Sáng kiến kinh nghiệm Tiểu học Dạy giải toán hợp Lớp 3
MỤC LỤC:
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 2
Phần I : Đặt vấn đề 3
I - Ý nghĩa và tầm quan trọng của việc dạy giải toán hợp lớp 3 3
II - Lí do chọn đề tài 3
III - Đối tượng nghiên cứu 5
IV - Phương pháp nghiên cứu 5
Phần II : Nội dung 6
I - Đặc điểm tình hình 6
II - Nội dung thực hiện 6
III - Biện pháp thực hiện 6
1. Lựa chọn cách trình bày tóm tắt hợp lý 6
2. Xây dựng hệ thống câu hỏi để tìm lời giải cho bài toán 9
3. Trình bày bài giải 11
4. Các bước tiến hành dạy giải một bài toán hợp 12
Phần I : Kết luận 14
I - Kết quả 14
II - Bài học kinh nghiệm 14
III - Ý kiến đề xuất 15
LỜI KẾT 16
LỜI MỞ ĐẦU
Bạn đọc thân mến!
Nói đến Toán học là nói đến các con số. Nói đến các con số là nói
đến độ dài, số lượng, trọng lượng,…Nói cách khác, khi nói đến Toán học
là người ta không dùng những từ ngữ hoa mĩ, dườm dà mà sử dụng toàn
một loại từ ngữ và con số gọn ghẽ, tròn trịa và chính xác.
Đàm Thị Ngân Trường T.H.Hoàng Hoa Thám -Ân Thi
1
3.
So với 3 mạch kiến thức còn lại (Số học, Hình học và Đo lường),
khối lượng mạch Giải toán không nhiều (chiếm khoảng 9%), song nó
không chỉ giữ vị trí quan trọng trong việc phát triển tư duy toán học nói
chung mà còn là yếu tố chính trong việc hình thành và phát triển tư duy
trừu tượng, khả năng phân tích, tổng hợp, khái quát hóa và cách nhìn nhận
thấu đáo, khúc triết trong cách giải quyết vấn đề của học sinh.
Đàm Thị Ngân Trường T.H.Hoàng Hoa Thám -Ân Thi
3
Sáng kiến kinh nghiệm Tiểu học Dạy giải toán hợp Lớp 3
Với tầm quan trọng như vậy, việc dạy giải toán có lời văn cho HS
lớp 3 là một vấn đề không thể xem nhẹ. Nhưng trên thực tế, có rất nhiều
giáo viên đều lầm tưởng rằng, việc dạy giải các bài toán có 1-2 phép tính là
một việc làm đơn giản, không có gì là khó khăn, cứ theo “mẫu” mà dập.
Nhưng nếu nghiêm túc mổ xẻ, bóc tách vào tận cốt lõi của vấn đề, có lẽ lúc
đó ta sẽ thấy những suy nghĩ của mình còn hời hợt và cần phải xem xét lại.
Vậy cốt lõi của vấn đề có liên quan tới việc giải các bài toán hợp ở lớp 3 là
ở đâu?
II- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Khi chọn viết đề tài, chắc hẳn mỗi người đều có một lí do nào đấy
cho riêng mình. Nhưng tôi xin phép được khoan nói tới lí do của mình và
mạn phép bạn đọc được hồi tưởng lại một chút ký ức của tuổi thơ. Xin bạn
đừng vội bực mình vì sự dông dài của người viết, bởi nó cũng là nguyên
nhân, đúng hơn là động lực sâu xa, khiến tôi thực hiện đề tài này.
Đó là những năm đầu thập niên 80 của thế kỉ trước, khi tôi còn là
một HS trường cấp I. Ngày ấy, tôi là một HS khá cần mẫn, tính toán vào
loại nhanh nhạy. Những con tính cộng, trừ, nhân, chia tôi làm rất thuần
thục. Những điểm 9, 10 thì cứ liên tục xuất hiện trên mỗi trang vở. Tôi
được đánh giá là một học sinh giỏi. Hàng tháng, tôi luôn đứng ở vị trí đầu
lớp và rất ít khi bị tụt xuống vị trí số 2 hoặc số 3. Thế rồi, đến cuối năm
tôi tạm thời quên đi dấu ấn thuở nào. Rồi đến một ngày, khi dạy đến những
bài toán hợp, những điểm kém của học trò tự nhiên cứ liên tiếp xuất hiện.
Đàm Thị Ngân Trường T.H.Hoàng Hoa Thám -Ân Thi
5
Sáng kiến kinh nghiệm Tiểu học Dạy giải toán hợp Lớp 3
Tôi băn khoăn tự hỏi, chẳng lẽ sự nhiệt tình của tôi như vậy vẫn còn chưa
đủ? Tôi thao thức nhiều đêm không ngủ, mong tìm ra câu trả lời thích
đáng. Rồi tôi cũng tìm được câu trả lời cho mình. Đúng hơn là trong những
đêm trằn trọc suy nghĩ đó, cái dấu ấn đậm nét thuở nào đột nhiên hiện về.
Bộ óc người lớn cùng với những kĩ năng sư phạm đã giúp tôi đánh giá
được đúng vấn đề. Thì ra tôi đang dẫm lên vết xe của cô giáo cũ, cả thầy
trò tôi đều đi sai phương pháp! Khi dạy về giải loại toán này, tôi đã không
hướng dẫn HS đi đúng con đường dẫn đến đáp số của bài toán. Tôi đã nghĩ
rằng, những điều đơn giản này học sinh làm gì chẳng biết. Tôi đâu nghĩ ra
rằng, với một người lớn như tôi thì những bài toán cỏn con kia quả thực là
cực kì đơn giản, nhưng với những bộ óc non nớt của trẻ thơ giống như tôi
thuở nào thì nó lại cực kì phức tạp, bởi đó là một thế giới hoàn toàn mới
mẻ mà các em chưa hề bước chân vào. Chính vì tôi không nghĩ ra điều đó
nên tôi đã không kĩ càng hướng dẫn học sinh suy nghĩ, tìm cách giải của
bài toán là đi từ câu hỏi của bài toán ngược trở lại những cái đã biết. Để
rồi, cũng như tôi thuở xưa, trên khuôn mặt thơ ngây của đám học trò cứ
phảng phất dấu hỏi: Làm thế nào để biết được đâu là bước tính đầu tiên?
Thật may là tôi đã thấu hiểu nỗi băn khoăn đó. Tôi đã hiểu, đã điều
chỉnh lại bài giảng của mình. Đó cũng chính là lí do tôi viết bản sáng kiến
kinh nghiệm này.
III- ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
- Đối tượng chung: Toàn thể HS khối lớp 3
- Đối tượng cụ thể: 27 HS lớp 3A
IV- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- PP lí luận, thực tiễn.
cùng nhau tháo gỡ những khó khăn mà học sinh mắc phải và thống nhất
trong toàn tổ về phương pháp giảng dạy cũng như cách thức trình bày dạng
toán này. Chuyên đề đặc biệt đi sâu vào giải các bài toán hợp. Nội dung
gồm 4 phần:
1. Tóm tắt bài toán.
2. Tìm lời giải cho bài toán
3. Trình bày bài giải.
4. Các bước tiến hành.
III-BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:
1. Lựa chọn cách trình bày tóm tắt hợp lý:
Như chúng ta đã biết, phần tóm tắt bài toán không phải là một thành
phần trong khâu trình bày bài giải, nhưng là phần quan trọng giúp HS có
cái nhìn tổng thể về toàn bộ nội dụng bài toán, từ đó tìm được mối liên hệ
cần thiết giữa cái đã cho và cái phải tìm. Qua đó, giúp các em biết lựa chọn
phép tính thích hợp. Đối với lớp 3 (cũng như đối với HS tiểu học nói
chung), sử dụng sơ đồ đoạn thẳng (SĐĐT) để tóm tắt là hợp lí nhất. SĐĐT
không những giúp các em có một cái nhìn khái quát về bài toán mà còn
Đàm Thị Ngân Trường T.H.Hoàng Hoa Thám -Ân Thi
8
Sáng kiến kinh nghiệm Tiểu học Dạy giải toán hợp Lớp 3
giúp các em nhận ra cái đã biết, cái phải tìm và mối liên hệ giữa chúng.
Trong những trường hợp không thể sử dụng được SĐĐT thì ta mới nên
dùng quy ước bằng lời để tóm tắt.
Một điều GV cần ghi nhớ là để HS làm tốt các bài toán hợp thì GV
cần hướng dẫn HS rèn luyện tốt kĩ năng giải các bài toán đơn. Vì vậy, việc
rèn cho HS thuần thục khâu tóm tắt các bài toán đơn (chủ yếu bằng SĐĐT)
là không thể thiếu. Việc thuần thục khâu tóm tắt bài toán đơn không những
giúp HS nhanh chóng tìm ra lời giải, mà nó còn là cơ sở giúp HS có kĩ
năng tóm tắt và giải các bài toán hợp.
Ví dụ, với dạng sơ đồ tóm tắt bài toán đơn loại “Nhiều hơn” như:
tuyệt đối (sử dụng thước có chia vạch cm hoặc dòng kẻ ô li). Còn những
bài toán dạng hơn, kém ( hoặc nhiều hơn, ít hơn) thì các phần được chia ra
chỉ mang tính ước lệ song cũng phải đảm bảo được sự chính xác tương đối
(ước lượng bằng mắt).
Đàm Thị Ngân Trường T.H.Hoàng Hoa Thám -Ân Thi
10
Sáng kiến kinh nghiệm Tiểu học Dạy giải toán hợp Lớp 3
Bên cạnh việc luyện cho HS kĩ năng tóm tắt đề toán, GV cũng cần
chú trọng luyện cách nêu bài toán theo tóm tắt rồi giải. Chẳng hạn:
Nêu bài toán theo tóm tắt sau rồi giải:
50 kg
Bao gạo:
15 kg
Bao ngô:
? kg
HS có thể nêu thành bài toán:
Bao gạo cân nặng 50 kg, bao ngô cân nặng hơn bao gạo 15 kg. Hỏi
bao ngô cân nặng bao nhiêu ki - lô - gam ?
Khi đã hiểu được rõ gốc gác của sơ đồ như vậy thì HS sẽ chọn được
ngay phép tính cộng để giải bài toán.
Với cách dạy học như vậy, việc dạy giải bài toán hớp có 2 phép tính
sẽ thuận lợi và dễ dàng hơn nhiều. HS sẽ giải được không mấy khó khăn
bài toán có dạng tóm tắt:
50 kg
Bao gạo:
15 kg ? kg
Đàm Thị Ngân Trường T.H.Hoàng Hoa Thám -Ân Thi
11
Toán 3).
GV thường hướng dẫn HS giải từng bước như sau:
- Bài toán cho biết gì ? (Thùng thứ nhất đựng 18 lít dầu, thùng thứ hai
đựng nhiều hơn thùng thứ nhất 6 lít dầu)
- Vậy muốn biết thùng thứ hai đựng bao nhiêu lít dầu em làm thế nào ?
(lấy 18 + 6 = 24 (lít))
- Bây giờ đã biết thùng thứ nhất đựng 18 lít dầu, thùng thứ hai đựng
24 lít dầu. Vậy muốn biết cả hai thùng đựng bao nhiêu lít dầu, em
làm thế nào ? (Lấy 18 + 24 = 42 (lít)).
Thực tế, cách trên rất dễ thực hiện, nó vừa làm cho bài giảng trở nên
suôn sẻ, trôi chảy, lại vừa làm cho HS đỡ mệt óc vì không phải động não
nhiều. Đó chính là cách giải bài toán theo lối tổng hợp. Ở đây, bám theo lời
văn của đề bài, ta lần lượt giải 2 bài toán đơn:
Bài toán 1: ……… Tìm số lít dầu ở thùng thứ hai.
Bài toán 2: …………Tìm số lít dầu ở cả hai thùng.
Kết hợp (tổng hợp) lại ta có cách giải bài toán đã cho.
Song cách làm này không đặc trưng cho phương pháp tìm cách giải
của các bài toán trong toán học và trong thực tế. Do đó, nó không giúp HS
nắm được đường lối chung để giải các bài toán, không giúp HS giải được
các bài toán khó hơn trong toán học và trong cuộc sống sau này. Ngẫm lại
quãng đường học tập thuở ấu thơ của mình, tôi có thể khẳng định chắc
chắn rằng, chính tôi là minh chứng sống về những lỗi lầm của phương
pháp dạy học nói trên. Tuy vậy, phương pháp này lại có thể áp dụng hữu
hiệu cho các HS yếu kém, bởi ở những HS này, kĩ năng phân tích và tổng
Đàm Thị Ngân Trường T.H.Hoàng Hoa Thám -Ân Thi
13
Sáng kiến kinh nghiệm Tiểu học Dạy giải toán hợp Lớp 3
hợp rất hạn chế, cần dẫn dắt từng bước nhỏ thì các em mới hiểu ra vấn đề.
Vì vậy, GV cần có sự điều chỉnh trong cách dạy và nên nhớ chỉ nên dùng
một cách rất hạn chế phương pháp trên.
3. Trình bày bài giải:
Khi đã tìm được cách giải bài toán thì việc cuối cùng cần làm là trình
bày bài giải. Phần trình bày bài giải các bài toán hợp (ở lớp 3) bao gồm 2
câu lời giải, 2 phép tính và đáp số. Hầu hết các bài toán có lời văn đều có
chung một cấu trúc trình bày bài giải: Sau mỗi câu lời giải là một phép tính
tương ứng, cuối cùng ghi đáp số ở góc bên phải.
Tuy nhiên, ở lớp 3 cũng có những bài toán mà câu trả lời lại phải đặt
sau phép tính. Chẳng hạn:
Một lớp học có 33 học sinh, phòng học của lớp đó chỉ có loại bàn
hai chỗ ngồi. Hỏi cần ít nhất bao nhiêu bàn học như thế? (BT2 – Tr71 –
Toán 3).
Với loại bài như thế này, ta có thể trình bày bài giải như sau:
Thực hiện phép chia, ta có:
33 : 2 = 16 (dư 1)
Số bàn có hai HS ngồi là 16 bàn, còn 1 HS nữa cần có thêm một
bàn. Vậy số bàn cần có ít nhất là:
16 + 1 = 17 ( bàn)
Đáp số: 17 cái bàn.
Đàm Thị Ngân Trường T.H.Hoàng Hoa Thám -Ân Thi
15
Sáng kiến kinh nghiệm Tiểu học Dạy giải toán hợp Lớp 3
Việc đặt câu lời giải ở các bài toán đơn cũng như các bài toán hợp
không có gì khó khăn. Tuy nhiên, nếu để ý một chút, ta sẽ thấy nội dung
câu lời giải thường có 2 phần: Phần 1 ghi cái cần tìm, phần 2 ghi phạm vi
cái cần tìm biểu thị.
Ví dụ: Số lít dầu đựng ở thùng thứ hai
Cái cần tìm Phạm vi cái cần tìm biểu thị
Khi hướng dẫn HS đặt câu lời giải, nhiều GV không chú ý đến điều
này nên không có quy định cụ thể. Vì vậy mới xảy ra tình trạng HS trả lời
theo cảm tính, lúc thế này, lúc thế khác. Đương nhiên, trừ những trường
kiện của bài toán ( cái đã cho, đã biết), đâu là câu hỏi của bài toán (cái cần
tìm).
b - Bước 2: Tóm tắt bài toán. Tóm tắt để thiết lập mối quan hệ giữa
dữ kiện và yêu cầu của bài. Để làm rõ điều này, chúng ta nên hướng HS
tóm tắt bằng SĐĐT. Trong trường hợp không thể sử dụng được SĐĐT thì
mới dùng quy ước bằng lời.
c - Bước 3: Dựa vào dữ kiện, điều kiện và câu hỏi của bài toán, phân
tích bài toán qua hệ thống câu hỏi đi từ câu hỏi của bài toán đến cái đã cho.
Đàm Thị Ngân Trường T.H.Hoàng Hoa Thám -Ân Thi
17
Sáng kiến kinh nghiệm Tiểu học Dạy giải toán hợp Lớp 3
d - Bước 4: Trình bày bài giải thành 2 bước theo thứ tự ngược lại
quá trình phân tích bài toán (dựa vào kết quả phân tích ở bước 3).
e - Bước 5: Kiểm tra bài giải. kiểm tra lại lời giải, phép tính và kết
quả tính xem đã phù hợp và đúng với yêu cầu bài toán chưa. Đây là một
yêu cầu bắt buộc giúp HS có thói quen tự kiểm tra, đánh giá bài làm của
mình để tránh được những sai sót không đáng có.
*
* *
Đàm Thị Ngân Trường T.H.Hoàng Hoa Thám -Ân Thi
18
Sáng kiến kinh nghiệm Tiểu học Dạy giải toán hợp Lớp 3
PHẦN III – KẾT LUẬN
I- KẾT QUẢ:
Sau khi chuyên đề “ Giải toán có lời văn” được triển khai và thực
hiện trong toàn khối 3, kết quả chúng tôi thu được thật đáng mừng. Hầu hết
các em HS trong khối đều có một cách trình bày bài giải thống nhất, khoa
học và rõ ràng. Đại đa số các em đã biết suy nghĩ và tìm ra lời giải. Riêng
các em HS khá giỏi, ngoài việc giải thuần thục các bài toán hợp trong
chương trình SGK, các em còn tiếp thu và thực hành giải các bài toán hợp
hữu hiệu nhất là một phương pháp có nội dung không chỉ thay đổi theo
Đàm Thị Ngân Trường T.H.Hoàng Hoa Thám -Ân Thi
20
Sáng kiến kinh nghiệm Tiểu học Dạy giải toán hợp Lớp 3
từng tiết học mà theo từng nhu cầu tiếp thụ của HS. Mỗi HS có một khả
năng nhận thức khác nhau, vì vậy, chúng ta cần phải dựa vào tình hình
thực tế để điều chỉnh cách dạy làm sao cho có hiệu quả nhất. Chỉ có như
vậy, công sức lao động của chúng ta bỏ ra mới không bị uổng phí. Kết quả
mới thể hiện đúng giá trị của nó.
III- Ý KIẾN ĐỀ XUẤT:
Để nâng cao hiệu quả giảng dạy của giáo viên, đồng thời nâng cao
chất lượng học tập của học sinh, giúp các em nắm vững phương pháp giải
toán nói chung và phương pháp giải toán hợp nói riêng, tôi xin đề xuất một
số ý kiến sau:
1. Về phía nhà trường:
- Thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề bồi dưỡng,
nâng cao trình độ chuyên môn cho giáo viên.
- Hàng năm tổ chức các chuyên đề về dạy giải toán theo từng nội
dung cụ thể để phục vụ tốt cho công tác giảng dạy ở mảng kiến thức này.
- Khi nhập các đầu sách, thư viện của nhà trường cần lưu ý chọn lọc
các loại sách tham khảo có chất lượng của các tác giả, nhà xuất bản có uy
tín để phục vụ cho giáo viên và học sinh trong việc giảng dạy và học tập.
2. Về phía giáo viên:
- Không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của bản
thân bằng cách tự học, tự bồi dưỡng, tự cập nhật các thông tin và phương
pháp mới thông qua đồng nghiệp, qua sách tham khảo, qua mạng internet,
…
Đàm Thị Ngân Trường T.H.Hoàng Hoa Thám -Ân Thi
21
Sáng kiến kinh nghiệm Tiểu học Dạy giải toán hợp Lớp 3
2. Tạp chí Thế giới trong ta ( CĐ – T3/ 8 – 2004)
3. Chuyên đề Giáo dục Tiểu học ( Tập 11/ 2004)
Đàm Thị Ngân Trường T.H.Hoàng Hoa Thám -Ân Thi
23
Sáng kiến kinh nghiệm Tiểu học Dạy giải toán hợp Lớp 3
4. Chuyên đề Giáo dục tiểu học ( Tập 13 / 2005)
Đàm Thị Ngân Trường T.H.Hoàng Hoa Thám -Ân Thi
24
Sáng kiến kinh nghiệm Tiểu học Dạy giải toán hợp Lớp 3
Ý kiến đánh giá của BGH trường Tiểu học Hoàng Hoa Thám:
Đàm Thị Ngân Trường T.H.Hoàng Hoa Thám -Ân Thi
25