trình bày hình thức chính thể cộng hòa tổng thống ở mỹ. nêu rõ tính chất phân quyền và chế ước trong mô hình bộ máy tổ chức nhà nước ở mỹ - Pdf 22

Trình bày hình thức chính thể Cộng hòa Tổng thống ở
Mỹ. Nêu rõ tính chất phân quyền và chế ước trong mô
hình Bộ máy tổ chức nhà nước ở Mỹ
ĐẶT VẤN ĐỀ
- Nguyên nhân nào dẫn đến sự ra đời của nước Mỹ?
- Thượng nghị viện và Hạ nghị viện có vai trò như thế nào trong việc thực hiện
quyền lập pháp?
- Tổng thống Mỹ có vai trò như thế nào trong bộ máy nhà nước mà chính thể ở Mỹ
còn được gọi là chế độ “Tổng thống chế”?
- Luật pháp Mỹ vừa tồn tại luật liên bang và luật tiểu bang. Như vậy, khi xét xử tòa
án sẽ vận dụng luật như thế nào trong quá trình xử án?
Hình thức chính thể là 01 trong 03 yếu tố của hình thức nhà nước.
1. Khái quát về sự ra đời của nước Mỹ
1.1. Nước Mỹ thời trước thuộc địa
- Nằm tại khu vực Bắc Mỹ với cư dân đầu tiên là người da đỏ bản xứ và về
sau có thêm người nhập cư từ các nước khác như Na Uy, Tây Ban Nha,
Pháp, Anh, …
- Bắt đầu từ năm 1600 là làn sóng nhập cư ồ ạt từ Châu Âu để tìm kiếm cơ
hội tự do hành đạo, tránh khó khăn kinh tế cũng như sự cai trị chuyên quyền
đang diễn ra ở chính quốc, … dưới thời Vua Charles Đệ nhất.
- Thuộc địa đầu tiên của nước Anh được thiết lập ở Bắc Mỹ là Jamestown
(1607).
1.2. Nước Mỹ thời thuộc địa
- Năm 1618, những cư dân tự do trong các đồn điền được quyền bầu ra
những người đại diện để cùng với viên thống sứ và hội đồng được bổ nhiệm
thông qua các sắc lệnh vì lợi ích của thuộc địa. Điều này đã có ảnh hưởng
rộng rãi nhất trong toàn bộ thời kỳ thuộc địa. Kể từ đó, người ta đã nhất trí
rằng những người đi khai hoang có quyền tham gia vào vào chính quyền của
riêng họ. Trong mọi trường hợp, sau này khi ban chiếu, Vua Anh đều quy
định người dân tự do của xứ thuộc địa có quyền có tiếng nói trong việc ban
hành những đạo luật ảnh hưởng đến họ.

Tuy nhiên, mãi đến tận năm 1763, Anh và Mỹ mới thực sự bắt đầu công khai
chia tách sau hơn một thế kỷ rưỡi xây dựng khu định cư lâu dài đầu tiên ở
Jamestown, bang Virginia.
1.3. Chặng đường giành độc lập
- Bắt nguồn từ căng thẳng giữa nước Anh và 13 thuộc địa về việc cấm các
thuộc địa mở rộng biên giới về phía Tây thông qua việc tuyên bố chuyển tất
cả lãnh thổ phía tây nằm giữa dãy Allegheny, bang Florida, sông Mississippy
và Quebec cho thổ dân da đỏ sử dụng, ban hành các sắc thuế hà khắc như
Đạo luật Đường 1764, Đạo luật Tiền tệ , Đạo luật Đường, Đạo luật Hậu cần
1765, Đạo luật Townshend, … đã dẫn đến sự kiện người dân thuộc địa đổ
chè trên tàu Anh xuống cảng Boston ngày 16/12/1773. Và để đáp trả cho
hành động này, nước Anh đã cho ban hành các đạo luật mới như Đạo luật
cảng Boston, Đạo luật Hậu cần, Đạo luật Quebec, … (thường gọi là “Năm
đạo luật không thể dung thứ”)
- 5/9/1774 , tại đại hội các thuộc địa tại Philadelphia thành lập “Liên hiệp
Lục địa” nhằm khôi phục các biện pháp tẩy chay thương mại và hướng dư
luận thổi bùng lên ngọn lửa cách mạng và đã nổ ra xung đột vũ trang giữa
lính Anh và du kích quân thuộc địa.
- Đại hội Lục địa lần thứ hai đã khai mạc ở Philadelphia, bang Pennsylvania,
ngày 10/5/1775. Đại hội đã bỏ phiếu quyết định tham chiến, tuyển mộ du
kích quân thuộc địa vào lực lượng quân đội lục địa nhưng vẫn có một số đại
biểu vẫn phản đối ý tưởng ly khai hoàn hoàn khỏi nước Anh. Vào tháng
07/1775, Đại hội thông qua Lời thỉnh cầu Cành Ôliu, cầu xin nhà vua
George Đệ Tam ngăn chặn mọi hành động thù địch leo thang cho đến khi đạt
được một thỏa thuận nào đó nhưng đã bị nhà vua bác bỏ. Ngày 23/8/1775,
Vua George Đệ Tam tuyên bố các thuộc địa đang gây ra tình trạng nổi loạn.
- Điều này đã dẫn đến những cuộc xung đột vũ trang giữa quân Anh và quân
đội cách mạng. Ngay tại Đại hội Lục địa lần thứ hai, Richard Henry Lee
tuyên bố rằng những thuộc địa hợp nhất này được, và có quyền phải được
trở thành những quốc gia tự do và độc lập và lập 01 ủy ban có nhiệm vụ

“1- Xây dựng một liên bang hoàn hảo hơn; 2- Thiết lập công lý; 3- Tạo
dựng phòng thủ chung để chống ngoại xâm; 4- Thúc đẩy sự thịnh vượng
trong toàn khối; 5- Giữ vững nền tự do”
- Hiến pháp Hoa Kỳ
- 30/04/1789, George Washington đã được bầu là Tổng thống đầu tiên của
Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ.
- 12/1791, thông qua Tuyên ngôn nhân quyền chính là 10 Tu chánh án đầu
tiên của Hiến pháp.
- Giai đoạn kế tiếp là giai đoạn mở rộng lãnh thổ, xây dựng hiến pháp tiểu
bang, củng cố chính quyền, xung đột địa phương …
1.4 Giai đoạn chia rẽ, nội chiến và thống nhất
- Thỏa hiệp năm 1850 với những điều khoản như việc mua và bán nô lệ bị
bãi bỏ ở quận Columbia, Đạo luật Nô lệ bỏ trốn, …Vấn đề về nô lệ đã gây
chia rẽ trong lòng nước Mỹ giữa một bên là các bang miền Nam ủng hộ chế
độ nô lệ và một bên là các bang miền Bắc chống chế độ nô lệ và quyết tâm
bãi bỏ chế độ này.
- Sự kiện Abraham Lincoln, một người coi chế độ nô lệ là một tội ác, thắng
cử tổng thống tháng 11/1860, đã dẫn đến sự ly khai của 11 bang miền Nam
như Nam Carolina, Virginia, Arkansas,…
- Ngày 4/3/1861, Abraham Lincoln đã tuyên thệ nhậm chức tổng thống Hoa
Kỳ. Trong diễn văn nhậm chức ông tuyên bố sự ly khai không có hiệu lực về
mặt pháp luật và kêu gọi phục hồi những mối liên kết của liên bang. Để đáp
lại, ngày 12/4/1861, súng phe ly khai đã nổ nhằm vào các binh đội liên bang
đồn trú ở Đồn Sumter tại hải cảng Charleston, bang Nam Carolina. Cuộc nội
chiến bắt đầu.
- Bất chấp sự ly khai để phản đối của các bang miền Nam, ngày 1/1/1863,
Tuyên bố Giải phóng Nô lệ cuối cùng đã được ban hành.
- Trải qua 4 năm, ngày 9/4/1865, với sự đầu hàng của Tướng Robert E. Lee,
cuộc nội chiến gây hao tổn nhiều nhất trong lịch sử nước Mỹ đã chấm dứt.
Chế độ nô lệ đã bị xóa bỏ hoàn toàn trong thực tiễn.

Nguyên tắc phân chia quyền lực là một trong những nguyên tắc quan trọng
nhất của Hiến pháp Mỹ. Nguyên tắc này qui định rằng: quyền lực nhà nước
cần được phân chia và được đặt vào các hợp phần khác nhau của Chính phủ.
Theo đó, bộ máy nhà nước chia làm ba nhánh: nhánh lập pháp có nhiệm vụ
thông qua các đạo luật được trao cho Nghị viện, nhánh hành pháp có nhiệm
vụ thi hành luật được trao cho Tổng thống và nhánh tư pháp có nhiệm vụ
giải thích luật được trao cho Tòa án tối cao.
Mục đích của việc phân chia quyền lực là dùng quyền lực để kiểm soát
quyền lực, ngăn chặn bất cứ một cơ quan nào nắm giữ độc quyền.
2.3 Thẩm quyền của từng nhánh quyền lực
2.3.1 Nhánh quyền lực lập pháp
Quyền lực của nhánh lập pháp được trao cho Nghị viện (Quốc hội). Theo
chế độ lưỡng viện, Nghị viện gồm có Viện dân biểu (Hạ viện) và Thượng
viện.
Hiến pháp Mỹ trao cho Nghị viện quyền hành rất lớn, đó là quyền lập pháp,
quyền sửa đổi Hiến pháp và pháp luật.
Nghị viện có quyền ban hành luật để điều tiết thương mại và tài chính, được
phép trao hay bác bỏ quyền tối huệ quốc cho các nước có quan hệ buôn bán
với Mỹ. Ngoài các luật trực tiếp điều tiết quan hệ đối ngoại, Nghị viện còn
có quyền phê chuẩn hoặc sửa đổi các hiệp định thương mại đã được Chính
phủ đàm phán, kí kết.
Ngoài quyền lập pháp, Nghị viện còn có nhiều quyền khác. Những quyền
này có khả năng ảnh hưởng đến quá trình làm luật mới, trong đó có hai
quyền quan trọng là: quyền giám sát hoạt động của Chính phủ và quyền điều
tra.
Nghị viện cũng có quyền thành lập một số cơ quan và giao cho các cơ quan
này những nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể.
Bên cạnh đó, Nghị viện cũng có quyền tư pháp nhất định. Hạ viện có thể
luận tội các quan chức liên bang thông qua một tỉ lệ phiếu quá bán. Sau đó,
Thượng viện tổ chức một phiên tòa để buộc tội. Nếu 2/3 phiếu của Thượng

hiện quyền này kể từ năm 1941 khi Mỹ bước vào cuộc Chiến tranh thế giới
thứ 2.
Tổng thống cũng là một nhà lập pháp quan trọng, thể hiện qua 3 quyền:
· Quyền đưa ra sáng kiến lập pháp thông qua hình thức Tổng thống gửi
thông điệp cho Nghị viện;
· Quyền đưa ra dự luật ngân sách;
· Quyền phủ quyết.
2.3.2.2 Chính phủ
Chính phủ liên bang Mỹ ngoài Tổng thống còn có nhiều bộ phận khác như
văn phòng điều hành của Tổng thống và Nội các, các bộ, các ủy ban điều
hành độc lập, các trung tâm…
Nhìn chung, bộ máy quan chức trong nhánh hành pháp củng cố thêm quyền
lực của Tổng thống.
2.3.3 Nhánh quyền lực tư pháp
Theo Russau: quyền tư pháp là trung gian giữa Chính phủ và nhân dân, giữa
lập pháp và hành pháp. Cơ quan tư pháp “đặt mỗi bộ phận vào đúng vị trí
của nó làm mối dây liên lạc và yếu tố trung gian giữu Chính phủ với nhân
dân, giữu Chính phủ với cơ quan quyền lực tối cao, hoặc cả ba vế ấy khi
cần” (Bàn về khế ước xã hội).
Trong ba bộ phận của nhà nước liên bang, nhánh tư pháp có lẽ được trao ít
quyền lực nhất. Nhánh tư pháp có các nhiệm vụ chủ yếu: bảo vệ Hiến pháp
và pháp luật thông qua hoạt động xét xử mọi hành vi vi phạm; giải thích
Hiến pháp và pháp luật phục vụ cho quản lý xã hội, kiềm chế các thiết chế
khác trong hệ thống chính trị.
Quyền lực của tòa án được biểu hiện cụ thể như sau:
Thẩm quyền xét xử: ngành tư pháp có thẩm quyền xét xử các vụ án liên quan
đến những quy định của Hiến pháp, đến các nhân tố nước ngoài và các hiệp
định của Mỹ, các tranh chấp giữa các bang.
Trong một số trường hợp, tòa án liên bang phải đồng thời chia sẻ quyền lực
với tòa án các bang.

Quốc hội là cơ quan đưa ra các dự luật, Tổng thống sẽ ký để các dự luật trở
thành luật.
Đối với các quan chức do Tổng thống bổ nhiệm, Nghị viện phê chuẩn chấp
thuận.
Tuy nhiên, bên cạnh mối quan hệ này, cơ quan hành pháp còn can thiệp sâu hơn
vào hoạt động của cơ quan lập pháp. Tổng thống là người vạch ra các chương
trình chính trị cho Quốc gia, đưa ra các sang kiến về lập pháp, đưa ra các dự
luật, chính sách mà Tổng thống mong muốn. Các quan điểm mà Nhà Trắng đưa
ra phải được Quốc hội lắng nghe, bởi vì Hiến pháp cho phép Tổng thống có
quyền phủ quyết các dự luật. Để bãi bỏ phủ quyết của Tổng thống, Quốc hội
phải có 2/3 số phiếu tán thành ở cả hai viện.
Ngược lại, cơ quan lập pháp có trách nhiệm giám sát và tác động các mặt điều
hành của Chính phủ như phê chuẩn ngân sách quốc gia, chất vấn các quan chức
chính phủ về những hành động và quyết định của họ nhằm các mục tiêu như
chống lãng phí, các hành vi dối trá, bảo đảm việc tuân thủ pháp luật của các
thành viên thuộc nhánh hành pháp.
Cơ quan lập pháp có quyền tuyên bố tình trạng chiến tranh nhưng Tổng thống
lại là tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang. Đây là nguyên nhân gây căng thẳng
giữa cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp Mỹ những năm 60 trong chiến
tranh Việt Nam cũng như trong cuộc xung đột vùng Vịnh năm 1990 – 1991.
Tổng thống cũng có thể bị luận tội bởi đa số dân biểu ở Quốc hội và bị cách
chức bãi nhiệm bởi 2/3 đa số tại thượng viện vì những tội như tham nhũng,
phản quốc.
Thứ hai là mối quan hệ giữa hành pháp và tư pháp.
Tổng thống là người chỉ định chánh án tòa án tối cao và các thành viên.
Nếu Tổng thống phạm vào trọng tội và đem ra xét xử thì chánh án tòa án tối cao
sẽ làm chủ tọa phiên tòa. Đồng thời cơ quan tư pháp xét xử mọi trường hợp nảy
sinh theo quy định của pháp luật và hiến pháp Liên bang.
Cơ quan tư pháp còn có các hình thức kiểm soát cơ bản khả năng Chính phủ
lạm dụng quyền lực, bằng cách tuyên bố các hoạt động hành pháp ở mọi cấp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status