DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BTNMT Bộ Tài Nguyên Môi trường
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
KTX Ký túc xá
NXB Nhà xuất bản
WHO Tổ chức Y tế thế giới
BYT Bộ Y tế
DANH MỤC BẢNG
B ng 2.1: Giá tr các thông s ô nhi m l m c s tính toán giá tr ả ị ố ễ à ơ ở ị
t i a cho phép trong n c th i sinh ho tố đ ướ ả ạ 12
B ng 2.2: Các ph ng pháp x lý c b n n c th iả ươ ử ơ ả ướ ả 14
B ng 3.1. Công th c cây trong thí nghi mả ứ ệ 26
B ng 4.1. T ng l ng n c tiêu th v n c th i sinh ho t c th ả ổ ượ ướ ụ à ướ ả ạ ụ ể
t iạ
khu ký túc xá K (1 n m h c = 10 tháng)ă ọ 30
B ng 4.2. Các th nh ph n ô nhi m chính có trong n c th i ký túc ả à ầ ễ ướ ả
xá K 31
B ng 4.3. K t qu x lý n c th i sinh ho t b ng mô hình bãi l c ả ế ả ử ướ ả ạ ằ ọ
ng m tr ng cây sau 2 ng yầ ồ à 32
B ng 4.4. K t qu x lý n c th i sinh ho t b ng mô hình bãi l c ả ế ả ử ướ ả ạ ằ ọ
ng m tr ng cây sau 5 ng yầ ồ à 35
B ng 4.5. K t qu x lý n c th i sinh ho t b ng mô hình bãi l c ả ế ả ử ướ ả ạ ằ ọ
ng m tr ng cây sau 7 ng yầ ồ à 38
B ng 4.6. K t qu x lý n c th i sinh ho t b ng mô hình bãi l c ả ế ả ử ướ ả ạ ằ ọ
ng m tr ng cây phát l cầ ồ ộ 40
B ng 4.7. K t qu x lý n c th i sinh ho t b ng mô hình bãi l c ả ế ả ử ướ ả ạ ằ ọ
ng m tr ng cây lá dongầ ồ 42
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1: S h th ng x lý n c th i b ng mô hình bãi ơ đồ ệ ố ử ướ ả ằ
l c ng m tr ng câyọ ầ ồ 25
2.2.1. Hi n tr ng ô nhi m n c th i trên th gi iệ ạ ễ ướ ả ế ớ 12
2.2.2. Hi n tr ng ô nhi m n c th i sinh ho t Vi t Namệ ạ ễ ướ ả ạ ở ệ 13
2.2.3. Các ph ng pháp x lý n c th i sinh ho t ươ ử ướ ả ạ 14
2.3. T ng quan v mô hình bãi l c ng m tr ng câyổ ề ọ ầ ồ 21
2.3.1. Khái ni m v bãi l c ng m tr ng câyệ ề ọ ầ ồ 21
2.3.2. S l c v th c v t trong mô hình bãi l c ng m tr ng câyơ ượ ề ự ậ ọ ầ ồ 21
2.3.3. S l c v các lo i v t li u l c trong bãi l c ng m tr ng câyơ ượ ề ạ ậ ệ ọ ọ ầ ồ .23
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1. i t ng v ph m vi nghiên c u Đố ượ à ạ ứ 24
3.2. Th i gian, a i m nghiên c u ờ đị đ ể ứ 24
3.3. N i dung nghiên c uộ ứ 24
3.4. Ph ng pháp nghiên c uươ ứ 24
3.4.1. Ph ng pháp thu th p d li uươ ậ ữ ệ 24
3.4.2. Ph ng pháp i u tra, kh o sát th c aươ đ ề ả ự đị 25
3.4.3. Ph ng pháp b trí thí nghi mươ ố ệ 25
3.4.4. Ph ng pháp l y m u v phân tích m uươ ấ ẫ à ẫ 26
Phần 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
4.1. T ng quan v i h c Thái Nguyênổ ề Đạ ọ 28
4.2. Hi n tr ng n c th i sinh ho t khu ký túc xá K - i h c Thái ệ ạ ướ ả ạ Đạ ọ
Nguyên 30
4.3. anh gia va ban luân kh n ng x lý n c th i sinh ho t c a mô ́ ́ ̀ ̀Đ ̣ ả ă ử ướ ả ạ ủ
hình bãi l c ng m tr ng cây theo th i gian.ọ ầ ồ ờ 32
4.3.1. K t qu x lý n c th i sinh ho t b ng mô hình bãi l c ng m ế ả ử ướ ả ạ ằ ọ ầ
tr ng cây sau 2 ng y ồ à 32
4.3.2. K t qu x lý n c th i sinh ho t b ng mô hình bãi l c ng m ế ả ử ướ ả ạ ằ ọ ầ
tr ng cây sau 5 ng y ồ à 35
4.3.3. K t qu x lý n c th i sinh ho t b ng mô hình bãi l c ng m ế ả ử ướ ả ạ ằ ọ ầ
tr ng cây sau 7 ng y ồ à 37
khu vực kể cả nước mặt lẫn nước ngầm đang bị ô nhiễm nghiêm trọng. Việc ô
nhiễm nguôn nước sạch đã ảnh hưởng trực tiếp đời sông và sức khỏe của các
dân tộc, cả hiện tại và tương lai xa.
Hiện nay, nước thải sinh hoạt tại các khu ký túc xá chủ yếu được xử lý
yếm khí qua các bể phốt. Song do lượng sinh viên tập trung với số lượng lớn,
hệ thống xử lý nước thải bằng bể phốt do bị hạn chế về dung tích cũng như
khả năng xử lý. Do đó dẫn đến nước thải đầu ra không đảm bảo Quy chuẩn
cho phép hiện hành. Nước thải đầu ra đã qua xử lý nhưng vẫn còn màu vàng,
1
màu đen và bốc mùi hôi thối gây ô nhiễm nghiêm trọng các khu ký túc xá
đồng thời làm ô nhiễm nguồn nước mặt nơi tiếp nhận.
Các thành phần ô nhiễm chính đặc trưng thường thấy ở nước thải sinh
hoạt là BOD
5
, COD, Nitơ và Photpho. Một tính chất đặc trưng nữa của nước
thải sinh hoạt là không phải tất cả các chất hữu cơ đều có thể bị phân hủy bởi
các vi sinh vật và lượng dư thừa này thoát ra khỏi các quá trình xử lý sinh học
cùng với bùn. Vì vậy, lượng nước thải sinh hoạt khi xả ra môi trường sẽ gây ô
nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Có nhiều phương pháp xử lý nước thải sinh hoạt: phương pháp cơ học,
phương pháp vật lý, phương pháp hóa học, phương pháp sinh học… Trong đó
phương pháp sinh học là phương pháp đem lại hiệu quả cao về mặt kinh tế,
không để lại nhiều ảnh hưởng tới môi trường, phù hợp và dễ áp dụng ngoài
thực tế. Trong một phạm vi nhất định, phương pháp này không cần dùng đến
hóa chất mà dùng chính hệ vi sinh vật có sẵn trong nước thải để phân hủy các
chất bẩn.
Chính vì lý do trên, để góp phần nghiên cứu các giải pháp công nghệ nhằm
làm sạch nước ô nhiễm và trên cơ sở đó có thể tái sử sụng được, bảo vệ nguồn
nước tiếp nhận, nhất là bảo vệ chất lượng nước các thủy vực gần khu kí túc, tôi đã
tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu xử lý nước thải sinh hoạt khu ký túc xá
không đáng kể.
Đặc điểm của nước thải sinh hoạt là chúng có hàm lượng lớn các chất
hữu cơ dễ bị thủy phân (hydratcacbon, chất béo, protein) các chất vô cơ dinh
dưỡng (photphat, nitơ), trứng giun, sán, cùng các vi sinh vật (cả vi sinh vật
gây bệnh) chủ yếu là vi khuẩn tùy từng vùng, từng nơi mà hàm lượng chất ô
nhiễm là khác nhau, vì nó phụ thuộc vào điều kiện của vùng, chất lượng bữa
ăn, lượng nước sử dụng và các công trình tiếp nhận nước thải.
Ở nước ta lượng nước thải phát sinh trung bình trên một đầu người là
100-150 lít/người/ngày. Ở các nước phát triển có thể lên tới 400
lít/người/ngày [3].
2.1.1.2. Thành phần và tính chất của nước thải sinh hoạt
Thành phần và tính chất của nước thải phụ thuộc rất nhiều vào nguồn
nước thải, ngoài ra lượng nước thải ít hay nhiều cũng phụ thuộc ở loại hình
sinh hoạt.
4
Hiện nay, người ta có 2 cách để tính mức tạo ta nước thải sinh hoạt:
- Cách thứ nhất quy ra lượng chất thải tổng số, chất thải hữu cơ và vô
cơ cho một người trong một ngày.
- Cách thứ 2 tính được chi tiết hơn thông qua tính thông số cơ bản trong
đánh giá chất lượng nước.
Nước thải sinh hoạt chiếm 80% lượng nước được cấp cho sinh hoạt.
Nước thải sinh hoạt thường chứa các tạp chất khác nhau. Các thành phần này
bao gồm: 52% chất hữu cơ, 48% chất vô cơ. Ngoài ra trong nước thải sinh
hoạt thường chứa nhiều loài sinh vật gây bệnh và các độc tố của chúng. Phần
lớn các loài vi sinh vật có trong nước thải là các vi rút, vi khuẩn gây bệnh tả,
vi khuẩn gây bệnh lị, vi khuẩn gây bệnh thương hàn
Nước thải sinh hoạt thường chứa các thành phần dinh dưỡng cao. Nhiều
trường hợp lượng các chất dinh dưỡng này vượt quá nhu cầu phát triển của vi
sinh vật dùng trong xử lý bằng phương pháp sinh học, trong các công trình xử
lý nước theo phương pháp sinh học, người ta cần lượng dinh dưỡng trung bình
thức ăn, vàng da
- N, P: đây là những nguyên tố đa lượng. Nếu nồng độ trong nước quá
cao dẫn đến hiện tượng phú dưỡng hóa (sự phát triển bùng phát của các loại
tảo, làm cho nồng độ ô xy trong nước rất thấp vào ban đêm gây ngạt thở và tử
vong các loài sinh vật, trong khi đó vào ban ngày nồng độ ô xy rất cao do đó
quá trình hô hấp của tảo thải ra).
- Màu: mất mỹ quan.
- Dầu mỡ: gây mùi, ngăn cản sự khuếch tán ô xy trên bề mặt [3].
2.1.1.4. Các chỉ tiêu đánh giá nước thải sinh hoạt
*Độ pH
Độ pH là một trong những chỉ tiêu xác định đối với nước cấp và nước
thải. Chỉ số này cho biết có cần phải trung hòa hay không và tính lượng hóa
chất cần thiết trong quá trình xử lý đông tụ, khử khuẩn… Trị số pH
thay đổi sẽ ảnh hưởng đến quá trình hòa tan, keo tụ, làm tăng hay giảm tốc
độ phản ứng, nó ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của vi sinh vật trong nước.
PH của nước thải có một ý nghĩa quan trọng trong quá trình xử lý nước thải.
Trong thực tế, các công trình xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học
thường làm việc tốt trong khoảng pH 7 – 7,6. Thường vi sinh vật phát triển tốt
nhất trong môi trường trung tính pH từ 7 – 8. Các nhóm vi sinh vật khác nhau
có mức giới hạn pH khác nhau. Ví dụ vi khuẩn nitrit phát triển thuận lợi ở
6
khoảng pH từ 4,8 – 8,8, còn vi khuẩn nitrat pH từ 6,5 – 9,3. Vi khuẩn lưu
huỳnh có thể tồn tại trong môi trường pH từ 1 – 4. Với nước thải sinh hoạt
thường có pH từ 7,2 – 7,6 [7].
*Hàm lượng các chất rắn
Hàm lượng các chất rắn là một trong những chỉ tiêu vật lý đặc trưng và
quan trọng nhất của nước thải. Nó bao gồm các chất nổi, chất lơ lửng, keo và
chất hòa tan. Các chất rắn trong nước thải bao gồm các chất vô cơ hòa tan
hoặc không hòa tan như đất đá và các dạng huyền phù lơ lửng. Các chất hữu
cơ như xác vi sinh vật, tảo, động vật phù du…
xử lý. Chỉ số này không quan trọng [6].
*Màu
Nước thải thường có màu, thường có màu từ nâu đến đen hay đỏ nâu.
Màu của nước được tạo ra do:
- Các chất hữu cơ trong xác động, thực vật phân rã tạo thành.
- Nước có sắt và mangan ở dạng hòa tan.
- Nước có chất thải công nghiệp (crom, lignin, tannin). Màu của nước
thường chia hai dạng:
+Màu thực: do các chất hòa tan hay các hạt keo.
+ Màu biểu kiến: là màu do các chất lơ lửng tạo nên. Trên thực tế,
người ta xác định màu thực tế của nước, nghĩa là sau khi lọc bỏ các chất
không tan [6].
*Mùi
Hợp chất gây mùi đặc trưng nhất là H
2
S mùi trứng thối. Các hợp chất
khác, chẳng hạn như indol, skatol, cadaverin và cercaptan được tạo thành dưới
điều kiện yếm khí có thể gây ra những mùi khó chịu hơn cả H
2
S [6].
*Độ đục
Độ đục trong nước là da các hạt rắn vô cơ lơ lửng, các chất hữu cơ phân
rã hay xác động thực vật gây lên. Độ đục làm giảm khả năng truyền dẫn ánh
sáng nước, gây mất cảm quan, giảm chất lượng nước. Các hạt vật chất lơ lửng
hấp thụ các ion kim loại độc và các chất gây bệnh, gây khó khăn cho quá trình
khử khuẩn [6].
*Nhu cầu oxy hóa học (Chemical Oxygen Demand - COD)
COD là lượng oxy cần thiết để oxy hoá các hợp chất hoá học trong
nước bao gồm cả vô cơ và hữu cơ. Như vậy, COD là lượng oxy cần để oxy
hoá toàn bộ các chất hoá học trong nước, trong khi đó BOD là lượng oxy cần
vào bản chất của chất hữu cơ, các chủng loại vi sinh vật, nhiệt độ nguồn nước,
cũng như một số chất có độc tính ở trong nước. Bình thường 70% nhu cầu
oxy được sử dụng trong 5 ngày đầu, 20% trong 5 ngày tiếp theo và 99% ở
ngày thứ 20 và 100% ở ngày thứ 21. Để xác định chỉ sô BOD
5
người ta lấy
một mẫu nhất định cho vào chai sẫm màu, pha loãng bằng một thể tích dung
dịch pha loãng (nước cất bổ sung một vài nguyên tố dinh dưỡng N, P, K
bão hoà oxy theo tỉ lệ tính toán sẵn, sao cho đảm bảo dư lượng oxy hòa tan
cho quá trình phân hủy sinh học), nếu mẫu nước thiếu vi sinh vật có thể thêm
9
một ít nước chứa vi sinh vật vào. Chỉ số BOD càng cao chứng tỏ lượng chất
hữu cơ có khả năng phân huỷ sinh học ô nhiễm trong nước càng lớn [8].
*Hàm lượng Nitơ tổng số (T-N)
Nitơ trong nước thường tồn tại ở các hợp chất protein và các hợp chất
phân hủy: amon, nitrit, nitrat. Chúng có vai trò trong hệ sinh thái nước, trong
nước thải luôn cần một lượng Nitơ thích hợp, mối quan hệ giữa BOD với N và
P có ảnh hưởng đến sự hình thảnh và khả năng oxy hóa của bùn hoạt tính, thể
hiện qua tỷ lệ BOD
5
:N:P [2].
*Hàm lượng Photpho tổng số (T-P)
Photpho trong nước thải tồn tại ở dạng H
2
PO
4
, HPO
4
2-
, PO
- Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 ngày 21 tháng 6 năm 2012
của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Chính phủ về việc
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.
- Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28/02/2008 của Chính phủ về việc
sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng
8 năm 2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.
- Nghị định số 117/2007/NĐ-CP ngày 11/07/2007 của Chính Phủ về
sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch.
- Nghị định số 88/2007/NĐ-CP ngày 28/05/2007 của Chính phủ về
thoát nước đô thị và khu công nghiệp.
- Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/06/2003 của Chính Phủ về phí
bảo vệ môi trường đối với nước thải.
- Quyết định số 09/2005/QĐ-BYT ngày 11/03/2005 của Bộ trưởng Y
tế về việc ban hành tiêu chuẩn ngành: Tiêu chuẩn vệ sinh nước sạch.
- Quyết định số 22/2006/QĐ-BTNMT ngày 18/12/2006 của Bộ Tài
nguyên và môi trường về bắt buộc áp dụng TCVN về môi trường.
- Thông tư 09/2009/TT-BXD quy định chi tiết thực hiện một số nội
dung của Nghị định số 88/2007/NĐ-CP ngày 28/05/2007 của Chính phủ về
thoát nước đô thị và khu công nghiệp.
- Thông tư liên tịch 125/2003/TTLT-BTC-BTNMT ngày 18/12/2003
về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13 tháng 6
năm 2003 của chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.
- Chỉ thị số 02/2004/CT-BTNMT ngày 02/06/2004 của Bộ trưởng Bộ
Tài nguyên và môi trường về việc tăng cường công tác quản lý Tài nguyên
nước dưới đất.
11
- QCVN 01:2009/BYT-Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng
nước ăn uống.
cống lộ thiên vào giữa thế kỷ này. Các sông khác cũng có tình trạng tương tự
trước khi người ta đưa ra các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt.
Nước Pháp rộng hơn, kỹ nghệ phân tán và nhiều sông lớn, nhưng vấn
đề cũng không khác bao nhiêu. Dân Pari còn uống nước sông Seine đến cuối
thế kỷ 18. Từ đó vấn đề đổi khác: các sông lớn và nước ngầm nhiều nơi không
12
còn dùng làm nước sinh hoạt được nữa, 5000 km sông của Pháp bị ô nhiễm
mãn tính. Sông Rhin chảy qua vùng kỹ nghệ hóa mạnh, khu vực có hơn 40
triệu người, là nạn nhân của nhiều tai nạn (như nạn cháy nhà máy thuốc
Sandoz ở Bale năm 1986) thêm vào các nguồn ô nhiễm thương xuyên.
Ở Hoa Kỳ tình trạng thảm thương ở bờ phía đông cũng như nhiều vùng
khác. Vùng Đại Hồ bị ô nhiễm nặng, trong đó hồ Erie, Ontario đặc biệt
nghiêm trọng [9].
2.2.2. Hiện trạng ô nhiễm nước thải sinh hoạt ở Việt Nam
Nước ta có nền công nghiệp chưa phát triển mạnh, các khu công nghiệp
và các đô thị chưa đông lắm nhưng tình trạng ô nhiễm nước đã xảy ở nhiều
nơi với các mức độ nghiêm trọng khác nhau.
Nông nghiệp là nghành sử dụng nhiều nước nhất cho tưới lúa và hoa
màu, chủ yếu là ở đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng. Việc
sử dụng nông dược và phân bón hóa học ngày càng góp thêm phần làm ô
nhiễm môi trường nông thôn.
Công nghiệp là ngành làm ô nhiễm nước quan trọng, mõi ngành có một
loại nước thải khác nhau. Khu công nghiệp Thái Nguyên thải nước biến sông
Cầu thành màu đen, mặt nước sủi bọt trên chiều dài hàng chục cây số. Khu
công nghiệp Việt Trì xả mỗi ngày hàng trăm mét khối nước thải của nhà máy
hóa chất, thuốc trừ sâu, giấy, dệt xuống sông Hồng làm nước bị nhiễm bẩn
đáng kể. Khu công nghiệp Biên Hòa và thành phố Hồ Chí Minh tạo ra nguồn
nước thải công nghiệp và sinh hoạt rất lớn, làm nhiễm bẩn tất cả các sông rạch
ở đây và cả vùng phụ cận.
Nước dùng trong sinh hoạt của dân cư ngày càng tăng nhanh do dân số
Bảng 2.2: Các phương pháp xử lý cơ bản nước thải
14
Chất bẩn Các phương pháp xử lý
- Chất hữu cơ dễ phân
hủy
- Chất rắn lơ lửng (SS)
- Chất hưu cơ bền vững
(COD)
- Nitơ (N)
- Photpho (P)
- Kim loại nặng
- Chất hữu cơ hòa tan
- Phương pháp sinh học hiếu khí như: bùn hoạt
tính, ao hồ hiếu khí, hồ ổn định, lọc sinh học.
- Phương pháp sinh học kị khí như: ao hồ kị khí,
lên men metan, đưa sâu xuống lòng đất.
- Lắng đọng tuyển nổi.
- Hấp phụ bằng than hoạt tính, bơm xuống lòng đất
- Ao hồ sục khí, nitrat hóa, khử nitrat, trao đổi ion.
- Kết tủa bằng vôi, muối sắt, phèn nhôm.
- Kết tủa kết hợp với sinh học, trao đổi ion.
- Trao đổi ion, kết tủa hóa học kết hợp với trồng
cây thủy sinh.
- Trao đổi ion, bán thấm, điện thấm, phương pháp
hiếu khí.
- Phương pháp cơ học
Thực chất phương pháp xử lí cơ học là loại các tạp chất không hòa tan
ra khỏi nước thải bằng cách gạn, lọc và lắng.
Trong phương pháp này thường ứng dụng các công trình sau đây:
+ Song và lưới chắn rác: Để loại bỏ các loại rác và các tạp chất có kích
- Phương pháp trung hòa
Nước thải thường có những giá trị pH khác nhau, muốn nước thải
được xử lý tốt bằng phương pháp sinh học phải tiến hành trung hoà và điều
chỉnh pH về vùng 6,6 – 7,6. Trung hoà bằng cách dùng các dung dịch acit hoặc
muối acit, các dung dịch kiềm hoặc oxit kiềm để trung hoà dịch nước thải [7].
- Phương pháp trao đổi ion
16
Thực chất của phương pháp trao đổi ion là một quá trình trong đó các ion
bề mặt của chất rắn trao đổi với các ion có cùng điện tích trong dung
dịch khi tiếp xúc với nhau. Các chất này gọi là các chất trao đổi ion, chúng hoàn
toàn không tan vào nước. Các chất trao đổi ion có thể là các chất vô cơ hoặc
hữu
cơ có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp [7].
- Phương pháp keo tụ
Trong quá trình lắng cơ học chỉ tách được các hạt rắn huyền phù nhỏ
có kích thước ≥ 10-2mm, còn các hạt nhỏ hơn ở dạng keo không thể lắng được.
Ta có thể tăng kích thước các hạt nhờ tác dụng tương hỗ giữa các hạt phân tán
liên kết vào thành tập hợp các hạt để có thể lắng được. Muốn vậy trước hết cần
trung hoà điện tích của chúng, thứ đến là liên kết chúng lại với nhau. Quá trình
tạo thành các bông lớn từ các hạt nhỏ gọi là quá trình keo tụ [7].
- Phương pháp hấp phụ
Phương pháp hấp phụ được dùng để loại các tạp chất bẩn hoà tan
vào nước mà phương pháp xử lý sinh học cùng các phương pháp khác không
loại bỏ được với hàm lượng rất nhỏ. Thông thường, đây là các hợp chất hoà tan
có độc tính cao hoặc chất có màu, mùi, vị rất khó chịu.
Các chất hấp phụ thường dùng là than hoạt tính, đất sét hoạt tính,
silicagen, keo nhôm, một số chất tổng hợp hoặc chất thải trong quá trình sản
xuất như xỉ tro, mạt sắt, trong đó than hoạt tính được dùng nhiều nhất [7].
- Phương pháp tuyển nổi
Phương pháp tuyển nổi dựa trên nguyên tắc các phân tử trong nước có
18
khác nhau và phụ thuộc vào khả năng tài chính, diện tích đất mà người ta có
thể sử dụng hồ sinh học hay các bể nhân tạo để xử lý [7].
- Phương pháp hiếu khí
Xử lý nước thải bằng phương pháp hiếu khí dựa trên nhu cầu oxy cần
cung cấp cho vi sinh vật hiếu khí có trong nước thải hoạt động và phát triển.
Quá trình này của vi sinh vật gọi chung là hoạt động sống, gồm hai quá trình:
dinh dưỡng sử dụng các hợp chất hữu cơ, các nguồn nitơ và photpho cùng
những ion kim loại khác nhau với mức độ vi lượng để xây dựng tế bào mới,
phát triển tăng sinh khối, phục vụ cho sinh sản, phân huỷ các chất hữu cơ còn lại
thành CO
2
và H
2
O. Quá trình sau là quá trình phân huỷ với dạng oxy hoá các
hợp chất hữu cơ, giống như trong quá trình hô hấp ở động vật bậc cao. Cả hai
quá trình dinh dưỡng và oxy hoá của vi sinh vật có trong nước thải đều cần oxy.
Để đáp ứng được nhu cầu oxy này người ta phải khuấy đảo khối nước thải để
oxy trong không khí được khuyếch tán, hoà tan vào trong nước. Song biện pháp
này chưa thể đáp ứng được đầy đủ nhu cầu về oxy. Do vậy người ta sử dụng các
biện pháp hiếu khí tích cực như thổi khí, thổi bằng khí nén hoặc quạt gió, với áp
lực cao kết hợp khuấy đảo [7].
- Phương pháp yếm khí
Quá trình phân huỷ chất hữu cơ trong điều kiện yếm khí do một quần thể
vi sinh vật (chủ yếu là vi khuẩn) hoạt động không cần sự có mặt của oxy không
khí, sản phẩm cuối cùng là một hỗn hợp khí có CH
4
, CO
2
, N
có trong nước thải làm nguồn dinh dưỡng như: cacbon, kali, photpho, nito
trong quá trình dinh dưỡng các Vi sinh vật sẽ nhận các chất đề xây dựng tế bào
và sinh năng lượng nên sinh khối của chúng tăng lên [7].
- Phương pháp lắng
Những chất lơ lửng (huyền phù) là những chất có kích thước hạt lớn
hơn 10
-4
mm. Những chất lơ lửng trong nước thải gồm những hạt khác nhau
về hình dạng, kích thước, trọng lượng riêng và bản chất xuất sứ. Bản chất của
các dạng huyền phù lơ lửng là không có khả năng giữ nguyên tại chỗ ở trạng
thái lơ lửng. Các hạt lớn sẽ lắng hoặc nổi lên trên mặt nước dưới tác dụng của
trọng lực [7].
- Phương pháp lọc
Lọc là quá trình tách các hạt rắn ra khỏi pha lỏng hoặc khí bằng cách
cho dòng khí hoặc lỏng có chứa hạt chất rắn chảy qua lớp vật ngăn xốp các
20