Một số vấn đề cần trao đổi về thời hiệu yêu cầu
giải quyết vụ việc dân sự.
Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004,
trong đó có thời hiệu yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự là một cơ hội tốt
để đánh giá, xem xét lại quan niệm và thực trạng pháp luật của chúng
ta về một chế định đặc biệt quan trọng và “nhạy cảm”, liên quan đến sự
công nhận và bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể trong xã hội (chủ thể
dân sự). Trên cơ sở đó có những nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung cơ bản:[1]
I. QUAN NIỆM VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ
THỜI HIỆU YÊU CẦU GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ
Ở Việt Nam, thời hiệu yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự (bao gồm thời hiệu
khởi kiện vụ án dân sự và thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự) là một
chế định được quy định ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau, bao gồm cả
văn bản pháp luật chuyên ngành[2] và văn bản pháp luật tố tụng.[3] Qua các
quy định hiện hành, thời hiệu yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự được tiếp
cận với hai vai trò cơ bản: (1) nó là thời hạn luật định cho phép các chủ thể
dân sự thực hiện quyền yêu cầu tại Tòa án để công nhận hoặc bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp về dân sự bị xâm phạm.[4] Ở vai trò này, thời hiệu yêu
cầu giải quyết vụ việc dân sự là một chế định của pháp luật dân sự và được
quy định ở nhiều văn bản pháp luật chuyên ngành khác nhau mà nòng cốt là
Bộ luật dân sự;[5] (2) nó là căn cứ pháp lý để Tòa án từ chối hay không từ
chối giải quyết vụ việc dân sự. Ở vai trò này, thời hiệu yêu cầu giải quyết vụ
1
việc dân sự được hiểu là thời hiệu thụ lý và là một chế định trong pháp luật
tố tụng dân sự.[6]
Việc quan niệm thời hiệu yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự có hai vai trò
nêu trên đã bộc lộ những vướng mắc về mặt lý luận và thực tiễn sau:[7]
- Thứ nhất, việc quy định thời hiệu còn mang nặng mục đích tạo căn cứ
pháp lý cho Tòa án từ chối giải quyết vụ việc dân sự khi có yêu cầu của chủ
thể dân sự, biến thời hiệu yêu cầu thành thời hiệu thụ lý trong thực tiễn tố
tụng. Đây là một mâu thuẫn lớn đối với thể chế pháp lý cho nền kinh tế thị
nhiệm vụ cơ bản là công nhận địa vị pháp lý, quyền, nghĩa vụ của các chủ
thể trong xã hội về nhân thân và tài sản trong các quan hệ tư; đồng thời quy
định các chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các chủ thể dân sự. Trong
trường hợp, việc ứng xử của một chủ thể xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp
pháp của các chủ thể dân sự khác, thì chủ thể bị xâm phạm có thể bảo vệ
quyền dân sự của mình bằng nhiều phương thức khác nhau. Họ có quyền tự
bảo vệ hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền (trong đó có quyền yêu
cầu Tòa án) công nhận quyền dân sự của mình; buộc chủ thể xâm phạm
quyền chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai, thực hiện
nghĩa vụ dân sự hoặc bồi thường thiệt hại.
3
Như vậy, khi chủ thể dân sự yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự không
phải họ thực hiện một quyền trong tố tụng mà là thực hiện một quyền dân sự
cơ bản được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tòa án có trách nhiệm đảm bảo
được lẽ công bằng trong ứng xử và trong bảo vệ quyền của chủ thể dân sự
khi quyền, lợi ích của họ bị xâm phạm.
Tuy nhiên, pháp luật không thừa nhận quyền này của chủ thể là vô hạn định,
việc thực hiện quyền phải nằm trong thời hạn pháp luật quy định[8]– Thời
hiệu yêu cầu. Trong trường hợp hết thời hạn luật định, chủ thể không thực
hiện quyền thì mất quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ cho
mình. Mục đích của việc quy định thời hiệu yêu cầu không phải để xác định
thời hiệu thụ lý đơn, mà không có gì khác nhằm nâng cao trách nhiệm của
chủ thể dân sự trong việc bảo vệ quyền, lợi ích của mình, hạn chế phức tạp
trong giải quyết tranh chấp và bảo đảm sự ổn định của các quan hệ dân sự.
Xuất phát từ bản chất pháp lý nêu trên, nhiều nước trên thế giới đã ghi nhận
quyền yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự và thời hiệu yêu cầu giải
quyết việc dân sự là một nội dung trong quan hệ pháp luật dân sự, được pháp
luật dân sự điều chỉnh. Các nước theo hệ thống pháp luật thành văn (Cộng
hòa nhân dân Trung Hoa, Liên bang Nga, Đức, Nhật…)[9]đều quy định thời
hiệu yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự trong pháp luật về nội dung (Cộng
1 Điều 192), Bộ luật dân sự năm 2005, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 và
các văn bản pháp luật chuyên ngành khác chưa thừa nhận nguyên tắc miễn
5
trừ nghĩa vụ cho bên có nghĩa vụ khi hết thời hiệu yêu cầu. Bộ luật dân sự
năm 2005 quy định thời hiệu khởi kiện và thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ như là
hai loại thời hiệu độc lập (Điều 155), trong khi về bản chất việc miễn trừ
nghĩa vụ dân sự phải là hậu quả của việc hết thời hiệu mà chủ thể không yêu
cầu.
Việc không thừa nhận nguyên tắc miễn trừ nghĩa vụ trong trường hợp này,
dường như là sự “vô cảm” của Nhà nước, khi Tòa án từ chối giải quyết vụ
việc dân sự cũng không đồng nghĩa chấm dứt tranh chấp giữa các bên trong
quan hệ dân sự. Mặc dù bên có quyền không còn quyền yêu cầu Tòa án công
nhận, bảo vệ quyền nhưng nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ vẫn còn, tranh chấp
vì thế không được giải quyết và đây là “mảnh đất” tốt cho các hành vi thu
hồi nghĩa vụ ngoài pháp luật và không minh bạch trong thực tiễn giao lưu
dân sự, thương mại.
Để đưa thời hiệu về đúng bản chất vốn có của nó, chúng ta cần có những
nghiên cứu cơ bản về những vấn đề sau:
- Thứ nhất, không nên quy định thời hiệu trong Bộ luật tố tụng dân sự để
phù hợp với bản chất pháp lý của thời hiệu và khi thời hiệu là chế định đã
được quy định trong Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật chuyên ngành
khác. Tuy nhiên, Bộ luật tố tụng dân sự cũng cần có điều khoản viện dẫn về
áp dụng thời hiệu trong Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật chuyên
ngành, để đảm bảo thống nhất áp dụng pháp luật trong các hoạt động tố tụng
của Tòa án.
Cũng có ý kiến cho rằng, không phải tất cả các quan hệ pháp luật đều đã
được pháp luật chuyên ngành quy định về thời hiệu. Do vậy, cần tiếp tục quy
6
định thời hiệu giải quyết vụ việc dân sự trong Bộ luật tố tụng dân sự để áp
dụng cho những quan hệ pháp luật chưa được quy định về thời hiệu khởi
chủ sở hữu (Điều 239), vật đánh rơi, bỏ quên (Điều 241), gia súc, gia cầm bị
thất lạc, vật nuôi dưới nước (các điều 242, 243, 244), đối với việc chiếm
hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật (Điều 247).[16]
IV. VỀ XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM PHÁT SINH THỜI HIỆU YÊU CẦU
GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ
Việc tính đúng thời điểm phát sinh thời hiệu yêu cầu giải quyết vụ việc dân
sự có ý nghĩa rất quan trọng trong các hoạt động tố tụng của Tòa án, cũng
như trong công nhận và bảo vệ quyền cho chủ thể dân sự. Thời điểm phát
sinh thời hiệu trong pháp luật Việt Nam thường ấn định thông qua một sự
kiện. Việc qui định như vậy cũng có ưu điểm, rõ ràng cho Tòa án vận dụng
tính thời hiệu trong giải quyết vụ việc dân sự. Tuy nhiên, qui định này không
phản ánh đúng thực tiễn quan hệ dân sự và có phần không công bằng đối với
chủ thể có quyền, lợi ích bị xâm phạm hoặc các bên trong giao dịch.[17]
Thời điểm phát sinh thời hiệu theo pháp luật hiện hành phổ biến được tính
kể từ ngày quyền, lợi ích của chủ thể bị xâm phạm hoặc kể từ thời điểm giao
dịch được giao kết (Điều 159 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 136,
Điều 159, Điều 427, Điều 607 Bộ luật dân sự, Điều 319 Luật Thương
mại…). Trên thực tế vì nhiều lý do khách quan, quyền, lợi ích của chủ thể đã
8
bị xâm phạm, nhưng chủ thể không biết hoặc không thể biết quyền, lợi ích
của mình bị xâm phạm (người bị lừa dối chưa biết mình bị lừa dối, người bị
nhầm lẫn không biết bị nhầm lẫn, người bị ngộ độc thực phẩm, chịu ô nhiễm
môi trường nhưng không biết sức khỏe, tính mạng bị xâm phạm…). Do đó,
cần thiết phải có sự sửa đổi cách tính thời hiệu dựa vào thời điểm “ngày
quyền, lợi ích bị xâm phạm” thành thời điểm “chủ thể biết hoặc buộc phải
biết quyền, lợi ích của mình bị xâm phạm”. Khoản 3, Điều 159 Dự thảo 4
cũng đã dự liệu thời hiệu khởi kiện tính từ ngày cá nhân, cơ quan, tổ chức
biết quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm. Dự liệu như vậy là hợp lý. Tuy
nhiên, Dự thảo cũng cần bổ sung thêm thời điểm chủ thể buộc phải biết
quyền và lợi ích bị xâm phạm, để tránh trường hợp chủ thể cho rằng mình
hữu đối với tài sản của mình. Chủ sở hữu có quyền tự bảo vệ, ngăn cản bất
kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền sở hữu của mình, truy tìm, đòi lại
tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp
luật”. Tuy nhiên, không nên hiểu quyền sở hữu được bảo vệ tuyệt đối vô
hạn định trong mọi trường hợp, việc thực hiện quyền sở hữu phải đặt trong
hoàn cảnh tôn trọng lợi ích chung của Nhà nước, của xã hội, lợi ích hợp
pháp của các chủ thể khác, cũng như đảm bảo sự ổn định của các quan hệ
dân sự.
[20]
Trong nhiều trường hợp, việc áp dụng thời hiệu về sở hữu cần
được đặt ra để yêu cầu chủ sở hữu phải tôn trọng các lợi ích nêu trên.
10
Pháp luật dân sự của các nước trên thế giới cũng không loại trừ thời hiệu đối
với loại quan hệ pháp luật này trong mọi trường hợp. Căn cứ vào chủ thể,
tính chất và đối tượng sở hữu, nhà làm luật các nước có thể áp dụng thời
hiệu và không áp dụng thời hiệu.
Nhà làm luật Việt Nam loại trừ thời hiệu đối với trường hợp tài sản thuộc
hình thức sở hữu Nhà nước, trong trường hợp tài sản của Nhà nước thuộc sự
chiếm hữu của người khác không có căn cứ pháp luật dù ngay tình, liên tục,
công khai thì quyền sở hữu của Nhà nước đối với tài sản không bị mất đi
(Khoản 2 Điều 247 Bộ luật dân sự năm 2005). Pháp luật của một số bang
của Australia loại trừ thời hiệu đối việc kiện tranh chấp có đối tượng là đất
(Luật về thời hiệu của lãnh thổ Thủ đô Liên bang Australia năm 1985 và
Luật về thời hiệu của vùng lãnh thổ Bắc Australia năm 1981) …
Ngoài một số tranh chấp sở hữu đặc thù được loại trừ về thời hiệu, áp dụng
thời hiệu yêu cầu là sự lựa chọn phổ biến của nhà làm luật trên thế giới và
thường họ có quy định đa đạng về thời hiệu đối với từng loại tranh chấp sở
hữu đặc thù:
- Việc áp dụng thời hiệu yêu cầu có thể được quy định căn cứ vào đối tượng
tranh chấp sở hữu là động sản hay bất động sản. Luật về thời hiệu của Cộng
ngày bị tước chiếm hữu (Điều 201 Bộ luật dân sự Nhật Bản). Bộ luật dân sự
năm 2005 của Việt Nam cũng đã có nhiều quy định áp dụng thời hiệu về sở
hữu đối với các trường hợp chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật
nhưng ngay tình (Điều 247), đối với vật đánh rơi, bỏ quên (Điều 241), đối
12
với gia súc bị thất lạc (Điều 242), đối với gia cầm bị thất lạc (Điều 243), đối
với vật nuôi dưới nước (Điều 244).
Dự thảo 4 có dự liệu tại Khoản 3 Điều 159 theo hướng không áp dụng thời
hiệu khởi kiện đối với những quan hệ tranh chấp về sở hữu nếu pháp luật
không có quy định khác. Dự liệu như vậy là quá rộng, có thể gây phức tạp
trong thực tiễn áp dụng. Việc quy định thời hiệu yêu cầu về sở hữu cần thiết
phải đặt ra và một nguyên tắc cần được ghi nhận“không áp dụng thời hiệu
yêu cầu về sở hữu nếu pháp luật quy định”. Để đảm bảo sự ổn định trong
các quan hệ sở hữu, sự thống nhất trong áp dụng pháp luật và nâng cao trách
nhiệm của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp, nhà làm luật phải quy
định cụ thể những quan hệ sở hữu không áp dụng thời hiệu và những quan
hệ sở hữu có áp dụng thời hiệu. Đối với những quan hệ sở hữu có áp dụng
thời hiệu, pháp luật cần có sự sửa đổi, bổ sung bảo đảm tính hợp lý và cụ thể
phù hợp với sự đa dạng và đặc thù của các quan hệ sở hữu. [22]
2. Về thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự về quyền nhân thân
Quan điểm loại trừ thời hiệu đối với yêu cầu giải quyết việc dân sự về quyền
nhân thân là đúng đắn, phù hợp với thông lệ quốc tế và quy định hiện hành
của Bộ luật dân sự năm 2005 và Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 của
Việt Nam[23]. Tuy nhiên, việc áp dụng nguyên tắc vô thời hạn về quyền yêu
cầu trong mọi trường hợp đối với việc dân sự về quyền nhân thân cũng có
thể gây vướng mắc về mặt pháp lý, cũng như sự ổn định của các quan hệ dân
sự. Chẳng hạn, theo Khoản 1 Điều 78 Bộ luật dân sự năm 2005, kể từ thời
điểm biệt tích hai năm không có thông tin người bị yêu cầu là mất tích còn
sống hay đã chết thì người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa
án tuyên bố người đó mất tích mà không bị giới hạn về thời hiệu. Vấn đề đặt
đồng (Điều 427), thời hiệu về yêu cầu bồi thường thiệt hại (Điều 607), thời
hiệu về thừa kế (Điều 645) … Ngoài ra, thời hiệu yêu cầu giải quyết vụ việc
dân sự cũng được quy định tại Luật Thương mại năm 2005 (điểm 2 Khoản 1
Điều 237 và Điều 319), Luật Doanh nghiệp năm 2005 (Điều 50 và Điều
107), Bộ luật Hàng hải năm 2005 (Điều 97, Điều 118, Điều 137, Điều 142,
Điều 164, Điều 168, Điều 183, Điều 195, Điều 211, Điều 218 và Điều 257),
Luật Hàng không dân dụng năm 2006 (Điều 174 và Điều 186), Luật Giao
thông đường thủy nội địa năm 2004 (Điều 92), Luật Đường sắt năm 2005
(Điều 111), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động năm
2006 (d1167, Điều 171a), Luật các công cụ chuyển nhượng năm 2005 (Điều
78), Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (Điều 30), Luật Trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước năm 2009 (khoản 1 Điều 22), Luật Khám, chữa bệnh
năm 2009 (Khoản 3 Điều 80)…
[3] Điều 159 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004.
[4]
Khoản 2 Điều 9 BLDS năm 2005 quy định: “Khi quyền dân sự của một
chủ thể bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo vệ theo quy định của Bộ
luật này hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền:
a) Công nhận quyền dân sự của mình;
b) Buộc chấm dứt hành vi vi phạm;
c) Buộc xin lỗi, cải chính công khai;
15
d) Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự;
đ) Buộc bồi thường thiệt hại.”
[5] Xem chú thích 1.
6
Điều 159 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định nguyên tắc, trong thời
hạn luật định, chủ thể dân sự không yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự
thì họ mất quyền khởi kiện hoặc quyền yêu cầu.
[7] Bài viết này không đề cập đến những đóng góp đáng kể của các quy định
của Quốc hội khóa XII Xin ý kiến UBTVQH một số vấn đề lớn về Dự thảo
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự.
[15] Hiện nay Bộ Tư pháp đã và đang chủ trì thực hiện các hoạt động chuẩn
bị cho việc sửa đổi cơ bản Bộ luật dân sự năm 2005, một trong những nội
dung được quan tâm sửa đổi là quy định về thời hiệu.
[16] Hiện nay Bộ Tư pháp đã và đang chủ trì thực hiện các hoạt động chuẩn
bị cho việc sửa đổi cơ bản Bộ luật dân sự năm 2005, một trong những nội
dung được quan tâm sửa đổi là quy định về thời hiệu và hậu quả của hết thời
hiệu yêu cầu.
17
[17] Nguyên tắc tính thời hiệu được quy định tại Điều 156, Điều 158, Điều
159, Điều 160, Điều 161, Điều 162 của Bộ luật dân sự năm 2005, Khoản 3
Điều 159 Bộ luật tố tụng dân sự và các điều luật của Bộ luật dân sự, văn bản
pháp luật chuyên ngành quy định về các loại thời hiệu yêu cầu đặc thù (xem
thêm chú thích 2).
[18]
Việc thời hiệu được tính từ thời điểm “chủ thể biết hoặc buộc phải biết
quyền, lợi ích của mình bị xâm phạm”cũng đã được ghi nhận tại Điều 118
Bộ luật hàng hải năm 2005 “Thời hiệu khởi kiện về việc thực hiện hợp đồng
vận chuyển theo chuyến là hai năm, kể từ ngày người khiếu nại biết hoặc
phải biết quyền lợi của mình bị xâm phạm”.
[19] Liên quan đến sửa đổi, bổ sung Bộ luật dân sự năm 2005 đang được Bộ
Tư pháp tiến hành, Điều 136 qui định về thời hiệu tuyên bố giao dịch vô
hiệu được dự định sửa đổi theo hướng: “1. Thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên
bố giao dịch vô hiệu được quy định tại các điều từ Điều 130 đến Điều 134
của Bộ luật này là hai năm kể từ ngày:
a) Người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi
dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc buộc phải biết
người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn
chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện giao dịch;
[25] Xem các quy định từ Điều 78 đến Điều 83 Bộ luật dân sự năm 2005.
[26] Trường hợp nêu trên cũng thể là vướng mắc đối với người biệt tích trên
5 năm, nhưng những người có quyền lợi, lợi ích liên quan lại có những yêu
cầu khác nhau về tuyên bố mất tích và tuyên bố người đó đã chết
20