn liền với các hoạt động phục vụ, hỗ trợ cho
sự phát sinh, tồn tại và phát triển của nhiều đối tượng tập hợp chi phí do đó không
thể tính toàn bộ cho bất kỳ đối tượng tập hợp chi phí cá biệt nào.
- Chi phí tránh được và chi phí không tránh được
Một sự phân loại chi phí phụ thuộc vào điều kiện DN có thể tránh được các
khoản chi phí bằng cách loại bỏ hoặc cắt giảm một số hoạt động hay không. Số tiền
mà theo đó có thể giảm được là chi phí tránh được, số tiền mà không thể tránh được
là chi phí không thể tránh được. Như vậy, khái niệm có thể tránh được và không thể
tránh được chỉ áp dụng khi quyết định các phương án đã có sẵn.
- Chi phí lặn (sunk cost)
Là khoản chi phí bỏ ra trong quá khứ và sẽ biểu hiện ở tất cả mọi phương án
với giá trị như nhau. Khoản chi phí không thể tránh được cho dù người quản lý
quyết định lựa chọn thực hiện theo phương án nào. Chi phí này không thích hợp cho
nhà quản lý khi ra quyết định.

1.3.1.1. Dự toán chi phí NVL trực tiếp
Dự toán chi phí NLV trực tiếp bao gồm:
- Dự toán khối lượng NVL trực tiếp cần cho sản xuất sản phẩm trong kỳ kế
hoạch.
- Dự toán khối lượng vật liệu cần mua vào trong kỳ và giá trị vật liệu mua
vào trong kỳ kế hoạch.
21 Việc lập dự toán khối lượng nguyên vật liệu cần trực tiếp cho sản xuất sản
phẩm trong kỳ kế hoạch dựa vào nhu cầu sản phẩm sản xuất trong kỳ theo dự toán
sản lượng sản phẩm sản xuất và định mức lượng NVL tiêu hao cho một đơn vị sản
phẩm để tính:
Khối lượng NVL Khối lượng sản Định mức lượng
trực tiếp cần cho = phẩm cần sản + NVL tiêu hao Công thức (1.1)
sản xuất trong kỳ xuất trong kỳ cho 1 đơn vị
kế hoạch kế hoạch sản phẩm
Từ dự toán NVL trực tiếp cần cho sản xuất nó sẽ chi phối tới việc dự kiến
lượng NVL cần mua vào trong kỳ để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất. Dự toán NVL
mua vào trong kỳ không chỉ để đáp ứng nhu cầu sản xuất trong kỳ mà còn để dự trữ
cho một phần nhu cầu sản xuất kỳ sau, đồng thời lượng NVL mua vào trong kỳ kế
hoạch cũng đã được đáp ứng một phần do tồn kho cuối kỳ trước chuyển sang.
Lượng NVL
cần mua vào
trong kỳ kế
hoạch
=

Lượng NVL trực
tiếp cần cho nhu

1.3.1.2. Dự toán chi phí nhân công trực tiếp
Dự toán chi phí nhân công trực tiếp là dự kiến tổng số giờ công trực tiếp cần
để sản xuất trong kỳ kế hoạch và tổng chi phí nhân công trực tiếp của nó.
Dự toán chi phí nhân công trực tiếp nhằm giúp cho DN có kế hoạch và chủ
động trong việc huy động và sử dụng lao động trực tiếp từng kỳ, tránh tình trạng
thiếu hoặc thừa lao động xảy ra, để sử dụng lao động có hiệu quả nhất.
Khi lập dự toán chi phí nhân công trực tiếp dựa vào khối lượng sản phẩm cần
sản xuất theo dự toán sản lượng sản xuất và định mức thời gian sản xuất của một
đơn vị sản phẩm để tính tổng thời gian lao động trực tiếp cần thiết cho kỳ kế hoạch.
Sau đó dựa vào định mức đơn giá của 1 giờ công lao động trực tiếp để tính dự toán
tổng chi phí nhân công trực tiếp.
Dự toán tổng thời Khối lượng sản Định mức thời gian
gian lao động trực = phẩm cần sản x sản xuất trực tiếp Công thức (1.4)
tiếp cần cho kỳ xuất trong kỳ cho một đơn vị
kế hoạch kế hoạch sản phẩm

Dự toán tổng Tổng thời gian Định mức đơn
chi phí lao động = lao động trực x giá của một giờ Công thức (1.5)
trực tiếp của tiếp cần thiết cho công lao động
kỳ kế hoạch kỳ kế hoạch trực tiếp
Tuy nhiên nếu DN sản xuất nhiều loại sản phẩm thì dự toán sẽ được xây
dựng cho từng loại sản phẩm, sau đó tổng cộng thành dự toán tổng thể toàn DN.
1.3.1.3. Dự toán chi phí SXC
Chi phí sản xuất chung thông thường bao gồm nhiều khoản mục và nhiều
yếu tố chi phí cấu thành. Mặc dù vậy, khi lập dự toán chi phí SXC thường không
lập dự toán chi tiết cho từng khoản mục chi phí cấu thành, mà lập dự toán theo định
phí và biến phí chi phí SXC.
23 Dự toán chi phí bán hàng phản ánh các chi phí liên quan đến việc tiêu thụ sản
phẩm dự tính của kỳ sau. Dự toán này nhằm mục đích tính trước và tập hợp các
phương tiện chủ yếu trong quá trình bán hàng. Khi xây dựng dự toán cho các chi
phí này cần tính đến nội dung kinh tế của chi phí cũng như yếu tố biến đổi và yếu tố
cố định trong thành phần chi phí.
Dự toán chi = Dự toán biến + Dự toán định Công thức (1.8)
phí BH phí BH phí BH
Yếu tố định phí thường ít biến đổi trong một phạm vi phù hợp gắn với các
quyết định dài hạn, và có thể dự báo một cách dễ dàng dựa vào chức năng kinh
doanh của DN. Các chi phí cũng có thể thay đổi trong trường hợp phát triển thêm
mạng phân phối mới, dịch vụ mới sau bán hàng….
Dự toán Định phí bán Tỷ lệ tăng
định phí = hàng thực tế x (giảm) theo Công thức (1.9)
bán hàng kỳ trước dự kiến
Biến phí bán hàng của DN có thể là biến phí trực tiếp như hoa hồng, lương
nhân viên bán hàng…. Biến phí gián tiếp là những chi phí liên quan đến từng bộ
phận bán hàng như chi phí bảo trì, xăng dầu, hỗ trợ bán hàng… và thường được dự
toán trên cơ sở số lượng bán hàng dự toán hoặc xác định một tỷ lệ biến phí bán
hàng theo thống kê kinh nghiệm nhiều kỳ.
Dự toán Dự toán Sản lượng
biến phí = biến phí đơn vị x tiêu thụ Công thức (1.10)
bán hàng bán hàng theo dự toán

1.3.1.5. Dự toán chi phí QLDN
Chi phí QLDN là chi phí phát sinh trong phạm vi toàn bộ DN, thường không
liên quan trực tiếp đến bộ phận hoạt động nào. Do vậy việc lập dự toán biến phí
quản lý DN thường sử dụng số liệu của các năm trước để lập dự toán. Còn dự toán
định phí quản lý DN lập tương tự như định phí SXC, được tính qua công thức (1.11)

Toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất, toàn doanh nghiệp…

Trích đoạn Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành Công tác kiểm soát chi phí sản xuất kinh doan hở Công ty Kiểm soát chi phí NCTT Hoàn thiện việc xác định giá thành sản phẩm Báo cáo tình hình chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status