MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
NGÀNH TRONG NỀN KINH TẾ
1.1 Một số lý luận về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản.
1.1.1.1 Khái niệm về cơ cấu ngành kinh tế.
Cơ cấu ngành kinh tế: là tổ hợp các ngành hợp thành các tương quan tỷ lệ biểu
hiện mối liên hệ giáa các nhóm ngành của nền kinh tế quốc dân.
Cơ cấu ngành phản ánh phần nào trình độ phân công lao động xã hội chung
của nền kinh tế và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, thay đổi mạnh mẽ cơ
cấu ngành là nét đặc trưng của các nước đang phát triển. Khi phân tích cơ cấu
ngành của một quốc gia người ta phân tích theo 3 nhóm ngành chính: nông nghiệp
(bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp), công nghiệp (bao gồm công
nghiệp và xây dựng), dịch vụ (bao gồm các ngành kinh tế còn lại như: thương mại,
bưu điện, du lịch...).
Việc phân tích cơ cấu ngành của nền kinh tế không chỉ dừng lại ở những biểu
hiện về mặt lượng (số lượng ngành, tỷ trọng) mà quan trọng hơn là phân tích được
mặt chất của cơ cấu: vị trí, vai trò của ngành hiện tại trong nền kinh tế, sự tương
tác giữa công nghiệp và nông nghiệp trong phát triển, khả năng hướng ngoại, quan
hệ giữa cơ cấu ngành với cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu theo thành phần kinh tế...
Mặt khác, cơ cấu ngành "luôn luôn vận động, phát triển", nhất là trong điều
kiện cơ chế thị trường. Bởi vậy, khi phân tích cơ cấu ngành cần thấy rõ tính quy
luật của sự vận động và luôn đặt ra phương hướng chuyển dịch cơ cấu ngành cho
thích ứng yêu cầu phát triển kinh tế trong từng giai đoạn.
1.1.1.2 Khái niệm về chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế:
Chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế: là sự thay đổi có mục đích, có định
hướng và dựa trên cơ sở phân tích đầy đủ căn cứ lý luận và thực tiễn cùng với việc
áp dụng đồng bộ các giải pháp cần thiết để chuyển cơ cấu ngành từ trạng thái này
sang trạng thái khác hợp lý và hiệu quả hơn. Đây không phải đơn thuần là sự thay
đổi vị trí, tỷ trọng và quan hệ giữa các ngành mà là sự biến đổi cả về lượng và chất
trong nội bộ cơ cấu.
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải dựa trên cơ sở cơ cấu hiện có, do đó nội
hướng mạnh mẽ sang phát triển các ngành mà quốc gia có lợi thế và có điều kiện
phát triển mới tạo đà hội nhập và tham gia có hiệu quả vào phân công lao động
quốc tế, ví dụ như tài nguyên thiên nhiên và điều kiện tự nhiên phong phú và thuận
lợi tạo điều kiện phát triển các ngành công nghiệp du lịch, ngư nghiệp, nông
nghiệp...
Dân số lao động được xem là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế, sự
tác động của nhân tố này lên quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
được xem xét trên các mặt sau:
+ Kết cấu dân cư và trình độ dân trí, khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật
mới... là cơ sở quan trọng để phát triển các ngành công nghiệp kỹ thuật cao và
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong các ngành đang hoạt động, là nhân tố
thúc đẩy tiến bộ khoa học - kỹ thuật trong sản xuất các ngành kinh tế quốc dân.
+ Quy mô dân số, kết cấu dân cư và thu nhập của họ có ảnh hưởng lớn đến
quy mô và cơ cấu của nhu cầu thị trường. Đó là cơ sở để phát triển các ngành công
nghiệp và các ngành phục vụ tiêu dùng.
- Môi trường thể chế là yếu tố cơ sở cho quá trình xác định và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế. Môi trường thể chế là biểu hiện cụ thể của nháng quan điểm, ý tưởng
và hành vi của Nhà nước can thiệp và định hướng sự phát triển tổng thể cũng như
sự phát triển các bộ phận cấu thành của nền kinh tế. Vai trò đó được thể thiện:
+ Nhà nước xây dựng và Quyết định chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế
xã hội nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội tổng thể của đất nước. Đó thực
chất là quá trình định hướng phân bố nguồn lực và hướng đầu tư theo ngành.
+ Bằng hệ thống pháp luật, chính sách... Nhà nước khuyến khích hay hạn chế,
thậm chí gây áp lực để các doanh nghiệp, các nhà đầu tư (cả trong và ngoài nước)
phát triển sản xuất kinh doanh theo định hướng Nhà nước đã xác định. Ví dụ: để
khuyến khích công nghiệp ô tô phát triển, trong những năm 1970 nhiều tổ hợp
công nghiệp của Hàn Quốc được khuyến khích phát triển chế tạo ô tô và xuất khẩu
ô tô. Các tổ hợp này được hưởng chế độ miễn thuế đặc biệt và trong trường hợp
doanh nghiệp bị thua lỗ thì Nhà nước sẽ bù lỗ.
- Tiến bộ khoa học - công nghệ không những chỉ tạo ra những khả năng sản
1
= 9180
X
2
= 7940
X
3
= 6310
3850
900
1200
0
1100
1160
350
1170
250
1160
3060
5630
3600
Chi phí lao động
Lợi nhuận
Giá trị tổng sản lượng
1940
1290
9180
3550
1780
7940
30 – 42%
22%
Vượt quá mức, hiệu quả là 15% 22% 20%
Nguồn: Niên giám thống kê.
Ta xét 2 phương án phân bố vốn đầu tư như sau:
Bảng 4:
Vốn đầu tư Công nghiệp Nông nghiệp Các ngành khác
1878 35%(657,3) 25%(469,5) 40%(751,2)
Hiệu quả 131,46 117,38 165,26
Giá trị tổng sản lượng 9311,46 8057,38 6475,26
Bảng 5:
Vốn đầu tư
Công
nghiệp
Nông nghiệp Các ngành khác
1878 40% (751,2) 20% (375,6) 40% (751,2)
Hiệu quả 112,68 82,63 150,24
Giá trị tổng sản lượng 9292,68 8022,63 6460,24
Với 2 phương án phân bổ vốn đầu tư trên, ta thu được hai phương án kế hoạch
của năm 1977 như sau: (Bảng 6 và bảng 7 có hiệu quả khác nhau với cơ cấu khác
nhau - với ký hiệu: Xi (i = I, II, II) là giá trị tổng sản phẩm của ngành i; CPLĐ: Chi
phí lao động; LN : lợi nhuận; GTTSL : giá trị tổng sản lượng.
Bảng 6: Bảng cân đối liên ngành năm 1977 (Phương án I)
Đơn vị: Triệu đồng
Ngành sản xuất
Giá trị
tổng sản
lượng
Tiêu dùng sản xuất
Sản lượng
1564,3
6475,26
Năm 1977
Phương
án 1
Bảng 7: Bảng cân đối liên ngành năm 1977 (Phương án II)
Đơn vị: Triệu đồng
Ngành sản
xuất
Giá trị tổng
sản lượng
Tiêu dùng sản xuất
Sản lượng
cuối cùng
I II III
X
1
X
2
X
3
9292,6
8022,63
-
3897,3
910,70
1214,6
1111,13
1172,11
1214,6
1.1.3 Lý luận về mối liên hệ giũa chuyển dịch cơ cấu và quá trình phát triển
nền kinh tế.
Quá trình phát triển tăng trưởng kinh tế của một quốc gia thường được xem
xét như là một quá trình làm thay đổi thu nhập bình quân đầu người. Mặc dù có
nhiều thay đổi trong quan niệm về phát triển và tăng trưởng nhưng chỉ tiêu trên vẫn
được coi trọng và làm thước đo cho sự phát triển kinh tế. Một xu hướng mang tính
quy luật là cùng với sự phát triển của kinh tế là một quá trình thay đổi về cơ cấu
kinh tế, tức là một sự thay đổi tương đối về mức đóng góp, tốc độ phát triển của
từng thành phần, từng yếu tố riêng về cấu thành nên toàn bộ kinh tế. Một trong
những cơ cấu kinh tế được quan tâm và nghiên cứu nhiều trong mối liên hệ với quá
trình tăng trưởng và phát triển kinh tế là cơ cấu ngành. Ngay từ cuối thế kỷ 19, nhà
kinh tế học người Đức E.Engle đã phát hiện ra mối quan hệ giữa phát triển kinh tế
(thu nhập bình quân tăng lên) với chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Theo E.Engle, khi thu nhập của các gia đình tăng lên thì tỷ lệ chi tiêu của họ
cho lương thực, thực phẩm giảm đi. Do chức năng chính của khu vực nông nghiệp
là sản xuất lương thực, thực phẩm nên có thể suy ra là tỷ trọng nông nghiệp trong
toàn bộ nền kinh tế sẽ giảm đi khi thu nhập tăng lên.
Quy luật E.Engle được phát hiện cho sự tiêu dùng lương thực, thực phẩm
nhưng nó có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng cho việc nghiên cứu tiêu
dùng các loại sản phẩm khác. Các nhà kinh tế gọi lương thực, thực phẩm là các sản
phẩm thiết yếu, hàng công nghiệp là sản phẩm tiêu dùng lâu bền và việc cung cấp
dịch vụ là sự tiêu dùng cao cấp. Qua quá trình nghiên cứu, họ phát hiện ra xu
hướng chung là khi thu nhập tăng lên thì tỷ lệ chi tiêu cho hàng tiêu dùng lâu bền
tăng phù hợp với thu nhập, còn chi tiêu cho tiêu dùng cao cấp tăng nhanh hơn tốc
độ tăng thu nhập, tức là tỷ trọng của ngành công nghiệp và dịch vụ trong nền kinh
tế đã có sự thay đổi
Như vậy, quy luật tiêu thụ sản phẩm của E.Engle đã làm rõ tính xu hướng của
việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu ngành nói riêng trong quá
trình phát triển.
1.2 Cơ cấu ngành kinh tế trong các lý thuyết phát triển.
thay đổi quan trọng là trong xã hội đã xuất hiện nháng khu vực "đầu tầu" có tác
động lôi kéo nền kinh tế. Bắt đầu phát triển các ngành công nghiệp đòi hỏi phải sử
dụng nhiều lao động như các ngành dệt, may, đồ da, chế biến nông sản và các hàng
tiêu dùng khác... vốn đầu tư ít. Giáo dục được mở rộng và có những cải tiến phù
hợp để phù hợp với những yêu cầu mới của sự phát triển. Nhu cầu đầu tư tăng lên
đã thúc đẩy sự hoạt động của ngân hàng và sự ra đời của các tổ chức huy động vốn.
Tiếp đó giao lưu hàng hoá trong và ngoài nước phát triển đã thúc đẩy sự hoạt động
của ngành giao thông vận tải, thông tin liên lạc.
Tuy vậy, tính cả các hoạt động này chưa vượt qua được phạm vi giới hạn của
một nền kinh tế với những đặc trưng của phương thức sản xuất truyền thống, năng
suất thấp. Xã hội truyền thống vẫn tồn tại song song với các hoạt động kinh tế hiện
đại đang phát triển.
* Giai đoạn III. Cất cánh: Đây là giai đoạn mà lực cản của xã hội truyền
thống và các thế lực chống đối với sự phát triển đã bị đẩy lùi. Các lực lượng tạo ra
sự tiến bộ về kinh tế đang lớn mạnh và trở thành lực lượng chiếm tỷ trọng lớn
trong xã hội. Trong giai đoạn này khoa học - kỹ thuật tác động mạnh vào công
nghiệp và nông nghiệp; công nghiệp giá vai trò “đầu tầu”, có tốc độ tăng trưởng
cao, đem lại lợi nhuận lớn. Ngoài ra, ở giai đoạn này hầu hết các nước đã phát huy
các ngành công nghiệp mũi nhọn để chiếm lĩnh đỉnh cao về khoa học - công nghệ
của lĩnh vực này và tiến hành chuyển giao cho các nước đi sau. Sự chuyển dịch cơ
cấu ngành trong giai đoạn này đã phát triển đến một trình độ cao hơn. Ví dụ, nước
Anh tiến hành công nghiệp hoá từ cuối thế kỳ XVII với sự khởi sắc của ngành
công nghiệp dệt và đến nay vẫn là ngành có ưu thế. Đức, Hoa Kỳ, Bỉ, Pháp, Thuỵ
Điển là những nước tiến hành công nghiệp hoá ở vào thời kỳ những năm 40-50 của
thế kỷ XIX và chiếm giữ thế mạnh là ngành cơ khí chế tạo. ở trên ta mới xét đến
đặc điểm về cơ cấu ngành, ngoài ra ở giai đoạn này còn một số đặc điểm về mặt
kinh tế - xã hội như: tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư tăng từ 5 đến 10% và cao hơn trong
thu nhập quốc dân thuần tuý (NNP), ngoài vốn đầu tư huy động trong nước, vốn
đầu tư huy động từ nước ngoài có ý nghĩa quan trọng.
* Giai đoạn IV. Trưởng thành: Đặc trưng cơ bản của giai đoạn này là: Tỷ lệ