Lêi nãi ®Çu
Một nền kinh tế thị trường vận hành tốt đồng nghĩa với việc nền kinh tế đó có
một hệ thống tài chính phát triển vững mạnh. Từ khi chuyển nền kinh tế thị trường
phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta đã luôn xác định
phải xây dựng được một nền tài chính quốc gia hiện đại, hiệu quả và vững mạnh,
góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, đặc biệt trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế hiện nay. Trong hệ thống tài chính đó, bảo hiểm đóng một vai trò rất quan
trọng, quan trọng không chỉ vì chức năng gốc của nó là đảm bảo sự an toàn cho cá
nhân, cho các thành phần kinh tế và cho xã hội; mà còn vì chức năng trung gian tài
chính của nó - một kênh dẫn vốn lớn cho nền kinh tế.
Ở Việt Nam, việc chuyển sang nền kinh tế thị trường bắt đầu từ năm 1986,
đặc biệt, trong khoảng 10 năm qua, khi chính sách kinh tế nhiều thành phần đi vào
cuộc sống, tư tưởng cạnh tranh giữa các đơn vị, giữa các thành phần kinh tế được
thừa nhận thì một số doanh nghiệp và mặt hàng của Việt Nam đã vươn ra thị trường
tham gia cạnh tranh và cạnh trạnh được với nước ngoài. Đây chính là biểu hiện kết
quả bước đầu và chủ trương đúng đắn của Đảng trong phát triển kinh tế trước xu thế
hội nhập. Tuy nhiên, trước sự cạnh tranh gay gắt của cơ chế thị trường, bên cạnh
những thành tựu đạt được ban đầu, sức cạnh tranh của phần lớn doanh nghiệp và
hàng hoá của Việt Nam còn kém cả về chất lượng, mẫu mã và giá cả. Tốc độ hội
nhập của Việt Nam hiện nay được đánh giá ở mức trung bình, ngoại trừ lĩnh vực cơ
sở hạ tầng thông tin. Năm 1999, năng lực cạnh tranh của chúng ta đứng thứ 59/62
quốc gia, năm 2001 là 62/67. Như vậy, nhìn chung sức cạnh tranh của ta còn yếu. Vì
vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh trong việc sản xuất và tiêu thụ hàng hoá là vấn đề
sống còn của các doanh nghiệp và nền kinh tế. Việt Nam đã là thành viên của
ASEAN và đang cam kết AFTA, đang trực tiếp buôn bán với hơn 100 quốc gia và
đã ký kết hiệp định thương mại với hơn 70 nước, hiện đang trong giai đoạn đàm
phán tích cực để gia nhập WTO vào cuối năm nay. Trước hết, theo lộ trình của khu
vực mậu dịch tự do Đông Nam Á ( AFTA ) mà thuế quan sẽ phải giảm dần từ 0%
đến 5% vào năm 2006. Trong xu thế này, hàng hoá của Việt Nam sẽ phải cạnh tranh
gay gắt với hàng hoá cùng loại của các nước trên thế giới và trong khu vực, đặc biệt
với các nước ASEAN và Trung Quốc. Do vậy, việc nâng cao khả năng cạnh tranh
từ đó đưa ra một số giải pháp và kiến nghị về phía Nhà nước, với các công ty mẹ và
với công ty để nhằm nâng cao và làm lành mạnh hoá tính cạnh tranh của các công ty
hoạt động trên thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của anh Nguyễn Trần Hưng,
ban lãnh đạo cùng các anh chị trong công ty bảo hiểm liên hiệp UIC đã giúp em
hoàn thành đề tài này. Do kiến thức thực tế cũng như thời gian tìm hiểu và nghiên
cứu đề tài còn hạn chế, đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong
được cô giáo cũng như công ty bảo hiểm liên hiệp UIC đưa ra những lời góp ý và
những hướng dẫn cụ thể để đề tài được hoàn thiện đạt được những mục đích đề ra.
Em xin chân thành cảm ơn!
Chơng I: lý luận chung về năng lực cạnh tranh của công ty
bảo hiểm phi nhân thọ
Sau gn 15 nm thc hin chớnh sỏch i mi v m ca, tng cng hi nhp
quc t v thu hỳt vn u t nc ngoi kt hp vi vic phỏt trin ni lc, th
trng bo him Vit Nam ó phỏt trin vt bc c v cht v lng, ỏnh du mt
bc chuyn cn bn t mt th trng c quyn Nh nc sang mt th trng khỏ
hon chnh vi s tham gia ca nhiu cụng ty trong nc cng nh nc ngoi hot
ng trong tt c cỏc lnh vc bo him.
Nh chúng ta đã biết loại hình bảo hiểm đợc biết đến đầu tiên là bảo hiểm phi
nhân thọ, đó là bảo hiểm hàng hải với những hợp đồng ra đời sớm nhất tại
Gennoa(Italia), năm 1347. Cho đến nay, kinh doanh Bảo hiểm có nhiều thay đổi do
sự phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là yếu tố cạnh tranh.
i. Tổng quan về bảo hiểm phi nhân thọ
1. Khái niệm và đặc điểm của bảo hiểm phi nhân thọ
1.1. Khái niệm về bảo hiểm và bảo hiểm phi nhân thọ
Bảo hiểm là nghành dịch vụ, có vị trí quan trọngtrong nền kinh tế quốc dân, có
phạm vi hoạt động rộng, liên quan đến mọi lĩnh vực trong cuộc sống hàng ngày cũng
nh trong các hoạt động sản xuất kinh doanh. Bảo hiểm không chỉ thực hiện việc huy
động vốn cho nền kinh tế mà điều quan trọng là góp phần đảm bảo ổn định tài chính
cho các cá nhân, gia đình, cho mọi tổ chức và doanh nghiệp để khôi phục đời sống và
Nh vậy, càng nhiều ngời tham gia, quỹ bảo hiểm càng lớn, khả năng chi trả tổn
thất càng lớn, rủi ro đợc chia sẻ cho nhiều ngời hơn. Nguyên tắc này là cơ sở khoa
học giúp các nhà bảo hiểm ớc tính xác suất rủi ro nhận bảo hiểm, định phí và quản lý
quỹ dự phòng chi trả.
Tuy nhiên, nguyên tắc chỉ đợc áp dụng khi:
- Số lợng các rủi ro lớn và tổn thất tơng tự. Nghĩa là, việc quan sát phải đợc tiến
hành trên một số lợng lớn, đồng thời phải trên cơ sở phân nhóm rủi ro, phân
nhóm đối tợng bảo hiểm theo những tiêu thức thích hợp.
- Các rủi ro tổn thất phải độc lập. Việc xảy ra hay không xảy ra của biến cố này
không làm thay đổi khả năng xảy ra của biến cố khác và ngợc lại. Trờng hợp
không thoả mãn, các rủi ro là phụ thuộc, có liên quan và đợc tính là một đơn vị
rủi ro.
b. Nguyên tắc lựa chọn rủi ro.
Không phải bất cứ rủi ro nào cũng đợc bảo hiểm. Tiêu chuẩn cơ bản để một rủi ro
đợc bảo hiểm là:
- Tổn thất là ngẫu nhiên, những rủi ro chắc chắn hoặc gần nh chắc chắn xảy ra
sẽ không đợc bảo hiểm.
- Tần suất và giá trị tổn thất phải chấp nhận đợc, căn cứ vào nguồn thông tin mô
tả và tính toán.
- Bối cảnh xảy ra tổn thất phải xác định đợc, điều này liên quan tới khâu giám
định trong các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ.
- Phí bảo hiểm phải chấp nhận đợc, cần cân nhắc giữa chi phí cho bảo hiểm tơng
ứng với mức độ quan trọng của rủi ro.
- Bảo hiểm không đợc thực hiện với những hoạt động đe doạ tới lợi ích của cộng
đồng.
Nguyên tắc này giúp nhà bảo hiểm tránh phải bồi thờng những tổn thất thấy tr-
ớc, tính đợc mức phí chính xác, lên kế hoạch kinh doanh bảo đảm bồi thờng và có
lợi nhuận. Đồng thời nó còn bảo đảm tính công bằng, tính xã hội của hoạt động
bảo hiểm và tránh đợc những hiện tợng trục lợi bảo hiểm.
c. Nguyên tắc phân tán rủi ro
ra tổn thất. Tuy nhiên, trong trờng hợp cùng một tài sản đợc bảo hiểm với nhiều
nhà bảo hiểm, ngời đợc bảo hiểm sẽ chỉ bồi thờng tổng số tối đa bằng giá trị thiệt
hại, giá trị bồi thờng cho mỗi đơn bảo hiểm tơng ứng với số tiền bảo hiểm của
mỗi đơn vị bảo hiểm so với tổng số. Trờng hợp trên đợc gọi là bảo hiểm trùng.
Với bảo hiểm con ngời phi nhân thọ, do đối tợng bảo hiểm là tính mạng và
tình trạng sức khoẻ của con ngời, do đó khi xảy ra sự kiện đựôc bảo hiểm, ngời đ-
ợc bảo hiểm đợc nhận số tiền chi trả ấn định trớc trong hợp đồng. Đây đợc gọi là
nguyên tắc khoán.
Trên đây là khái niệm và các nguyên tắc cơ bản nhất của bảo hiểm và bảo
hiểm nhân thọ. Bảo hiểm phi nhân thọ hoạt động phải bảo đảm tuân thủ đầy đử
các nguyên tắc trên.
1.2 Đặc điểm kinh doanh của bảo hiểm phi nhân thọ
Có thể nói bảo hiểm phi nhân thọ là khởi đầu của ngành bảo hiểm. Nó bao
trùm toàn bộ mọi lĩnh vực trong đời sống kinh tế xã hội. Các loại hình bảo hiểm
khác đều phát triển dựa trên thực tế nhu cầu, sự phát triển kinh tế và là cơ sở của
bảo hiểm phi nhân thọ. Hợp đồng bảo hiểm đầu tiên là hợp đồng bảo hiểm hàng
hải, ra đời vào thế kỷ thứ XIV, tại Italia - Trung tâm thơng mại lớn nhất của Châu
Âu vào thời kỳ đó. Hợp đồng thực chất là bản thông báo về rủi ro tài chính của
mỗi chuyến tàu, sau đó xác nhận phần bồi thờng tơng ứng với phần phí đóng góp.
Bảo hiểm hàng hải tiếp theo đợc phát triển tại Anh. Đối tợng mở rộng là tàu, đội
thuỷ thủ, nhà buôn và những khoản tiền chuộc khi bị cớp biển. Năm 1680, đơn
bảo hiểm cháy đầu tiên ra đời. Cách mạng công nghiệp vào thế kỷ thứ XIX mang
đến hàng loạt những rủi ro mới, từ đó đã hình thành một số công ty bảo hiểm trên
thế giới.
Kinh doanh bảo hiểm nói chung, bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng mang những
đặc điểm riêng của một ngành dịch vụ đặc biệt. Trớc hêt, sản phẩm bảo hiểm là
sản phẩm vô hình. Thực chất, đó là sự cam kết bảo hiểm cho khách hàng khi xảy
ra sự kiện bảo hiểm. Sản phẩm đợc định giá thông qua giá trị của đối tợng đợc
bảo hiểm nhũng rủi ro và hậu quả tổn thất có thể gặp phải cũng nh quy luật xác
suất gặp rủi ro. Uy tín công ty sẽ là nguồn thông tin quan trọng trong việc lựa
tục hợp đồng.
+ Đề phòng hạn chế tổn thất
Tổn thất trong bảo hiểm phi nhân thọ xuất phát từ rủi ro thiên tai, do bất cẩn,
do yếu tố xã hội. Vì vậy kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ luôn chú trọng đến
khâu này, nhằm làm giảm thiểu tổn thất, giảm bồi thờng và quảng bá doanh
nghiệp. Bảo hiểm nhân thọ không mang đặc điểm tơng tự trong nghiệp vụ.
+ Quản lý quỹ.
Thể hiện rõ nhất qua chiến lợc đầu t quỹ. Thời hạn bảo hiểm ngn mức bồi th-
ờng trong bảo hiểm phi nhân thọ không xác định trớc, vì vậy yêu cầu khả năng
thanh toán và tính thanh khoản của quỹ phải cao hơn so với bảo hiểm nhân thọ.
Quỹ bảo hiểm phi nhân thọ đợc quản lỹ theo kỹ thuật phân chia, cân đối quỹ đợc
thực hiện ngay trong năm nghiệp vụ. Tuy nhiên vấn đề về dự trữ, dự phòng phải đ-
ợc đặt ra và thực hiện một cách nghiêm túc. Do đặc điểm của bảo hiểm phi nhân
thọ là thời hạn hợp đồng ngắn nên kỹ thuật trích lập dự phòng của bảo hiểm phi
nhân thọ hoàn toàn khác với bảo hiểm nhân thọ. Các dự phòng trong bảo hiểm phi
nhân thọ bao gồm: Dự phòng phí, dự phòng bồi thờng và dự phòng dao động lớn.
2. Sự ra đời và phát triển của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ
2.1. Các loại hình công ty bảo hiểm phi nhân thọ chủ yếu
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm, nhất là bảo hiểm phi nhân thọ thờng xuyên
biến động cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội. Đó là do bản chất của
kinh doanh bảo hiểm là kinh doanh rủi ro, mà rủi ro lại luôn thay đổi về nguyên
nhân, chủng loại và mức độ. Hơn nữa nền kinh tế thị trờng cho phép nhiều thành
phần kinh tế tơng ứng với nhiều hình thức sở hữu khác nhau làm cho hoạt động
kinh doanh trở lên đa dạng, đáp ứng nhu cầu chung của toàn xã hội. Bảo hiểm
cũng không nằm ngoài quy luật chung đó. Tuy nhiên do đặc điểm kinh doanh của
bảo hiểm nên pháp luật nói chung vẫn có giới hạn đối với các loại hình doanh
nghiệp bảo hiểm. Về cơ bản có các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm sau:
- Doanh nghiệp nhà nớc:
Là doanh nghiệp do nhà nớc thành lập, đầu t vốn và quản lý với t cách là chủ
sở hữu. Đồng thời, nó là một pháp nhân kinh tế hoạt động theo pháp luật và bình
dạng, với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế và theo hớng hội nhập với
khu vực và trên thế giới. Từ xuất phát điểm chỉ có Bảo Việt, đến nay đã có 27
doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm với nhiều loại hình khác nhau, trong đó có 15
doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, khoảng hơn 7000 đại lý bảo hiểm chuyên
nghiệp với gần 2000 đại lý phi nhân thọ, gn 30 văn phòng đại diện của các công
ty bảo hiểm quốc tế. Dới đây là trích lợc các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
đang hoạt động tại Việt Nam (tính đến năm 2004):
- Bốn doanh nghiệp bảo hiểm nhà nớc là Bảo Việt và Bảo Minh, công ty Tái
bảo hiểm quốc gia Việt Nam(VINARE) và công ty bảo hiểm dầu khí (PVIC). Thị
phần của các công ty này trong năm 2004 nh sau( Theo bản tin của Hiệp hội bảo
hiểm Việt Nam số 2 năm 2004 ):
Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam ( Bảo Việt ) đợc thành lập ngày 17/12/1994,
vốn điều lệ khi thành lập lại (3/1996) là 629 tỷ đồng, thị phần 44,35% và đợc xếp
hạng đặc biệt theo quyết định số 745/TTg của Thủ tớng Chính phủ. Bảo Việt phi
nhân thọ có hệ thống các công ty thanh viên khắp các tỉnh thành trong cả nớc, có
quan hệ với nhiều công ty bảo hiểm trên thế giới.
Công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh ( Bảo Minh ) thành lập ngày
28/11/1994 có vốn điều lệ 45 tỷ đồng, có mạng lới văn phòng đại lý khắp cả nớc,
chiếm 12,77% thị phần.
Công ty liên doanh bảo hiểm dầu khí (PVC) 100% vốn Nhà nớc , đợc thành
lập ngày 23/1/1996 vốn điều lệ 22 tỷ đồng chiếm 14,91% thị phần.
Công ty tái bảo hỉểm quốc gia (VINARE) đợc thành lập ngày 17/9/1994 với
vốn điều lệ 40 tỷ đồng. Chức năng của VINARE là kinh doanh tái bảo hiểm đối
với các doanh nghiệp trong nớc và nớc ngoài.
- Doanh nghiệp cổ phần
+ Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex ( PJICO), thị phần 14,34%. PJICO đợc
thành lập vào ngày 21/06/1996, vốn đăng ký kinh doanh 55 tỷ đồng, tỷ lệ tăng tr-
ởng bình quân 40%. Hiện PJICO có 15 chi nhánh và 20 văn phòng đại diện. Các
nghiệp vụ chủ yếu là bảo hiểm dầu khí, bảo hiểm cháy, bảo hiểm xe cơ giới, bảo
hiểm con ngời phi nhân thọ.
theo quy định của pháp luật về bảo hiểm luôn đợc tạo mọi điều kiện và khuyến khích
phát triển bình đẳng dới sự giám sát của Bộ tài chính.
Những tóm tắt trên cho thấy doanh nghiệp bảo hiểm Nhà nớc vẫn giữ vai trò chủ
đạo trên thị trờng bảo hiểm phi nhân thọ. Hai doanh nghiệp Bảo Việt và Bảo Minh là
những tập đoàn tài chính mạnh, góp phần rất lớn vào sự phát triển của nền kinh tế.
Vốn đăng ký kinh doanh của Bảo Việt phi nhân thọ là 629.5 tỷ đồng, doanh thu phí
không tính VAT là gần 900 tỷ đồng, chiếm 30% thị phần. Đối với Bảo Minh chiếm
hơn 30%thị phần.
2.2.Các hoạt động cơ bản của công ty bảo hiểm phi nhân thọ
Các công ty bảo hiểm thu phí bảo hiểm của ngời bảo hiểm để dùng cho nhiều
mục đích khác nhau, tất cả để phục vụ mục tiêu kinh doanh của công ty. Doanh thu
phí các nghiệp vụ đều có xu hớng tăng và tăng khá. Tốc độ tăng trởng bình quân về
doanh thu phí khoảng 10%. Theo số liệu thống kê từ Vinarem, tốc độ tăng trởng từ
21% năm 2001 đến năm 2004 đã vào khoảng 30%.
Thông thờng phí bảo hiểm sẽ đợc dùng cho các hoạt động chính sau:
- Bồi thờng bảo hiểm:
Bồi thờng có thể coi là sự đền bù chính xác về tài chính, đủ để khôi phục tình
trạng tài chính ban đầu của ngời đợc bảo hiểm nh trớc khi xảy ra tổn thất.
Chi bồi thờng là một khoản chi đã đợc xác định khi định phí bảo hiểm dựa trên
cơ sở số liệu thống kê, là một khoản chi ảnh hởng lớn tới kết quả kinh doanh của
công ty bảo hiểm.
Đối với công ty bảo hiểm, việc chị trả bồi thờng là thực hiện cam kết của mình
theo hợp đồng bảo hiểm khi có tổn thất xảy ra, đây là trách nhiệm trong hoạt
động kinh doanh bảo hiểm.
Có mối liên hệ giữa bồi thờng và quyền lợi đợc bảo hiểm. Mối liên hệ này thể
hiện ở quyền lợi của ngời đợc bảo hiểm đối với đối tợng đợc bảo hiểm (tài sản, xe
cộ,). Khi có khiếu nại, số tiền trả cho ngời đợc bảo hiểm không đợc vợt quá
mức độ quyền lợi của ngời đó.
- Nhợng bảo hiểm.
Chi nhợng bảo hiểm là việc công ty bảo hiểm phải tái bảo hiểm một phần các
hiểm. Bất c khi nào xảy ra sự kiện bảo hiểm, công ty bảo hiểm phải có nghĩa vụ
chi trả bồi thờng một cách sớm nhất cho ngời đớc bảo hiểm theo hợp đồng. Việc
này làm cho công ty bảo hiểm luôn phải đối mặt với yêu cầu về khả năng chi trả
cũng nh tính thanh khoản cao trong các tài sản của mình. Và để có thể thực hiện
đúng hợp đồng, đảm bảo nghĩa vụ của mình đối với khách hàng, công ty bảo hiểm
phải trích lập các quỹ dự phòng nghiệp vụ. Số tiền trích lập các quỹ này chủ yếu
là từ phí bảo hiểm thu của khách hàng và phải ghi nó vào phần tài sản nợ.
- Thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nớc:
Các công ty bảo hiểm cũng là các doanh nghiệp kinh doanh hoạt động theo
pháp luật và vì mục tiêu lợi nhuận, nên cũng phải có nghĩa vụ đóng góp đối vơí
Nhà nớc thông qua các khoản thuế và lệ phí khác. Phí bảo hiểm là một trong
những bộ phận cấu thành nên doanh thu của công ty bảo hiểm, vì vậy nó cũng
góp phần không nhỏ trong việc thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nớc.
Theo luật thuế hiện hành, nghĩa vụ nộp thuế đợc quy định cho doanh nghiệp
bảo hiểm gồm:
+ Thuế giá trị gia tăng tính cho các hoạt động phát sinh doanh thu nh tính trên các
khoản phí bảo hiểm gốc, phí nhận tái bảo hiểm và các loại hình kinh doanh khác.
Theo luật thuế giá trị gia tăng hiện hành của Việt Nam, thuế suất áp dụng cho các
doanh nghiệp bảo hiểm là 10%. Doanh nghiệp đợc khấu trừ đầu vào theo một tỷ
lệ khoán là 5% trên số tiền bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm và các khoản khấu
trừ đầu vào khác theo quy định chung.
+ Thuế thu nhập doanh nghiệp tính trên các khoản lợi tức thu đợc từ hoạt động
kinh doanh bảo hiểm, hoạt động đầu t và các hoạt động khác. Thuế suất đợc quy
định theo các mức tỷ lệ khác nhau tuỳ thuộc vào hình thức pháp lý của công ty
nh doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu t nớc ngoài hay doanh nghiệp bảo hiểm
trong nớc.
Ngoài ra các công ty bảo hiểm còn phải nộp các loại thu khác trong phạm vi
hoạt động cuả mình cho ngân sách nhà nớc nh lệ phí môn bài, thuế nhà đất
- Sử dụng cho đầu t và các hoạt động khác:
Phí bảo hiểm thu đợc của công ty bảo hiểm sẽ có một phần trở thành nguồn
Do cách tiếp cận khác nhau, bởi mục đích nghiên cứu khác nhau, nên trong
thực tế có nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh. Kế thừa các quan điểm của các
nhà nghiên cứu chúng ta có thể thấy rằng: cạnh tranh là quan hệ kinh tế phản ánh
mối quan hệ giữa các chủ thể của nền kinh tế thị trờng cùng theo đuổi mục đích lợi
nhuận tối đa. Đó là sự ganh đua giữa các chủ thể nhằm giành đợc những điều kiện
thuận lợi nhất để thu đợc lợi nhuận siêu ngạch về phía mình. Cạnh tranh còn là ph-
ơng thức giải quyết mâu thuẫn lợi ích kinh tế giữa các chủ thể của nền kinh tế thị tr-
ờng. Cạnh tranh không quyết định bản chất kinh tế- xã hội của các chế độ xã hội.
Tính chất cạnh tranh bị chi phối bởi bản chất kinh tế xã hội của những chế độ xã hội
đó.
Với các quan niệm nh trên, phạm trù cạnh tranh đợc hiểu: cạnh tranh là quan
hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ
thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục tiêu kinh tế của minh, thông thờng là chiếm lĩnh thị tr-
ơng, giành lấy khách hàng cũng nh các điều kiện sản xuất, thị trờng có lợi nhất. Mục
đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi
ích. Đối với ngời sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với ngời tiêu dùng là lợi ích
tiêu dùng và sự tiện lợi.
Khi nghiên cứu về cạnh tranh, các nhà nghiên cứu còn sử dụng các khái niệm:
sức cạnh tranh, khả năng cạnh tranh và năng lực cạnh tranh. Rõ ràng, các khái niệm
trên đều có quan hệ với cạnh tranh, nhng không hoàn toàn đồng nhất với nhau. Trong
thực tế, thì sức cạnh tranh, khả năng cạnh tranh và năng lực cạnh tranh đợc sử dụng
nh là những khái niệm đồng nghĩa.
Vậy năng lực cạnh tranh đợc hiểu nh thế nào, theo một số tài liệu thì năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp có thể đợc định nghĩa chung là năng lực tồn tại, duy trì,
gia tăng lợi nhuận, thị phần trên thị trờng cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ
của doanh nghiệp.
Các kết quả nghiên cứu đều cho rằng, khi nói đến tính chất cạnh tranh thì có
hai loại: cạnh tranh lành mạnh( cạnh tranh bình đẳng với nhau về điều kiện hoặc
cùng sân chơi); cạnh tranh không lành mạnh đối lập với cạnh tranh lành mạnh.
Cạnh tranh đợc phân chia thành nhiều loại dựa trên các tiêu thức khác nhau:
nhuận bình quân. ở đó, C.Mác chỉ rõ trớc hết để đạt mục tiêu bán cùng một loại hàng
hoá đã xuất hiện sự cạnh tranh trong nội bộ ngành, kết quả là hình thành giá trị thị tr-
ờng. Và sau nữa, để đạt mục tiêu giành nơi đầu t có lợi, giữa các chủ thể kinh tế đã
xuất hiện cạnh tranh giữa các ngành, kết quả là hình thành lợi nhuận bình quân và
giá cả sản xuất.
Ngày nay phát triển cách phân loại trên của C.Mác, các nhà kinh tế học chia
thành hai hình thức là cạnh tranh dọc và cạnh tranh ngang.
Cạnh tranh dọc là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có mức chi phí bình quân
thấp nhất khác nhau. Cạnh tranh dọc chỉ ra rằng: sự thay đổi giá bán và lợng bán nói
trên của các doanh nghiệp sẽ có điểm dừng. Sau một thời gian nhất định, hình thành
một giá thị trờng thống nhất. Cạnh tranh dọc sẽ làm cho các doanh nghiệp có chi phí
bình quân cao bị phá sản, còn các doanh nghiệp có chi phí bình quân thấp nhất sẽ thu
đợc lợi nhuận cao.
Cạnh tranh ngang: là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có mức chi phí thấp nhất
nh nhau. Do đặc điểm đó, trong cạnh tranh ngang không có doanh nghiệp nào bị loại
khỏi thị trờng, song giá cả ở mức thấp tối đa, lợi nhuận giảm dần và có thể không có
lợi nhuận. Để hạn chế bất lợi đó cạnh tranh ngang dẫn đến hai khuynh hớng: hoặc là
phải liên minh thống nhất giá bán cao, giảm lợng bán trên thị trơng- xuất hiện độc
quyền. Hoặc là các doanh nghiệp tìm mọi cách giảm đợc chi phí, tức chuyển từ cạnh
tranh ngang sang cạnh tranh dọc nhằm trụ lại đợc trên thị trờng và có lợi nhuận cao.
1.3.Cuối cùng, xét theo phạm vi lãnh thổ, ngời ta nói tới cạnh tranh trong nớc và
cạnh tranh quốc tế có thể diễn ra ở ngay thị trờng nội địa, đó là cạnh tranh giữa hàng
hoá trong nớc sản xuất với hàng ngoại nhập(nhất là hàng nhập lậu).
Các nhân tố cấu thành sức cạnh tranh:
+ Chất lợng hàng hoá tốt.
+ Giá cả thấp.
+ Thời gian và điều kiện dịch vụ. Tức là hàng hoá đa ra thị trờng đúng thời điểm xã
hội cần.
Mt sn phm c coi l cú sc cnh tranh v cú th ng vng khi cú mc
giỏ thp hn hoc khi cung cp cỏc sn phm tng t vi cht lng hay dch v
nhập khẩu thấp hoặc gần bằng không mà vẫn tồn tại và phát triển thì đó là những sản
phẩm có lợi thế cạnh tranh.
Có nhiều nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm:
° Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô, bao gồm:
- Tăng trưởng kinh tế là nhân tố tác động trực tiếp đến sức mua của xã hội, tạo
điều kiện để sản phẩm mở rộng quy mô sản xuất.
- Tài chính - tín dụng có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và khả
năng cạnh tranh của một sản phẩm, tăng trưởng nhanh phu thuộc vào khả năng của
khu vực tài chính trong việc huy động và phân bố có hiệu quả tín dụng vào sản xuất
các sản phẩm. Ngoài ra, lãi suất tín dụng ảnh hưởng đến khả năng vay mượn của các
cơ sở, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm.
- Đầu tư mang lại động lực chủ yếu cho nâng cao khả năng cạnh tranh của các
sản phẩm. Đầu tư là yếu tố rất quan trọng có tính quyết định đến việc đẩy nhanh tốc
độ tăng sản xuất sản phẩm chủ lực.
- Mở cửa thương mại đòi hỏi nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm,
tăng xuất khẩu và tiến hành dỡ bỏ hàng rào nhập khẩu.
- Tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ ảnh hưởng mạnh mẽ đến phát triển
các sản phẩm chủ lực. Tiến bộ kỹ thuật tác động quan trọng đến chi phí sản xuất và
chất lượng sản phẩm hàng hóa.
- Các chính sách vĩ mô trong các lĩnh vực giáo dục đào tạo, ứng dụng tiến bộ
khoa học công nghệ và huy động nguồn vốn tài chính cần thiết cho nâng cao khả
năng cạnh tranh và phát triển các sản phẩm chủ lực.
- Vị trí địa lý đóng vai trò quan trọng trong nâng cao khả năng cạnh tranh, mở
rộng thị trường của các sản phẩm do giảm chi phí vận chuyển, tăng giao lưu với bên
ngoài.
- Phát triển nguồn nhân lực tạo ra những điều kiện thuận lợi cho nâng cao khả
năng cạnh tranh của các sản phẩm.
- Bối cảnh quốc tế như xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa đang gia tăng trở
thành đặc điểm mới nổi bật của nền kinh tế thế giới sẽ đưa đến các mặt thuận lợi,
những cơ hội cũng như những thách thức cho cạnh tranh của các sản phẩm.
- Thông tin về tình hình cung- cầu và giá cả.
- Thông tin về công nghệ mới thích hợp.
- Thông tin về hoạt động và cả thủ đoạn của các đối thủ cạnh tranh.
Trong thời đại bão táp thông tin, các doanh nghiệp còn phải vươn lên nắm
vững và sử dụng thành thạo các phương tiện thông tin hiện đại, kể cả thương mại
điện tử để phục vụ cho hoạt động giao dịch, kinh doanh của mình.
* Khả năng tổ chức sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Điều không thể thiếu đối
với một doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là biết cách tiếp thị, chủ động xông ra
thị trường, tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại, tiến hành đàm phán ký kết
hợp đồng có lợi nhất.
* Khả năng hợp tác hữu hiệu với các doanh nghiệp hữu quan. Tình trạng tranh
mua tranh bán ở thị trường nội địa, tranh bán tranh mua trên thị trường thế giới sẽ
đưa tới chỗ giảm đáng kể khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Do đó, cần phát
huy vai trò của các hiệp hội ngành hàng, tạo thành sự hiệp đồng chặt chẽ khi đưa ra
thị trường thế giới.
* Trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt thì việc đảm bảo “ chữ tín” có ý nghĩa
quan trọng hàng đầu. Những hành động bất tín, gian lận…chỉ có thể đem lại lợi ích
nhỏ nhoi trước mắt, nhưng nhất đinh sẽ làm cho doanh nghiệp thiệt hại nhiều và lâu
dài, mất bạn hàng và chỗ đứng trên thị trường.
* Vị thế chính trị của đất nước: Trên các thị trường quốc tế các chủ thể cạnh
tranh thường có nguồn gốc từ các quốc gia khác nhau với những đặc điểm kinh tế -
xã hội và trình độ phát triển rất khác nhau, do vậy, cạnh tranh giữa họ cũng không
hoàn toàn giống như cạnh tranh giữa các chủ thể cùng một quốc gia trong thị trường
nội địa. Điểm khác biệt cơ bản giữa cạnh tranh trong nội bộ một quốc gia và cạnh
tranh quốc tế là ở chỗ các điều kiện cạnh tranh của các chủ thể thuộc các nước khác
nhau thường không như nhau do chịu ảnh hưởng của các chính sách đối xử có phân
biệt của nước chủ nhà đối với các chủ thể thuộc các nước khác nhau. Vì vậy, vị thế
chính trị của các nước có doanh nghiệp tham gia vào cạnh tranh có ảnh hưởng rất
lớn tới vị thế cạnh tranh của các doanh nghiệp đó trong các thị trường nước ngoài.
Bên cạnh đó, trong cạnh tranh kinh tế quốc tế doanh nghiệp còn phải chịu sự tác
- Lợi thế về chi phí: tạo ra sản phẩm có chi phí thấp hơn đối thủ cạnh tranh.
Các nhân tố sản xuất như đất đai, vốn và lao động thường được xem là nguồn lực để
tạo lợi thế cạnh tranh.
- Lợi thế về sự khác biệt hóa: dựa vào sự khác biệt của sản phẩm làm tăng giá
trị cho người tiêu dùng hoặc giảm chi phí sử dụng sản phẩm hoặc nâng cao tính hoàn
thiện khi sử dụng sản phẩm. Lợi thế này cho phép thị trường chấp nhận mức giá
thậm chí cao hơn đối thủ.
Thông thường việc xác định khả năng cạnh tranh của sản phẩm dựa vào 4 tiêu
chí:
- Tính cạnh tranh về chất lượng và mức độ đa dạng hóa sản phẩm.
- Tính cạnh tranh về giá cả.
- Khả năng thâm nhập thị trường mới.
- Khả năng khuyến mãi, lôi kéo khách hàng và phương thức kinh doanh ngày
càng phong phú hơn.
Nhìn chung đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm phải xem xét các mặt:
chất lượng sản phẩm, chủng loại sản phẩm, tính đa dạng, mẫu mã, bao bì của sản
phẩm, uy tín thương hiệu của sản phẩm, nguồn hàng cung cấp ổn định, giá cả sản
phẩm và công tác Marketing sản phẩm.
Những sản phẩm có khả năng cạnh tranh là những sản phẩm có mức thuế
nhập khẩu thấp hoặc gần bằng không mà vẫn tồn tại và phát triển thì đó là những sản
phẩm có lợi thế cạnh tranh.
Có nhiều nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm:
° Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô, bao gồm:
- Tăng trưởng kinh tế là nhân tố tác động trực tiếp đến sức mua của xã hội, tạo
điều kiện để sản phẩm mở rộng quy mô sản xuất.
- Tài chính-tín dụng có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và khả
năng cạnh tranh của một sản phẩm, tăng trưởng nhanh phu thuộc vào khả năng của
khu vực tài chính trong việc huy động và phân bố có hiệu quả tín dụng vào sản xuất
các sản phẩm. Ngoài ra lãi suất tín dụng ảnh hưởng đến khả năng vay mượn của các
cơ sở, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm.