Phân hệ 1:
Đề xuất sản phẩm mới
Ngoài các sản phẩm truyền thống, công ty cổ phần bánh kẹo
Hải Châu còn không ngừng nâng cao và cải thiện chất lượng,
kiểu dáng và mẫu mã sản phẩm. Hải Châu đã cho ra đời
nhiều loại bánh kẹo mới như:
Kẹo mềm
Bánh kem xốp
Kẹo Jelly
Bánh Quy & Cracker
•
Thiết kế sản phẩm mới:
•
Kẹo mềm : Trong cơ cấu doanh thu 2006 sản phẩm kẹo mềm chiếm
24,7%. HAICHAUCO là Công ty sản xuất kẹo mềm hàng đầu, với dây chuyền
thiết bị hiện đại của Cộng hòa liên bang Đức, các sản phẩm kẹo xốp mềm
Hải Châu chiếm lĩnh phần lớn thị phần của dòng sản phẩm này vượt qua tất
cả các công ty sản xuất kẹo mềm trong nước.
•
Bánh kem xốp : Sản phẩm bánh kem xốp và bánh xốp cuộn được sản xuất
trên 2 dây chuyền của Malaysia công suất 6 tấn/ngày và 3 tấn/ngày. Sản
phẩm của HAICHAUCO vẫn có ưu thế về giá cả, chất lượng cũng không thua
kém các sản phẩm cạnh tranh khác từ các doanh nghiệp trong nước như
Kinh Đô, Bibica, Hải Hà Wonderfarm và hàng nhập khẩu. Doanh thu từ bánh
kem xốp đạt 36,1 tỷ đồng trong năm 2006 tăng 5,2 tỷ đồng. Về tỷ trọng,
dòng sản phẩm này chiếm 10,9%, tăng từ 9% năm 2005. Sản lượng tiêu thụ
đạt mục tiêu chất lượng đề ra.
•
Kẹo Jelly : Là dòng sản phẩm có tốc độ
tăng trưởng nhanh nhất, từ 6,0% năm
2004 đến 8,6% năm 2006, kẹo jelly đem
NLphụ( sữa,
trứng, bơ, chất
tạo thơm, chất
tạo đông
Chế biến Kẹo
Nguyên liệu tạo nên kẹo
Phần 3 : lưu thông
•
Tìm hiểu thị trường
Bánh kẹo là một sản phẩm thuộc ngành công nghiệp
nhẹ có đặc tính kỹ thuật không cao nhưng đòi hỏi vệ
sinh công nghiệp cao. Hiện nay thị trường bánh kẹo
đã mạnh lên rất nhiều với các nhà cung cấp trong và
ngoài nước. Sự phát triển ngày càng đông lực lượng
các nhà sản xuất cung cấp sản phẩm bánh kẹo vừa
thể hiện sự phát triển của toàn ngành vừa bộ lộ
nhiều khó khăn, sự canh tranh giữa các doanh
nghiệp ngày càng gay gắt.
Vì thế để thành công trong kinh doanh thì các doanh
nghiệp nói chung và công ty Hải Châu nói riêng
phải tiến hành công tác nghiên cứu thị trường tiêu
thụ của mình.
Thông qua nghiên cứu thị trường ,
công ty có thể nắm bắt và cập nhật
những thông tin về thị trường tình
hình cung cấp bánh kẹo trên thị
ta phải nhập khẩu 30% sản lượng bánh kẹo tiêu thụ.
Ngoài việc nghiên cứu cung , cầu giá cả thị trường về bánh kẹo công ty bánh kẹo Hải
Châu còn tiến hành nghiên cứu đặc trưng ở từng vùng thị trường , miền bắc , trung ,
nam . việc nghiên cứu như vậy sẽ giúp cho công ty không những bố trí lượng hàng hóa
phù hợp mà còn có các biện pháp tổ chức kênh, luồng phân phối dự trữ, xúc tiến bán
hàng phù hợp.
Lưu thông phân phối sản phẩm
Quy trình phân phối sản phẩm vật chất đến người tiêu dùng
NHÀ
SẢN
XUẤT
Người
bán lẻ
Người
bán lẻ
Người
bán buôn
Đại lý Người
bán buôn
Người
bán lẻ
NGƯỜI
TIÊU
DÙNG
Các nhà quản trị rất quan tâm đến chi phí phân phối. Ở Mỹ nó chiếm tới 30 - 40% giá
thành sản phẩm. Những yếu tố chính trong tổng chi phí phân phối sản phẩm vật
chất là vận chuyển (37%), dự trữ hàng (22%), lưu kho (21%) và xử lý đơn hàng,
phục vụ khách hàng, quản lý phân phối (20%). Các chuyên gia tin rằng có thể tìm
thấy những khoản tiết kiệm lớn trong lĩnh vực phân phối sản phẩm vật chất, vốn
đặc điểm sản phẩm và mục đích sử dụng của khách hàng. Tuy nhiên khách hàng
nào cũng mong muốn được phục vụ tốt với mức chi phí chấp nhận được.
Doanh nghiệp phải tính đến những tiêu chuẩn dịch vụ của đối thủ cạnh tranh và ít ra
cũng đảm bảo mức độ dịch vụ ngang bằng với họ. Nếu mục tiêu là tăng tối đa lợi
nhuận chứ không phải doanh thu, thì doanh nghiệp phải tính toán chi phí để có thể
đảm bảo dịch vụ ở mức cao hơn. Thực tế thì một số doanh nghiệp đảm bảo ít dịch
vụ hơn và tính giá thấp hơn, số khác lại đảm bảo nhiều dịch vụ hơn và tính giá cao
hơn.
Về cơ bản doanh nghiệp phải xây dựng được những mục tiêu của việc phân phối sản
phẩm vật chất để hướng dẫn cho việc lập kế hoạch của mình và triển khai việc phân
phối một cách hiệu quả. Chẳng hạn Coca-Cola muốn “đảm bảo Coke luôn ở trong
tầm tay khi muốn có”, hay IBM muốn “mọi trục trặc được khắc phục trong vòng ba
tiếng đồng hồ ở bất cứ nơi nào trên thế giới”.
Xử lý đơn đặt hàng
Việc phân phối sản phẩm vật chất bắt đầu từ đơn đặt hàng của khách hàng. Ngày nay
các doanh nghiệp đang cố gắng rút ngắn chu kỳ đặt hàng-chuyển tiền, tức là khoảng
thời gian từ khi đưa đơn đặt hàng đến khi thanh toán. Chu kỳ này bao gồm nhiều
bước, nhân viên bán hàng chuyển đơn hàng, đăng ký đơn đặt hàng và đối chiếu
công nợ của khách hàng, lên kế hoạch dự trữ và tiến độ sản xuất, gửi hàng và hóa
đơn tính tiền, nhận tiền thanh toá. Chu kỳ này càng kéo dài thì mức độ hài lòng của
khách hàng và lợi nhuận của doanh nghiệp càng thấp.
Lượng hàng đặt thêm tối ưu có thể xác định được bằng cách xem xét tổng chi phí xử lý
đơn đặt hàng và thực hiện lưu kho ở mỗi mức đặt hàng khác nhau.
Lưu kho
Mọi doanh nghiệp đều phải tồn trữ và bảo quản hàng trong khi chờ bán. Việc lưu kho
sản phẩm là cần thiết vì các chu kỳ sản xuất và tiêu thụ ít khi trùng khớp với nhau.
Nhiều loại nông sản được sản xuất theo mùa, nhưng nhu cầu thì liên tục. Việc lưu
kho sẽ khắc phục được những sai lệch về số lượng và thời gian mong muốn.
Doanh nghiệp phải quyết định số lượng và qui mô những địa điểm cần thiết để bảo
quản sản phẩm. Có nhiều địa điểm bảo quản nghĩa là có thể đưa hàng tới cho
lớn thì chi phí dự trữ càng cao. Những chi phí dự trữ hàng này gồm phí lưu kho, phí vốn,
thuế và bảo hiểm, khấu hao và hao mòn vô hình. Chi phí dự trữ có thể chiếm đến 30%
giá trị hàng dự trữ. Điều này có nghĩa là những người quản trị marketing muốn doanh
nghiệp của mình dự trữ nhiều hàng phải chứng minh được rằng lượng hàng dự trữ lớn
hơn sẽ đem lại phần lợi nhuận gộp tăng thêm lớn hơn phần chi phí dự trữ tăng thêm.
Xác định lượng đặt hàng tối ưu
Lượng đặt hàng tối ưu có thể xác định bằng cách theo dõi tỏng chi phí xử lý đơn hàng và chi
phí dự trữ hàng tương ứng với các mức đặt hàng khác nhau. Hình trên cho thấy chi phí
xử lý đơn hàng trên một đơn vị sản phẩm sẽ giảm xuống khi số đơn vị sản phẩm đặt mua
tăng lên vì chi phí đặt hàng chia đều cho nhiều đơn vị sản phẩm hơn. Chi phí dự trữ trên
một đơn vị sẽ tăng lên khi số đơn vị đặt mua tăng lên vì mỗi đơn vị sẽ tồn tại trong số dự
trữ lâu hơn. Hai đường cong chi phí này cộng lại theo phương thẳng đứng sẽ cho đường
cong tổng chi phí trên một đơn vị sản phẩm. Điểm thấp nhất trên đường cong tổng chi phí
trên một đơn vị sản phẩm chiếu thẳng xuống trục hoành sẽ cho số lượng đặt hàng tối ưu.
Ngày nay càng có nhiều doanh nghiệp chuyển từ mạng lưới cung ứng đón đầu sang
mạng lưới cung ứng theo yêu cầu. Mạng lưới đầu liên quan đến những doanh
nghiệp sản xuất với khối lượng sản phẩm theo dự báo mức tiêu thụ. Doanh nghiệp
tạo ra và dự trữ tại các điểm cung ứng khác nhau, như tại nhà máy, tại các thị
trường phân phối và các cửa hàng bán lẻ. Mỗi điểm cung ứng đều tự động tái đặt
hàngkhi đạt tới điểm đặt hàng. Nếu tình hình tiêu thụ chậm hơn dự kiến, doanh
nghiệp sẽ tìm cách giảm bớt lượng dự trữ hàng bằng cách bảo trợ cho các hợp
đồng và các biện pháp khuyến mãi.
Mạng lưới cung ứng theo yêu cầu do khách hàng chủ động trong đó có phần sản xuất
liên tục và phần dự trữ khi có đơn hàng về. Ví dụ các nhà sản xuất ôtô Nhật Bản
tiếp nhận các đơn đặt hàng mua ôtô, sản xuất rồi gửi đi trong vòng bốn ngày.
Benetton, một nhà thời trang Italia, kinh doanh theo hệ thống đáp ứng nhanh,
nhuộm những chiếc áo len của mình theo những màu đang bấn chạy thay vì cố
gắng dự đoán trước những màu sắc mà công chúng sẽ ưa thích. Việc sản xuất
theo đơn hàng chứ không phải theo dự báo đẫ giảm được rất nhiều chi phí dự trữ
và rủi ro.
kế ho chạ marketing: s nả ph mẩ sẽ
c s n xu t nh th đượ ả ấ ư ế
nào, s d ng, nh ng ngu n l c gì? Chi phí s n xu t làử ụ ữ ồ ự ả ấ
bao nhiêu?
(Ngu n: di n àn doanh nghi p ngày 02/03/2008) ồ ễ đ ệ
Mô t s n ph m và s l ng: s n ph m c mô t ả ả ẩ ố ượ ả ẩ đượ ả
t góc s n xu t, ừ độ ả ấ ♣
g m các chi ti t h p thành, v t li u c u thành, c ồ ế ợ ậ ệ ấ đặ
tính k thu t c a s n ph m. ỹ ậ ủ ả ẩ
s n ph m n c u ng óng chai g m có n c ã qua l c ả ẩ ướ ố đ ồ ướ đ ọ
và x lý, chai, n p, ử ắ
nhãn…
S l ng s n ph m d nh s n xu t: ph i bi t s n phố ượ ả ẩ ự đị ả ấ ả ế ả
m c n nh ng ẩ ầ ữ
s n ph m nh th nào, s l ng bao nhiêu ả ẩ ư ế ố ượ để
áp ng k ho ch marketing và đ ứ ế ạ
t n kho c a DN. ồ ủ
Ph ngươ pháp s nả xu t:ấ DN sẽ s nả xu tấ s nả ph mẩ như th nế ào: quy ♣
trình, công ngh s n xu t s n ph m, chi ti t ho c công o n nào t s n ệ để ả ấ ả ẩ ế ạ đ ạ ự ả
xu t/ gia công bên ngoài, t i sao v ấ ạ
Máy móc thi t b và nhà x ng: c n s d ng nh ng lo i máy móc thi t ế ị ưở ầ ử ụ ữ ạ ế ♣
b nào, công su t bao nhiêu, l y thi t b t ngu n nào (có s n, mua m i…) ị ấ ấ ế ị ừ ồ ẵ ớ
c n ầ
nhà x ng r ng bao nhiêu, b trí nh th nào, k ho ch kh u hao nhà x ng, ưở ộ ố ư ế ế ạ ấ ưở
thi t b … ế ị
Nguyên v t li u và các ngu n l c khác: nhu c u s d ng và t n kho ậ ệ ồ ự ầ ử ụ ồ ♣
nguyên v t li u, ch t l ng và s l ng nh th nào, nguyên v t li u thay th ậ ệ ấ ượ ố ượ ư ế ậ ệ ế
là gì, ai là nhà cung c p, ph ng th c cung c p… Các yêu c u i v i ngu n ấ ươ ứ ấ ầ đố ớ ồ
nhân l c: s l ng lao ng, trình tay ngh … D toán chi phí ho t ng: ự ố ượ độ độ ề ự ạ độ
•
♣Tiến độ kỹ thuật
•
Quy trình xây dựng phản hồi của khách hàng:
– Có rất nhiều sự đánh giá khác nhau của
người tiêu dùng về chất lượng bánh kẹo
của Hải Châu. Bên cạnh những í kiến đóng
góp tích cực thì vẫn tồn tại những í kiến
phê bình tiêu cực. Do đó, Hải Châu cần
phát triển nhiều hơn nữa: đa dạng về mẫu
mã, phong phú về hình thức và đặc biệt
về chất lượng. Có như vậy thì Hỉa Châu
mới có thể trường tồn và phát triển song
hành cùng các công ty khác.
• Sự phản hồi của khách hàng được xây dựng
trên 1 quy trình khoa học và lô gic:
• Dùng thử sản phẩm
•
Cảm nhận
• Cho í kiến đóng góp
•
Từ đó, công ty cần biết mình phải làm gì và
khắc phục như thế nào
• Nhìn chung, sản phảm bánh kẹo Hải Châu bên cạnh những mặt tích
cực thì còn tồn tại 1 số mặt tiêu cực. Để đưa công ty phát triển lên 1
tầng cao mới, đòi hỏi Hải châu phải không ngừng lao động và học tập.
Lắng nghe í kiến phản hồi từ khách hàng để từ đấy đúc rút kinh
nghiệm và lấy đó làm hành trang để phát triển cho sản phẩm sau này.