bài tập luật hình sự tội trộm cắp tài sản - Pdf 22

Bài tập luật hình sự tội trộm cắp tài sản
Đề bài:
K và D cùng là những người mới chấp hành xong bản án 3 năm tù về tội cướp giật
tài sản trở về địa phương được 5 tháng nhưng không chịu lao động và cùng là hang
xóm của M. Khi đi qua nhà M, thấy chiếc xe máy để bên hè còn cả chìa khóa xe
nên chúng đã nảy sinh ý định chiếm đoạt (lúc này cả nhà M đi vắng). K đứng ngoài
ngõ canh gác, còn D vào nhà M lấy xe. Khi D dắt chiếc xe máy ra đến giữa sân thì
bất ngờ bà N (vợ ông M) về nhà, bà N hỏi D: “Sao chú lại lấy xe máy của nhà
tôi?”. D nói: “Tôi đã nói với ông M là cho tôi mượn đi có tí việc”. Bà N tưởng thật
nên đã để D dắt xe ra ngõ. Lúc này ông M đi chơi về gặp D đang chuẩn bị nổ máy
đã giữ xe lại, D xuống xe và nói: “Bà N vừa cho tôi mượn”. Ông M gọi bà N để
hỏi xem có đúng là bà N cho D mượn không, thì bất ngờ D dùng tay phải đẩy ông
M ngã đập đầu vào cạnh tường rào, đồng thời chiếc xe máy đổ theo đè lên chân
phải của ông M và D bỏ chạy về phía cuối làng. Còn K trước đó đứng chờ ở phía
đầu ngõ, sau khi ra hiệu cho D biết là có ông M đang về và đã bỏ chạy khi thấy
ông M giữ xe máy cùng với D. Ba ngày sau K và D bị bắt.
Trị giá chiếc xe máy 25 triệu đồng. Kết quả giám định thương tích cùng đầu ông M
tỷ lệ 32%, thương tích ở chân phải 5%. Tổng tỷ lệ thương tích là 37%.
a/ Hãy định tội danh cho hành vi phạm tội của D và K, phân tích rõ cơ sở lý luận
cho việc định tội?
b/ Theo dữ kiện bài tập đã nêu có xảy ra vụ đồng phạm không?
c/ Xác định những tình tiết tăng nặng có trong bài tập.
d/ Hình phạt cao nhất có thể áp dụng đối với D và K là là bao nhiêu năm tù?
Bài làm
Vấn đề 1: Hãy định tội danh cho hành vi phạm tội của D và K, phân tích cơ sở
pháp lý?
Theo dữ liệu của đề bài đưa ra ta nhận định:
- D phạm vào tội trộm cắp tài sản và cố ý gây thương tích.
- K phạm vào tội trộm cắp tài sản.
* Đối với tội trộm cắp tài sản:
- Trước hết tội trộm cắp tài sản của D và K là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản

làm căn cứ tham gia vào việc định một tội khác. Như vậy ở đây, D ngoài phạm tội
trộm cắp còn phạm tội cố ý gây thương tích.
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi
cố ý gây tổn hại cho sức khỏe của nguời khác dưới dạng thương tích hoặc gây tổn
thương khác.
Để kết luận về việc D phạm thêm tội cố ý gây thương tích này chúng ta phụ thuộc
vào các dấu hiệu sau:
- Về mặt khách quan:
+ Hành vi khách quan: đó là những hành vi có khả năng gây thương tích hoặc gây
tổn thương khác làm tổn hại đến sức khỏe của con người . Ở đây D đã có hành
động “Bất ngờ D dùng tay phải đẩy ông M ngã đập đầu vào cạnh tường rào, đồng
thời chiếc xe máy đổ theo đè lên chân phải của ông M “. Hành động đó đã thỏa
mãn là hành vi xô đẩy và dùng chiếc xe máy để ngăn cản nhằm mục đích tẩu thoát.
Tức là thông qua công cụ phương tiện để ngăn cản việc cản trở của ông M.
+ Hậu quả của tội phạm:
D đã đẩy ông M vào cạnh tường rào và kết quả giám định thương tích vùng đầu
ông M với tỷ lệ 32% đồng thời cùng với hành động chiếc xe máy đổ đè lên chân
phải của ông M gây lên thương tích ở chân là 5 %. Tổng tỷ lệ thương tích là 37% .
Như vậy với tỷ lệ thương tích là 37% hậu quả thương tích này do chính D gây ra.
Quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả thương tích đó là dấu hiệu bắt buộc của
cấu thành tội phạm.
- Về mặt chủ quan: Lỗi của D là lỗi cố ý ,ở đây D đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý
trực tiếp, D mong hoặc có thể là chấp nhận hậu quả thương tích đó xảy ra.
- Về mặt chủ thể: D là người có năng lực trách nhiệm hình sự và chắc chắn là đủ
độ tuổi luật định vì họ mới bị xử lý về tội cướp giât tài sản.
Như vậy dựa vào những căn cứ pháp lý trên chúng ta có thể kết luận rằng : D phạm
tội trộm cắp tài sản và tội cố ý gây thương tích; còn K phạm tội trộm cắp tài sản.
Vấn đề 2: Theo các dữ kiện bài tập đã nêu có xảy ra vụ đồng phạm không?
Với những tình tiết cụ thể trong tình huống này có thể khẳng định K và D có đồng
phạm với nhau.

phải lo lắng gì, nếu có người đến hoặc bị phát hiện thì đã có K ở ngoài báo hiệu
cho D biết.
Tuy nhiên, D và K chỉ đồng phạm thực hiện tội trộm cắp tài sản. Trong vụ việc
này, D đã có hành vi vượt quá và hành vi này đã cấu thành một tội độc lập khác:
khi ông M gặp D đang chuẩn bị nổ máy đi đã giữ xe lại, D xuống xe và nói: “bà N
cho tôi mượn”. Ông M gọi bà N xem có đúng bà N cho D mượn không thì bất ngờ
D dùng tay phải đẩy ông M ngã đập đầu vào cạnh tường rào đồng thời chiếc xe
máy đổ theo đè lên chân phải ông M và D bỏ chạy về phía cuối làng. Theo giám
định, tổng thương tích mà D gây ra cho ông M là 37%. Hành vi của D đã cấu thành
tội cố ý gây thương tích. Đây là hành vi vượt ra ngoài ý định chung ban đầu của K
và D bởi vì mục đích ban đầu của họ chỉ là chiếm đoạt được chiếc xe và K sau khi
ra hiệu cho D biết có ông M đang về và đã bỏ chạy khi thấy ông M giữ xe máy
cùng với D. Việc D gây ra thương tích cho ông M, K hoàn toàn không biết vì lúc
ấy K đã bỏ chạy đi rồi. K và D không cùng nhau thực hiện tội cố ý gây thương tích
cho ông M mà chỉ riêng D thực hiện nên K không đồng phạm cùng D trong tội
này.
2/. Dấu hiệu về mặt chủ quan.
Trong vụ đồng phạm đòi hỏi những người cùng thực hiện tội phạm đều có lỗi cố ý.
Khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mỗi người đồng phạm không chỉ cố ý
với hành vi của mình mà còn biết và mong muốn sự cố ý tham gia của những
người đồng phạm khác.
- Về mặt lí trí: mỗi người đều biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và
đều biết người khác cũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội cùng với mình. K và D
là những người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ nên hoàn toàn có thể nhận
thức được rằng hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi trái pháp luật.
Hơn nữa, cả 2 vừa chấp hành xong bản án về tội cướp giật tài sản, đã được giáo
dục cải tạo thì càng hiểu rõ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội
mà cả 2 đang cùng nhau thực hiện. Vì K và D cùng nhau thực hiện việc lừa đảo
chiếm đoạt tài sản của M, tức là mỗi người đều biết người còn lại cũng có hành vi
nguy hiểm cho xã hội cùng với mình. K và D cũng thấy trước được hậu quả từ

nghiêm trọng do vô ý”.
Theo như dữ kiện bài đưa ra thì K và D cùng là người mới chấp hành xong bản án
3 năm tù về tội cướp giật tài sản trở về địa phương được 5 tháng thì lại phạm tội
mới. Như vậy cả D và K đều chưa đủ điều kiện để được xóa án tích theo như quy
định tại Điều 64 BLHS (Đương nhiên được xóa án tích). Dựa vào Điều 64, thì một
người bị kết án được xóa án tích chỉ khi thỏa mãn hai điều kiện: qua một thời gian
nhất định kể từ ngày chấp hành xong bản án và trong khoảng thời gian đó, người
này không phạm tội mới. Đối với trường hợp của D, K thì để có thể được xóa án
tích cho tội cướp giật tài sản mà trước đó họ đã chịu án thì phải mất 3 năm kể từ
khi họ ra tù. Tuy nhiên, nhưng mới được 5 tháng sau khi ra tù, do không chịu lao
động nên D, K lại phạm tội mới. Và tội phạm D, K cùng thực hiện đều xuất phát từ
lỗi cố ý. Như vậy, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” sẽ được áp
dụng cho cả D và K.
* Hành động xảo quyệt nhằm che dấu tội phạm:
Theo giải thích trong từ điển Việt - Việt thì “Xảo quyệt” có nghĩa là dối trá, lừa lọc
một cách khó lường, khéo léo để lừa đảo.
Sở dĩ, trong tình huống này ta áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là
“hành động xảo quyệt” (theo điểm o Khoản 1 Điều 48) chứ không áp dụng tình tiết
“thủ đoạn xảo quyệt” (theo điểm m Khoản 1 Điều 48) bởi vì hai thuật ngữ “hành
động” và “thủ đoạn” ở đây khác nhau về mức độ. Thủ đoạn thì có mức độ nguy
hiểm cao hơn so với hành động. Thủ đoạn thì có tính liên tục suốt toàn bộ quá trình
phạm tội, còn hành động chỉ có tính tạm thời và kết thúc ngay. Nhận thấy hành vi
lừa dối của D chỉ có mục đích là lừa dối ông bà M, N để có thể che dấu cho hành
vi trộm cắp của mình và hành vi lừa dối đó chỉ được thực hiện sau khi D gặp ông
bà M, N. Mà liền trước đó hành vi chiếm đoạt tài sản của D là hành vi lén lút
chiếm đoạt.
Như vậy, theo như các tình tiết bài đưa ra, thì D đã có hành vi lừa dối ông bà M, N
và đã làm cho bà N tin vào lời lừa dối của D. Hơn thế nữa, ta nhận thấy thái độ của
D khá là bình tĩnh khi lừa dối ông bà M, N.
Vấn đề 4: Hình phạt cao nhất có thể áp dụng đối với D và K là bao nhiêu năm tù?


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status