Phân tích hoạt động tiêu thụ sản phẩm ở công ty cổ phần may và dịch vụ Hưng Long - Pdf 22

PHẦN I

MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Kinh tế nước ta đang tăng trưởng với tốc độ cao, song song với nó nhu
cầu về tiêu dung trong đời sống hàng ngày cũng cao. Cùng với yêu cầu về số
lượng không ngừng tăng lên thì yêu cầu về chất lượng cũng khắt khe hơn. Là
một nước đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa. Việt Nam đã,
đang và sẽ trở thành một thị trường tiêu thụ sản phẩm may mặc hấp dẫn
không chỉ đối với các DN SXKD trong nước mà còn là thị trường xuất khẩu
của nhiều nước tỏng khu vực và trên thế giới. Đồng thời trong quá trình hội
nhập kinh tế thế giới đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay và sự cạnh tranh khốc
liệt của kinh tế thị trường làm cho thị trường may mặc ngày càng phức tạp,
có nhiều biến động và khó dự đoán trước, đòi hỏi các DN phải chủ động sang
tạo trong quá trình SXKD của mình.
Trong quá trình SXKD, hoạt động tiêu thụ sản phẩm giữ vai trò quan
trọng nhất, trong đó khách hàng là nhân vật trung tâm của mọi hoạt động trao
đổi trên thị trường. Hoạt động trong nền kinh tế thị trường, các DN phải giải
quyết cho được 3 vấn đề cơ bản: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản
xuất cho ai? Hay nói cách khác, xét cho cùng là làm sao DN phải tạo ra sản
phẩm đáp ứng được nhu cầu khách hàng.
Không giống nền kinh tế tự cung tự cấp trước đây, sản xuất là thượng
đế, các DN cứ sản xuất theo kế hoạch, chỉ tiêu được giao còn việc tiêu thụ
sản phẩm là của Nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường, khách hàng mới là
thượng đế, đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất luôn luôn là
mục tiêu cao nhất mà DN muốn hướng tới. Vì vậy, để đáp ứng được nhu cầu
1
của khách hàng ngày càng tăng, DN không những chỉ SXKD các sản phẩm
mà DN có lợi thế mà phải làm sao cho các sản phẩm đó ngày càng phù hợp
với mong muốn, yêu cầu của khách hàng. Hay nói rộng ra, hoạt động tiêu thụ
sản phẩm không phải chỉ đơn thuần là đem bán những cái mình có, mình sản

1.4 Phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Phạm vi về nội dung
Nội dung chủ yếu của đề tài là tập trung nghiên cứu về hoạt động tiêu
thụ sản phẩm của Công ty Cổ phần May và dịch vụ Hưng Long.
1.4.2 Phạm vi không gian
Đề tài được nghiên cứu tại Công ty Cổ phần May và dịch vụ Hưng
Long. Địa chỉ: Km24 – QL5A, xã Dị Sử, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.
1.4.3 Phạm vi thời gian
- Thời gian thực hiện đề tài: Từ ngày 15/09/2012 đến ngày 14/02/2013.
- Thời gian nghiên cứu đề tài: Số liệu tại thời điểm nghiên cứu được thu
thập từ các thông tin đã được công bố từ năm 2008 – 2011.
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan tài tiệu
2.1.1 Cơ sở lý luận
2.1.1.1 Khái quát chung về hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
a. Khái niệm về sản phẩm và hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
* Sản phẩm: SP là những hàng hóa, dịch vụ, tiện nghi mà người bán
mong muốn và cần đem trao đổi trên thị trường để đáp ứng cho người tiêu
dùng, nó thường là giá trị không sử dụng của người bán (là người sở hữu nó)
nhưng lại là giá trị sử dụng đối với người tiêu dùng (là người không sở hữu
nó), người bán đạt được mục tiêu đặt ra trong quá trình SXKD của mình (cụ
thể là mục tiêu trong quá trình kinh doanh).
* Hoạt động tiêu thụ sản phẩm:
Hoạt động TTSP là quá trình kinh tế bao gồm nhiều giai đoạn có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau như: nghiên cứu, dự báo thị trường, tổ chức thực
hiện chiến lược SP, chính sách nguồn lực, chiến lược giá, hoạt động phân
phối bán SP và chiêu thị.
b. Vai trò của hoạt động tiêu thụ sản phẩm

có thể tiêu thụ với mức giá mà hai bên cùng chấp nhận.
- Nghiên cứu, dự báo thị trường là quá trình phân tích, giả thiết để tìm ra:
5
T H H’ T’
Sản xuất
TTSP
+ Các hành vi tiêu dùng của khách hàng.
+ Các cách ứng phó của các đối thủ cạnh tranh, của bạn hàng.
+ Các biến động của khoa học công nghệ có tác động đến cấu trúc SP
của DN.
+ Các hành vi của cơ chế quản lý vĩ mô trong và ngoài nước trong các
chặng đường biến động ở tương lai.
+ Tìm kiếm thị trường mục tiêu và sẵn sàng thay đổi khi có biến động
xấu của thị trường. Từ đó tìm ra đường lối, biện pháp thích hợp để thúc đẩy
hoạt động TTSP và phát triển hoạt động SXKD của DN.
* Mục tiêu của việc nghiên cứu, dự báo thị trường:
- Mục tiêu của nghiên cứu, dự báo thị trường và các hoạt động Marketing
khác là tìm ra đúng nhu cầu của khách hàng, của thị trường – cái mà DN có tiềm
lực thực hiện để đáp ứng, tức là làm cho SP phù hợp với nhu cầu.
Khi chưa có các hoạt động
nghiên cứu, dự báo thị
trường và marketing
Khi có các hoạt động
marketing ở các mức độ
khác nhau
Kết quả mong muốn của
hoạt động marketing
Sơ đồ 2.2: Các mức độ kết quả đạt được của hoạt động nghiên cứu,
dự báo thị trường và marketing
- Tìm ra đối thủ cạnh tranh, đối thủ tiềm lực và thủ đoạn, hành vi mà họ

Thu thập số liệu (các thông tin
ban đầu, thô, sơ cấp mà đến
bước sau cần xử lý)
Xử lý dữ liệu
Đưa ra kết quả nghiên cứu, dự
báo thị trường (dưới dạng lượng
hóa chi tiết)
Nghiên cứu kiểm chứng
Nghiên cứu khám phá
Nghiên cứu mô tả
Phân tích dữ liệu
Giải thích thông tin
Sơ đồ 2.3: Chương trình nghiên cứu, dự báo thị trường
Để cho quá trình nghiên cứu, dự báo thị trường đạt được các yêu cầu
đề ra cần chú ý một số nội dung sau:
- Xác định đúng vấn đề cần nghiên cứu.
- Việc đặt kế hoạch phải đạt yêu cầu là thu đủ dữ liệu, thông tin với độ
tin cậy cao mà thời gian và chi phí bỏ ra là nhỏ nhất.
- Lựa chọn phương pháp thu thập số liệu sao cho:
+ Mỗi dữ liệu chứa đựng thông tin phải phù hợp với mục tiêu nghiên cứu.
+ Dữ liệu phải có giá trị về mặt định lượng và có độ tin cậy cao.
+ Dữ liệu thu thập phải đảm bảo nhanh, có tính chất thời sự và ít tốn kém.
- Xử lý dữ liệu phải đưa lại kết quả tốt cho công tác dự báo thị trường.
- Kết luận nghiên cứu, dự báo thị trường cần phải được ước lượng hóa
chi tiết vì nó liên quan chặt chẽ đến việc kinh doanh của mỗi DN.
- Nên sử dụng tin học và toán kinh tế trong nghiên cứu, dự báo thị trường.
* Khách hàng – nhân vật trung tâm của mọi hoạt động trao đổi trên thị trường:
- Khách hàng là trung tâm điểm của các hoạt động trao đổi trên thị
trường vì khách hàng vừa là mục tiêu, vừa là động lực, vừa là phương tiện và
vừa là hệ điều tiết của sự phát triển của các DN.

khi hình thành chính sách sản phẩm, DN mới có phương án đảm bảo đối với
những sản phẩm mà thị trường yêu cầu. Nếu chính sách SP không đảm bảo
một sự tiêu thụ chắc chắn hay không đảm bảo một thị trường chắc chắn thì
hoạt động TTSP sẽ rất mạo hiểm và dễ dẫn đến thất bại. Chính sách SP đảm
bảo cho DN thực hiện mục tiêu chiến lược kinh doanh như lợi nhuận, vị thế
và an toàn.
* Chính sách sản phẩm
9
Đặc điểm của sản xuất SP là nó không phải là giá trị sử dụng của người
bán nhưng phải là giá trị sử dụng của người mua. Sản phẩm muốn được
người mua chấp nhận thì nó phải có chất lượng, giá cả, mẫu mã, phù hợp với
thị hiếu người tiêu dùng. Trong việc xây dựng chính sách sản phẩm của DN
mình, các nhà DN cần phải giải đáp được các vấn đề sau: Khách hàng cần
sản phẩm gì của DN? Tức là bán cái hàng cần chứ không phải bán cái doanh
nghiệp có.
Để xây dựng chính sách SP, DN có thể tiến hành theo các nội dung sau:
- Xây dựng cơ cấu chủng loại SP tiêu thụ trong nền kinh tế thị trường,
đặc biệt là các DN sản xuất, ít DN nào lại chỉ sản xuất một loại sản phẩm vì
nền kinh tế luôn biến động, điều này sẽ dẫn đến rủi ro trong kinh doanh là
điều khó tránh khỏi. Mà một trong những mục tiêu của DN là độ an toàn cao,
giảm độ thiểu rủi ro, vì vậy các DN phải đưa ra một cơ cấu chủng loại SP
phong phú đa dạng ra thị trường để đáp ứng nhu cầu cũng rất phong phú, đa
dạng của khách hàng, đồng thời tạo thế cạnh tranh đam bảo duy trì và phát
triển vị thế sẵn có của DN trên thị trường.
- DN có thể lựa chọn cơ cấu, chủng loại SP tiêu thụ theo các hướng sau:
+ Lựa chọn và mở rộng SP tiêu thụ theo hướng cạnh tranh, để thực
hiện tốt được chính sách này nhà quản trị tiêu thụ phải nắm vững tình hình
cạnh tranh trên thị trường, xác định được thế lực và vị thế của DN mình để từ
đó xây dựng mặt hàng kinh doanh là độc quyền, cạnh tranh hay vừa cạnh
tranh vừa độc quyền cho phù hợp với đặc điểm SXKD của DN cũng như tình

các điều kiện về thời gian và không gian cụ thể.
Các nhân tố tác động đến giá cả:
- Chi phí sản xuất để tạo ra SP: bao gồm cả chi phí cố định và chi phí
biến đổi. Rõ ràng DN không thể chấp nhận một giá cả thấp hơn chi phí này.
Giá cả xấu nhất mà DN có thể nhận được là giá cả tối thiểu phải đảm bảo cho
11
DN hòa vốn. Tất nhiên, trong một vài trường hợp cá biệt, DN buộc phải hạ
giá bán thấp hơn cả mức chi phí sản xuất để giải tỏa các SP đã sản xuất bị ế
ẩm, chấp nhận một “thất bại” để chuyển sang một tình thế mới.
- Quan hệ cầu, cung: là một nhân tố tác động khách quan lên việc tăng
hay giảm giá của một SP.
- Sức mua của đồng tiền: cũng là một nhân tố ảnh hưởng khá lớn đến
việc tăng hay giảm giá một SP. Khi lạm phát, đồng tiền mất giá thì giá cả
nhất định sẽ leo thang và nhu cầu về SP sẽ biến đổi ghê ghớm (tùy theo tính
chất công dụng của SP).
- Yếu tố thị hiếu và tâm lý khách hàng: đây là một yếu tố ảnh hưởng
đến giá cả SP mà khi định giá DN phải quan tâm đúng mức.
* Chiến lược chiết giá, bớt giá
Chiết khấu thương mại (khối lượng hàng hóa lớn), chiết khấu thanh toán
(mua hàng trả tiền ngay), chiết khấu chức năng áp dụng cho các cấp của kênh
phân phối, chiết khấu thời vụ; bớt giá: được áp dụng khi người tiêu dùng bán lại
hàng cũ và mua hàng mới.
* Chiến lược thay đổi giá (giá không cố định mà thay đổi thường xuyên):
Tăng giá: khi cầu hàng hóa đó tăng nhanh một cách quá mức, lạm phát…
Giảm giá: khi chúng ta dư thừa năng lực sản xuất, do thị phần giảm do
sức ép cạnh tranh hoặc là do chúng ta muốn chiếm lĩnh thị trường của kẻ khác.
c. Tổ chức mạng lưới tiêu thụ sản phẩm
Để có thể tiêu thụ được SP, DN cần phải có mạng lưới tiêu thụ của
mình. Thực chất của việc xây dựng mạng lưới tiêu thụ là DN thiết kế các
kênh phân phối cho SP của mình để từ đó có thể cung cấp hàng hoá cho

Người Tiêu Dùng
Người Tiêu Dùng
Người Tiêu Dùng
Người Tiêu Dùng
Đại Lý
Bán Lẻ
Bán
Buôn
Bán Lẻ
Bán Lẻ
Đại Lý
Bán Lẻ
Đại Lý Bán
Buôn
K1
K2
K3
K4
K5
K6
- Kênh ngắn nhất (K
1
): Đó là hình thức bán hàng trực tiếp tại cửa hàng của
DN; thường kênh này sử dụng để phân phối cho các SP mau hỏng, mua về dùng
ngay (lương thực, thực phẩm…)
- Kênh thứ hai (K
2
, K
3
): dung cho các mặt hàng đặc biệt cao cấp, đắt tiền

14
- Bán hàng trực tiếp tại tất cả các cửa hàng mẫu của DN, đó là điểm
bán có tính chất thử nghiệm để xem xét khảo sát thị hiếu, nguyện vọng của
khách hàng; nắm chắc và cụ thể hóa điều mà thị trường và người tiêu dùng
đòi hỏi.
- Quảng cáo tuyên truyền:
+ Khái niệm: Quảng cáo tuyên truyền là cách sử dụng chữ viết, tiếng
nói, hình ảnh, SP mẫu để trưng bày, thông báo cho người tiêu dùng về SP của
người bán (DN) với mục đích thu hút sự chú ý và lôi kéo hành vi mua SP của
người tiêu dùng.
+ Các phương tiện quảng cáo: áp phích, pano, đóng gói SP, đài phát
thanh, truyền hình, quảng cáo trên internet, tờ rơi, sách, báo, tạp chí, phim
ảnh riêng về SP,…
+ Nguyên tắc quảng cáo: gợi mở; đặc trưng, tiêu biểu, độc đáo; thường
xuyên lặp lại và đúng độ; trung thực; văn minh, tôn trọng người tiêu dùng;
thiết thực, hiệu quả; biết dừng lại đúng lúc.
+ Chiêu hàng (yểm trợ, xúc tiến bán hàng): là các biện pháp tổng hợp
ngoài các biện pháp đã xét ở trên để khuyến khích việc bán. Đó là các giải
pháp độc đáo, công phu mà các chuyên gia marketing của DN phải tổ chức
thực hiện (xổ số SP, hội chợ, triển lãm, chiêu đãi, chính sách tín dụng, hội
nghị khách hàng, các hoạt động từ thiện xã hội, các biện pháp bảo hiểm SP,
xây nhà tình nghĩa, trợ cấp lũ lụt, tài trợ cho các hoạt động xã hội, thể dục thể
thao,…)
e. Tổ chức thực hiện kế hoạch tiêu thụ sản phẩm
Thực chất của nội dung này là quá trình thực hiện hợp đồng mua bán
hàng hoá với khách hàng hoặc là đáp ứng tức thời yêu cầu của người mua ở
các cửa hàng, quầy hàng thuận tiện.
Đối với hình thức bán buôn, mua bán theo hợp đồng, tuỳ theo số lượng
hàng hoá, phương thức giao nhận thanh toán mà công số nhân viên bán hàng
15

Hoạt động SXKD nói chung của DN cũng như hoạt động TTSP nói
riêng không thể khép kín mà luôn luôn có các mối liên hệ ảnh hưởng xung
quanh, nói cách khác luôn luôn nằm trong môi trường kinh doanh và chịu ảnh
hưởng của môi trường đó. Cụ thể hơn tức là hoạt động TTSP của DN luôn
chịu những tác động bên trong lẫn bên ngoài DN. Nhiệm vụ của những nhà
quản lý là cần phải chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động TTSP của DN
để từ đó nghiên cứu và đề ra các biện pháp giải quyết nhằm tận dụng những
tác dộng tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực.
a. Các nhân tố khách quan
Đó là những nhân tố bên ngoài DN không thuộc tầm kiểm soát của DN
do vậy DN chỉ cần cố gắng tìm hiểu các nhân tố này để từ đó điều chỉnh hoạt
động của DN cho phù hợp.
- Chính sách kinh tế của nhà nước
Mặc dù nền kinh tế nước ta vận động theo cơ chế thị trường nhưng vẫn
chịu sự quản lý kiểm soát của nhà nước. Và để kiểm soát được nền kinh tế thị
trường nhà nước không tiến hành tác động trực tiếp vào nền kinh tế nhằm
điều chỉnh các chủ thể kinh tế hoạt động theo định hướng của nhà nước.
Những công cụ đó là những chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước, nhờ đó
mà nhà nước điều tiết nền kinh tế điều chỉnh cung cầu. Có thể hạn chế cung
cầu một số ngành hàng hay khuyến khích phát triển một số mặt hàng.
Đối với các DN nói chung với DN SXKD nói riêng thì nhà quản lý
phải nắm bắt được định hướng phát triển kinh tế của nhà nước phải hiểu rõ
những chính sách cơ chế quản lý kinh tế của nhà nước và kết hợp với nghiên
cứu thị trường để từ đó đề ta được mục tiêu chiến lược và kế hoạch của DN
cho phù hợp với tình hình của nền kinh tế thị trường và chính sách của nhà
nước. Và điều đó cũng bao hàm kế hoạch, mục tiêu của hoạt động tiêu thụ
sản phẩm cũng phải phù hợp với chính sách đường lối của nhà nước. Cụ thể
17
hơn là DN hạn chế sản xuất những SP mà nhà nước hạn chế sản xuất, không
khuyến khích, chỉ sản xuất những loại sản phẩm được nhà nước cho phép

động TTSP của DN gặp nhiều khó khăn và ngược lại.
- Các nhân tố thuộc về người tiêu dùng
Nói đến nhân tố ảnh hưởng tới TTSP thì người ta phải xem xét ai là
người TTSP. Hay nói cách khác khách hàng sử dụng sản phẩm của DN như
thế nào? Và chính vì vậy người tiêu dùng có ảnh hưởng rất lớn thậm chí là
lớn nhất tới kết quả hoạt động TTSP của DN. Người tiêu dùng mua gì? mua ở
đâu? mua như thế nào? luôn là câu hỏi đặt ra trước các nhà DN. Phải trả lời
và tìm cách trả lời câu hỏi này mới giúp DN đứng vững và phát triển trong cơ
chế thị trường. Và khi DN trả lời những câu trả lời này điều đó có nghĩa là
DN đã xác định được bán gì, bán như thế nào và bán ở đâu để đáp ứng người
tiêu dùng. Những hoạt động đó của DN có phù hợp hay không có đáp ứng kịp
thời nhu cầu người tiêu dùng hay không điều đó được thể hiện qua công tác
TTSP. Kết quả tốt khi đáp ứng đầy đủ những yêu cầu mà người tiêu dùng đặt
ra. Chính vì vậy mà các DN hiện nay luôn luôn coi khách hàng là thượng đế
và việc nghiên cứu khách hàng luôn là mối quan tâm hàng đầu trong cơ chế
thị trường. Để nghiên cứu người tiêu dùng người ta dựa vào các đặc điểm đó
là: Thu nhập, tâm lý, thị hiếu, trình độ văn hoá, tầng lớp xã hội, lứa tuổi, giới
tính, tập quán tiêu dùng… Những đặc điểm trên sẽ ảnh hưởng tới sự lựa chọn
và quyết định của người tiêu dùng khi tiến hành quá trình mua SP, họ sẽ
quyết định mua những gì? Chất lượng như thế nào? mua ở đâu? mua như thế
nào? thanh toán bằng phương thức nào? sử dụng ra sao… Từ những đặc điểm
người tiêu dùng DN luôn luôn cố gắng đáp ứng nhu cầu và hơn nữa còn gợi
mở nhu cầu của người tiêu dùng nhằm tăng doanh thu và hiệu quả trong công
tác TTSP.
- Các điều kiện kỹ thuật công nghệ
19
Trong thế kỷ XXI này thành tựu đáng kể nhất của loài người đó là trình
độ phát triển của khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại, chính điều đó đem lại
cho DN rất nhiều thách thức. Đặc biệt là các DN sản xuất luôn luôn đón đầu
theo đuổi công nghệ sản xuất tiên tiến để tạo ra những SP mới có công dụng

công tác tiêu thụ sản phẩm của DN cũng phụ thuộc rất lớn và chất lượng sản
phẩm, chất lượng sản phẩm càng cao th́ khả năng tiêu thụ càng lớn và ngược
lại. Ngoài ra chất lượng được DN bán ta và duy tŕ sẽ tạo lập nên uy tín kinh
doanh của DN và nó sẽ là điều kiện để DN có nhiều khách hàng hơn.
- Mạng lưới phân phối của DN
Lựa chọn kênh và thiết lập đúng đắn mạng lưới của kênh tiêu thụ có ý
nghĩa to lớn đến việc thúc đẩy TTSP. Kênh tiêu thụ là đường đi của SP từ
DN đến tay người tiêu dùng.
Mạng lưới phân phối là toàn các kênh mà DN đó thiết lập và sử dụng
trong phân phối SP. Việc thiết lập kênh phân phối cần phải căn cứ vào chính
sách chiến lược tiêu thụ mà DN đang theo đuổi khả năng nguồn lực của DN
(sức mạnh tài chính, khả năng sản phẩm, đội ng̣ cán bộ tiêu thụ, vị trí địa lý,
danh tiếng, kinh nghiệm trong phân phối…) tính của khách hàng (số lượng
khách hàng sự phân bố của khách hàng trên vùng địa lý, thói quen tiêu
dùng, khả năng thanh toán…) đặc tính tuổi thọ SP, mức độ cồng kềnh, tính
phức tạp về mặt kỹ thuật, các dịch vụ bán hàng cầu phải có vị trí của sản
phẩm trong thang sản phẩm các kênh của đối thủ cạnh tranh mặt hàng thay
thể, luật pháp…để làm sao có khả năng truyền tài và thực hiện hàng hoá cùng
cách cao nhất với chi phí thấp nhất.
- Quảng cáo và hoạt động xúc tiến bán hàng
Quảng cáo và việc sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng để thông
tin về một SP hay về bản thân DN cho đối tượng nhận tin (khách hàng) trong
21
một khoảng không gian xác định. Hoạt động quảng cáo làm cho khách hàng biết
đến công ty và SP của DN, đồng thời sẽ làm doanh thu TTSP tăng lên.
Tuy nhiên, hoạt động quảng cáo cũng làm tăng chi phí hoạt động của
DN nên cần phải cân nhắc nhiều yếu tố để xác lập ngân sách cho quảng cáo.
Bên cạnh quảng cáo thì công việc xúc tiến bán hàng, tuyên truyền, khuyến
mại, tặng quà sản phẩm các hội chợ triển lãm trưng bày, giới thiệu sản phẩm,
các hội nghị…cũng ảnh hưởng tích cực tới hoạt động TTSP. Những hoạt


2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Khung phân tích
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Thu thập số liệu thứ cấp: thông qua các tài liệu, số liệu có sẵn phục vụ
nội dung đề tài. Các tạp chí, sách, báo, tài liệu trên internet… và các báo cáo
tốt nghiệp khóa trước liên quan đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh
nghiệp.
- Thu thập số liệu sơ cấp: bằng việc quan sát và ghi chép thông qua giao tiếp
với các cán bộ, công nhân viên của phòng kinh doanh, phòng tài chính kế toán của
Công ty Cổ phần May và dịch vụ Hưng Long trong công việc để nắm được tình
hình TTSP của công ty.
2.2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu
Phân tích số liệu là phương pháp dùng lý luận và dẫn chứng cụ thể tiến
hành phân tích theo chiều hướng biến động của các sự vật, hiện tượng, tìm ra
nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả của hiện tượng trong phạm vi nghiên
cứu từ đó tìm ra biện pháp giải quyết.
23
2.2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu
Chúng tôi tiến hành xử lý số liệu chủ yếu áp dụng kỹ thuật tính toán
trên công cụ Excel trong bộ MicroSoft Office và sử dụng máy tính cá nhân
trong những tính toán đơn giản.
2.2.2.3 Phương pháp so sánh
Sử dụng các chỉ tiêu tuyệt đối và tương đối để so sánh các yếu tố với
nhau để thấy được xu hướng và mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích.
So sánh thực hiện giữa năm nay với năm trước để thấy rõ xu hướng biến động
về lao động, tình hình tài sản, nguồn vốn của Công ty. So sánh theo chiều dọc
để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể. So sánh theo chiều ngang
của nhiều kỳ để thấy được sự biến động của các chỉ tiêu qua các niên độ kế

SX
: Số lượng sản phẩm loại i sản xuất trong kỳ
Q
CK
: Số lượng sản phẩm loại i tồn cuối kỳ
b. Bằng thước đo giá trị
Đó là lượng sản phẩm tiêu thụ được biểu hiện bằng doanh thu tiêu thụ:
DT
i
= Q
i
x P
i
Trong đó: DT
i
: Doanh thu tiêu thụ của sản phẩm i trong kỳ
Q
i
: Khối lượng sản phẩm i được tiêu thụ trong kỳ
P
i
: Giá bán của một đn vị sản phẩm i
2.2.3.2 Chỉ tiêu hiệu quả tiêu thụ
Hiệu quả kinh doanh là sự so sánh giữa kết quả đầu ra với nguồn lực
đầu vào để tạo ra đầu ra đó. Trong đó các nguồn lực đầu vào là: Lao động, tư
liệu lao động, đối tượng lao động, vốn vay. Các kết quả đầu ra là: Giá trị tổng
sản lượng, doanh thu, lợi nhuận.
Khi phân tích các chỉ tiêu, chúng ta cần so sánh thực tế với kế hoạch
nhằm đánh giá cả tình hình thực hiện kế hoạch của các chỉ tiêu.
Ngoài ra, chúng ta còn có thể so sánh tình hình tiêu thụ thực tế với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status