BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM.
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc.
Bộ môn: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG.
NHIỆM VỤ LÀM KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP.
Số :……/2014.
Họ và tên sinh viên:
Ngành học: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG.
Trình độ đào tạo: Chính quy.
Khóa học: 2011 – 2014.
1. Tên khóa luận tốt nghiệp.
Phân tích tình hình huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam
( Techcombank ) - Chi nhánh Đà Nẵng.
2. Các số liệu ban đầu để làm khóa luận.
Số liệu tình hình hoạt động của Chi nhánh TCB- TP Đà Nẵng qua các năm 2011-
2013. Báo cáo tổng kết hoạt động hàng năm của Chi nhánh. Số liệu về tình hình huy
động vốn, tình hình cho vay
3. Nội dung các phần thuyết minh và tính toán:
Dựa vào phương pháp thống kê, mô tả để phân tích đánh giá hoạt động của
Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam - Chi nhánh Đà Nẵng và tình hình huy
động vốn tại chi nhánh
4. Các bản vẽ, bảng biểu và đồ thị:
Sử dụng các bảng tính toán , các biểu đồ để so sách, tính toán tỷ trọng, mức độ
tăng trưởng, thực trạng và kết quả đạt được qua 3 năm hoạt động 2011-2013.
5. Cán bộ hướng dẫn.
…
6. Ngày giao nhiệm vụ làm đồ án tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp:
Ngày 17 tháng 02 năm 2014
7. Ngày sinh viên phải hoàn thành đồ án tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp:
Ngày 22 tháng 05 năm 2014
Nhiệm vụ đồ án tốt nghiệp, khóa luận tốt Cán bộ hướng dẫn chính
ý kiến đóng góp quý báu của thầy cô và các bạn.
Trân trọng kính chào!
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Khi nền kinh tế phát triển, khi Việt Nam đã gia nhập WTO thì cơ hội việc làm
cũng như thu nhập của người dân tăng lên , đời sống của nhân dân đang ngày
càng được cải thiện rõ rệt. Vì vậy nhu cầu về tiêu dùng trong nền kinh tế nói
chung và người dân nói riêng ngày càng tăng cao. Đối với người dân có thu
nhập ổn định thì nhu cầu đó có thể là một căn hộ đầy đủ tiện nghi hay thậm chí
là một chiếc xe hơi đời mới. Tuy nhiên, không phải lúc nào nhu cầu tiêu dùng
của người dân cũng được thỏa mãn do có nhiều mặt hàng giá quá đắt so với thu
nhập của họ. Việc đáp ứng các nhu cầu này đòi hỏi một nguồn tài chính tương
đối lớn. Nhận thấy thực tiễn đó , một số ngân hàng đã và đang cố gắng nỗ lực
tung ra những chính sách cho vay tiêu dùng phù hợp với bản thân ngân hàng ,
phù hợp với khách hàng mọi tầng lớp nhưng vẫn đảm bảo lợi nhuận và lợi ích
khác cho chính ngân hàng. Các ngân hàng đã liên tục phát triển và trở thành một
trong những tổ chức cấp tín dụng chính trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng . Một
trong những nguyên nhân cơ bản khiến cho ngân hàng có được vị trí thống lĩnh
trên lĩnh vực này là các ngân hàng đã không ngừng khai thác nguồn tiền gửi của
dân cư và coi đây là nguồn vốn hoạt động quan trọng nhất . Nhiều người sẽ
không muốn gửi tiền vào một ngân hàng nếu họ không thấy được rằng mình sẽ
có triển vọng vay lại tiền từ chính ngân hàng đó khi có nhu cầu.
Ngân hàng TMCP Kỹ Thương chi nhánh Đà Nẵng đã và đang phát triển mạng
lưới huy động vốn. Ngân hàng đã đạt được nhiều thành công trong hoạt động
huy động vốn. Qua thời gian thực tập tại chi nhánh, em đã có cơ hội tiếp xúc ,
tìm hiểu các hoạt động , lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng.Từ những kiến thức
đã học ở trường cùng với kiến thức thu nhận được qua quá trình thực tập , em đã
lựa chọn đề tài: “ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN KỸ THƯƠNG VIỆT NAM
của ngân hàng thương mại .
1.1.1/ Khái niệm NHTM:
Để đưa ra được một định nghĩa về NHTM, người ta thường dựa vào tính chất và
mục đích và hoạt động của nó trên thị trường của nó trên thị trường tài chính.Với
mỗi quốc gia khác nhau, sẽ có những quan niệm khác nhau về NHTM.
Theo Luật Ngân hàng Đan Mạch năm 1930 : Những nhà băng thiết yếu bao gồm
những nghiệp vụ nhận tiền gởi,buôn bán vàng bạc,hành nghề thương mại và các giá
trị địa ốc các phương tiện tín dụng và hối phiếu ,thực hiện các nghiệp vụ chuyển
ngân, đứng ra bảo hiểm
Theo Luật Ngân hàng Pháp năm 1941: NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở
hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức
khác, số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu ,tín dụng hay
dịch vụ tài chính.
Tại Việt Nam, theo Luật của các TCTD: Luật số 47/2010/QH12. Căn cứ Hiến
pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 sửa đổi, NH là TCTD tín
dụng thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có
liên quan có liên quan
- Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ,chủ yếu là nhận tiền
gởi ,sử dụng số tiền đó để cho vay và thực hiện các nghiệp vụ thanh toán.
-NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân
hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận góp
phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước.
Mặc dù cách thể hiện khác nhau về nhiều nghĩa, nhưng khi phân tích khai thác
nội dung của các định nghĩa đó, người ta dễ nhận thấy các NHTM đều có chung
một tính chất đó là : việc nhận tiền gởi không kỳ hạn và có kỳ hạn để sử dụng vào
các nghiệp vụ cho vay, đầu tư vào các dịch vụ kinh doanh khác của chính ngân
hàng.
1.1.2/Đặc điểm của NHTM:
Theo định nghĩa, Ngân hàng là trung gian tài chính đứng giữa người đi vay và
người cho vay để kiếm lợi nhuận về mình.
luôn gặp rủi ro không mong muốn .Hơn nữa ,các ngân hàng hoạt động trong nền
kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với nhau ,nên sự sụp đổ của NH nào đó có thể ảnh
hưởng đến các NH hàng khác và ảnh hưởng đến nền kinh tế.Do vậy, cần thiết phải
nhìn nhận đúng vế rủi ro và có biện pháp phòng ngừa là công việc không thể thiếu
tron hoạt động kinh doan hàng ngày của NH.
- Hoạt động của NH chịu sự kiểm tra ,kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước và
Pháp luật,những lý do chính để NH chịu sự quản lý của Nhà nước:
+ Bảo đảm an toàn cho các khoản tiết kiệm của công chúng.
+ Kiểm soát mức cung tiền tệ và tín dụng, phục vụ mục tiêu kinh tế
chung của quốc gia(việc làm và lạm phát)
+ Bảo đảm sự công khai trong việc tiếp cận tới các khoản tín dụng và
các dịch vụ hữu ích của công chúng .
+ Tăng lòng tin của công chúng đối với hệ thống tổ chức,bảo đảm các
khoản tiết kiệm được tập trung cho đầu tư SXKD và đảm bảo quá trình thanh toán
được thực hiện nhanh chóng và hiệu quả
+ Ngăn chặn sự tập trung tiềm lực tín dụng vào tay một số cá nhân hay
tổ chức.
+ Cung cấp cho chính phủ các khoản tín dụng ,thuế và các dịch vụ
khác.
Tuy nhiên,sự quy định phải cân đối và có giới hạn nhằm :
+ Các NH có thể phát triển những dịch vụ mới có thể đáp ứng nhu cầu
của xã hội.
+ Duy trì mức cạnh tranh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ đủ mạnh để
đảm bảo mức giá hợp lý đảm bảo số lượng và chất lượng dịch vụ thỏa đáng cho
công chúng.
- Phải phân bố đầy đủ tránh lãng phí và khan hiếm nguồn lực.
+ Tính hệ thống trong các hoạt động của NH rất cao.Trong quá trình
hoạt động của các NH (các NH trong nước ,giữa các NH trong nước với các NH
nước ngoài) phải có sự liên kết chặt chẽ.
+ Hoạt động kinh doanh của NH diễn ra một cách liên tục theo thời
M=1/rd: hệ số nhân tiền.
rd : tỷ lệ dự trữ bắt buộc
NHNN có thể điều tiết khối lượng tiền cung ứng bằng cách thay đổi
lượng tiền tỷ lệ dự trữ bắt buộc để tăng hoặc giảm khả năng tạo tiền của NHTM từ
đó ảnh hưởng đến khả năng cấp tín dụng cho nền kinh tế do đó đạt được hiệu quả
mà mục tiêu chính sách tiền tệ đặt ra .
1.1.3.3/Chức năng trung gian thanh toán:
Nhờ nhận tiền ký thác của khách hàng và cho khách hàng vay Ngân hàng
mở ra các sổ sách theo dõi,và chuyển tiền trong các giao dịch lẫn nhau của khác
hàng, Ngân hàng sẽ xuất tiền từ tài khoản này sang tài khoản khác hay chuyển tiền
từ nơi này sang nơi khác.Thông qua chức năng này NHTM đã tiết kiệm tiền mặt,
tiết kiệm được chi phí lưu thông tiền mặt, hạn chế vốn bị ứ đọng trong khâu thanh
toán cho khác hàng,thúc đẩy việc lưu thông tiền tệ một cách nhanh chóng.
Thông qua chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán NHTM có
thể tạo và hủy tiền .Lợi dụng điều này NHTW đã sử dụng các công cụ dự trữ bắt
buộc để thực thi chính sách tiền tệ của mình.
1.1.3.4/Chức năng phương tiện thanh toán:
Thông qua chức năng làm trung gian tài chính NHTM làm tăng lượng
tiền trong lưu thông và cung cấp cho những người đầu tư những chứng khoán có
tính lỏng cao hơn và có rủi ro thấp hơn do đó sẽ an toàn hơn khi nhà đầu tư nắm giữ
những chứng khoán sơ cấp do doanh nghiệp, công ty phát hành.
Các NHTM còn cung cấp một danh mục phương tiện thanh toán rất đa
dạng và phong phú : sec chuyển tiền, sec chuyển khoản, thẻ tín dụng sự xuất hiện
của các phương tiện thanh toán này tạo điều kiện cho các doanh nghiệp dễ dàng
giao dịch thương mại, mua bán hàng hoá an toàn nhanh chóng, chi phí thấp.
1.1.4/Các hoạt động kinh doanh cơ bản của NHTM.
1.1.4.1/Hoạt động huy động vốn:
Hoạt động này có vai trò quan trọng vì thực hiện nghiệp vụ này ngân hàng
sẽ huy động được một lượng tiền lớn bên ngoài lưu thông, để ngân hàng hoạt động,
thực hiện cho vay, đầu tư, dự trữ … Thực hiện nghiệp vụ huy động vốn sẽ làm tăng
bảo lãnh ngân hàng khác bằng uy tín và bằng khả năng tài chính của mình đối với
người nhận bảo lãnh. Mức bảo lãnh đối với một khách hàng và tổng mức bảo lãnh
của một ngân hàng thương mại không được vượt quá tỷ lệ so với vốn tự có của ngân
hàng thương mại.
- Hoạt động chiết khấu: Ngân hàng thương mại được chiết khấu thương
phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với tổ chức, cá nhân và có thể tái
chiết khấu các thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức
tín dụng khác.
- Hoạt động cho thuê tài chính: Ngân hàng thương mại được hoạt động
cho thuê tài chính nhưng phải thành lập công ty cho thuê tài chính riêng. Việc thành
lập, tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính thực hiện theo Nghị định
của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính.
1.1.4.3/Các hoạt động khác:
Ngoài các hoạt động trên, NHTM còn thực hiện các nghiệp vụ khác như:
- Kinh doanh ngoại tệ: kinh doanh các loại bao gồm như ngoại tệ, vàng đủ
tiêu chuẩn quốc tế(vàng SJC), các giấy tờ có giá bằng ngoại tế(có khả năng chuyển
đổi ra tiền-trái phiếu,kỳ phiếu ), các phương tiện thanh toán (hối phiếu,sec ).
- Làm trung gian thanh toán cho khách hàng: khi khách hàng có mở tài
khoản tại Ngân hàng và trong tài khoản còn số dư thì khi khách hàng thực hiện một
giao dịch nào đó, thì khách hàng không cần phải trực tiếp thanh toán bằng tiền mặt
mà thay vào đó NH sẽ thay khách hàng trả tiền cho giao dịch đó của khách hàng
thông qua số dư tài khoản của khách hàng.
- Dịch vụ chuyển tiền:là dịch vụ chuyển tiền từ tài khoản này sang tài
khoản khác và ngược lại theo yêu cầu của khách hàng, dịch vụ này gồm chuyển tiền
trong nước và quốc tế, sau khi chuyển tiền xong người nhận sẽ tăng số dư trong tài
khoản của mình một cách nhanh chóng.
-Bảo lãnh cho các thành phần kinh tế trong quá trình mua bán: bảo lãnh
Ngân hàng chính là việc ngân hàng cam kết sẽ thanh toán cho bên thụ hưởng của
hợp đồng khoản đền bù trong phạm vi của số tiền được nêu rõ trong giấy bảo lãnh
nếu bên đối tác không thực hiện được trách nhiệm của mình trong hợp đồng.Ngân
theo các điều kiện đã được hai bên thoả thuận.
- Đầu tư chứng khoán: Chứng khoản là những chứng chỉ có giá tri chuyển
đổi thành tiền. Chứng chỉ có thể là giấy chứng nhận phát hành cổ phiếu, trái phiếu
công ty hoặc dữ liệu điện tử trong máy tính của Trung tâm lưu ký chứng khoán, xác
nhận bạn đã mua cổ phiếu của một công ty nào đó.
Kết luận: Thực hiện các hoạt động trong hoạt động kinh doanh của Ngân
hàng trên sẽ đem lại lợi nhuận cho ngân hàng, đồng thời tạo ra các mối liên hệ lẫn
nhau giữa các hoạt động : khách hàng vừa là người gửi tiền qua ngân hàng vừa là
người đi vay từ ngân hàng và họ được hưởng các dịch vụ mà ngân hàng đem lại.
1.2/Những vấn đề cơ bản của hoạt động huy động vốn trong hoạt động kinh
doanh của NHTM:
1.2.1/Khái niệm về hoạt động huy động vốn:
Huy động vốn có thể xem là một trong những hoạt động sớm nhất trong các
hoạt động của các NHTM. Trong hoạt động sơ khai của hoạt động NH, hoạt động
này chỉ đơn thuần là hoạt động cất trữ các tài sản có giá nhằm mục đích đảm bảo an
toàn và lúc này,người trả phí là người gởi tiền chứ không phải là NH, các khoản tiền
chỉ được xem đơn thuần là vật được ký gởi chứ hoàn toàn không đóng vai trò là
nguồn vốn đối với các NHTM, tiền này không được xem là tiền tệ theo đúng ý
nghĩa của nó, vì không có khả năng luân chuyển,không sinh ra được lợi nhuận.
Nhưng khi hoạt nhu cầu tín dụng gia tăng, hoạt động ngân hàng phát triển, vị thế
của nó bị đảo ngược, ngân hàng là người phải trả phí (lãi suất-giá cả của tín dụng)
và nguồn tiền được ký gởi thay đổi vai trò của nó, nó trở thành nguồn vốn khả dụng
lớn nhất của mọi Ngân hàng thương mại hiện nay. Nếu trước đây, Ngân hàng là
người bị động trong quan hệ này thì hiện nay hầu hết tất cả các NH đều có chính
sách, phương thức để thu hút nguồn tiền gởi này và chính vì vậy, các phương thức
huy động vốn ngày càng trở nên quan trọng, phong phú và đa dạng hơn. Có thể nói,
hiện nay, hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động hết sức quan trọng
và liên quan đến sự sống của NHTM.
Xuất hiện lâu đời và không ngừng phát triển, vì vậy khái niệm của hoạt động
huy động vốn đã có nhưng thay đổi rất đáng kể, cả về quy mô và hình thức thể hiện.
sách quản lý nguồn vốn đến khâu nhận vốn, khâu giải ngân để sử dụng nguồn vốn
một cách hiệu quả nhất.Bên cạnh đó những nhà quản trị NH cũng luôn tìm cách để
đổi mới, hoàn thiện cho phù hợp với tình hình chung của nền kinh tế.Đó là điều
kiện tiên quyết để đưa đến thành công.
1.2.3/ Các hình thức huy động vốn:
1.2.3.1/Huy động vốn từ các tổ chức kinh tế và cá nhân hộ gia đình:
- Nguồn vốn huy động không kỳ hạn:
Tiền gửi không kỳ hạn: là khoản tiền mà khách hàng gửi vào ngân hàng
nhưng khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào và ngân hàng phải luôn đảm bảo yêu
cầu này.
Mục đích của khách hàng khi gửi tiền vào ngân hàng là an toàn và hưởng
các dịch vụ ngân hàng, tạo mối quan hệ với ngân hàng. Tỷ trọng tiền gửi không kỳ
hạn của tổ chức kinh tế trong tổng nguồn vốn của ngân hàng cao và nguồn vốn này
có tính ổn định tương đối cao vì bao giờ các tổ chức kinh tế cũng duy trì ít nhất ở
một số dư nhất định. Đối với nguồn vốn này ngân hàng chỉ phải trả lãi thấp nhưng
chi phí phi lãi rất cao, đó là chi phí mua và vận hành ATM, chi phí phục vụ
- Nguồn vốn huy động có kỳ hạn:
Đây là khoản tiền mà khách hàng gửi tiền vào ngân hàng với mục đích sinh
lời là chủ yếu. Tiền gửi có kỳ hạn của cá nhân và hộ gia đình chiếm tỷ trọng lớn
nhất trong tổng vốn huy động và là nguồn vốn chủ yếu để ngân hàng cho vay.
Nguồn vốn này có tính ổn định cao nhất và ngân hàng phải trả lãi rất cao cho nguồn
vốn này.
1.2.3.2/Huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá:
Ngày nay trong hoạt động kinh doanh của các NHTM cạnh tranh là yếu tố
không thể thiếu được. Các NHTM cạnh tranh nhau về lãi suất huy động đến lãi suất
cho vay. Trong lĩnh vực huy động vốn các NHTM phải luôn luôn tìm các biện pháp
để có thể huy động được đủ nguồn vốn phục vụ cho nhu cầu sử dụng vốn của
mình.Các NHTM không chỉ sử dụng các công cụ truyền thống để huy động vốn mà
còn đưa ra các công cụ mới có hiệu quả hơn để huy động vốn một cách dễ dàng đáp
ứng nhu cầu vốn của mình và kỳ phiếu, trái phiếu và chúng là một trong những hình
chính tiền tệ của một quốc gia cũng ảnh hưởng rất lớn tới nghiệp vụ tạo vốn của
NHTM. Nó được thể hiện ở mục tiêu của chính sách tiền tệ, chẳng hạn khi nền kinh
tế lạm phát tăng, Nhà nước có chính sách thắt chặt tiền tệ bằng cách tăng lãi suất
tiền gửi để thu hút tiền ngoài xã hội thì lúc đó NHTM huy động vốn dễ dàng hơn.
Như vậy, môi trường pháp lí là nhân tố khách quan có tác động rất lớn tới quá trình
huy động vốn của NHTM. Mục tiêu hoạt động của NHTM được xây dựng vào các
qui định, qui chế của Nhà nước để đảm bảo an toàn và nâng cao niềm tin từ khách
hàng.
- Môi trường kinh tế-xã hội:
Tình hình kinh tế - xã hội trong và ngoài nước cũng có tác động không nhỏ
đến quá trình huy động vốn của ngân hàng. Khi nền kinh tế tăng trưởng hay suy
thoái thì nó đều ảnh hưởng tới nghiệp vụ tạo vốn của NHTM. Mọi biến động của
nền kinh tế bao giờ cũng được biểu hiện rõ trong việc tăng, giảm nguồn vốn huy
động từ bên ngoài của ngân hàng. Nền kinh tế tăng trưởng, sản xuất phát triển, từ đó
tạo điều kiện tích luỹ nhiều hơn, do đó tạo môi trường cho việc thu hút vốn của
NHTM thuận lợi. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, lạm phát tăng, người dân
không gửi tiền vào ngân hàng mà giữ tiền để mua hàng hoá, việc thu hút vốn gặp
khó khăn.
- Tâm lý thói quen khách hàng:
Khách hàng của ngân hàng bao gồm những người có vốn gửi tại ngân hàng
và những đối tượng sử dụng vốn đó. Về môi trường xã hội ở các nước phát triển,
khách hàng luôn có tài khoản cá nhân và thu nhập được chuyển vào tài khoản của
họ. Nhưng ở các nước kém phát triển, nhu cầu dùng tiền mặt thường lớn hơn. Ở
khoản mục tiền gửi tiết kiệm có hai yếu tố quan trọng tác động vào là thu nhập và
tâm lý của người gửi tiền. Thu nhập ảnh hưởng đến nguồn vốn tiềm tàng mà Ngân
hàng có thể huy động trong tương lai. Còn yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến sự biến
động ra vào của các nguồn tiền. Tâm lý tin tưởng vào tương lai của khách hàng có
tác dụng làm ổn định lượng tiền gửi vào, rút ra và ngược lại nếu niềm tin của khách
hàng về đồng tiền trong tương lai sẽ mất giá gây ra hiện tượng rút tiền hàng loạt vốn
là mối lo ngại lớn của mọi ngân hàng. Một đặc điểm quan trọng của đối tượng
chất lượng phục vụ, chi phí dịch vụ làm ảnh hưởng tới việc thu hút vốn của ngân
hàng.
Hiện nay, ở nhiều Ngân hàng Việt Nam, trình độ nghiệp vụ của cán bộ có
nhiều bất cập. Vì vậy, cần phải chú trọng vào việc nâng cao trình độ cho cán bộ sao
cho phù hợp với nhu cầu đòi hỏi của kinh tế thị trường.
- Công nghệ ngân hàng:
Trình độ công nghệ ngân hàng được thể hiện theo các yếu tố sau:
Thứ nhất: Các loại dịch vụ mà ngân hàng cung ứng
Thứ hai : Trình độ nghiệp vụ của cán bộ công nhân viên ngân hàng
Thứ ba: Cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ hoạt động kinh doanh của ngân
hàng.
Trình độ công nghệ ngân hàng ngày càng cao, khách hàng sẽ càng cảm thấy
hài lòng về dịch vụ được ngân hàng cung ứng và yên tâm hơn khi gửi tiền tại các
ngân hàng. Đây là một yếu tố rất quan trọng giúp ngân hàng cạnh tranh phi lãi suất
vì khách hàng mà ngân hàng phục vụ, không quan tâm đến lãi suất mà quan tâm đến
chất lượng và loại hình dich vụ mà ngân hàng cung ứng. Với cùng một lãi suất huy
động như nhau, ngân hàng nào cải tiến chất lượng dịch vụ tốt hơn, tạo sự thuận tiện
hơn cho khách hàng thì sức cạnh tranh sẽ cao hơn.
- Các dịch vụ ngân hàng cung ứng:
Một ngân hàng có dịch vụ tốt, đa dạng hiển nhiên có lợi thế hơn so các ngân
hàng có các dịch vụ hạn chế. Trong điều kiện thành phố thiếu bãi đậu xe, ngân hàng
có bãi đậu xe rộng rãi cũng là một lợi thế hoặc ngân hàng có giao dịch mặt đường
trên các phố chính, có hệ thống rút tiền tự động làm việc ngày đêm, có cán bộ giao
dịch niềm nở, có trách nhiệm, tạo được niềm tin cho khách hàng cũng là lợi thế
đáng quan tâm của các NHTM. Khác về cạnh tranh, về lãi suất, cạnh tranh về dịch
vụ ngân hàng không giới hạn, do vậy đây chính là điểm mạnh để các ngân hàng
giành thắng lợi trong cạnh tranh.
- Mức độ thâm niên của một Ngân hàng:
Đối với các khách hàng khi cần giao dịch với một ngân hàng thì bao giờ họ
cũng dành phần ưu ái đối với một ngân hàng có thâm niên hơn là một ngân hàng
TMCP hàng đầu Việt Nam với tổng tài sản lên đến 180.874 tỷ đồng ( tính đến hêt
năm 2011 )
Techombank có cổ đông chiến lược là Ngân hàng HSBC với 20% cổ
phần . Với mạng lưới 300 chi nhánh và phòng giao dịch trong cả nước. Techombank
còn là Ngân hàng đầu tiên được Financial Insights tăng danh hiệu Ngân hàng dẫn
đầu về giải pháp và ứng dụng công nghệ . Hiện tại , với đội ngũ nhân viên hơn
7.800 người, Techombank luôn đáp ứng mọi nhu cầu và dịch vụ của khách hàng,
Techcom bank hiện đang phục vụ cho hơn 2,3 triệu khách hàng cá nhân và trên
66000 doanh nghiệp
Tên đơn vị :Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam.
Hội sở chính:191-Bà Triệu -Hà Nội.
Điện thoại: +084.4.39446368.
Fax: +084.4.39446362.
Logo:
Website: www.techcombank.com.vn.
Trước sự tăng trưởng không ngừng của Techcombank Việt Nam, sau khi mở
nhiều chi nhánh ở các tỉnh thành phố, Techcombank quyết định mở rộng hoạt động
của NH tại thành phố Đà Nẵng, ngày 4/9/1998 Thống đốc Ngân hàng ký quyết định
số 302/1998/QĐ-NHNN cho phép thành lập NHTMCP Kỹ Thương Đà
Nẵng.Techcombank Đà Nẵng khai trương và chính thức đi vào hoạt động từ ngày
28/09/1998 có trụ sở chính đặt tại 244-248 Nguyễn Văn Linh ĐN.Techcombank ĐN
cùng với hệ thống Techcombank toàn quốc cung cấp đầy đủ dịch vụ và phong phú
đa dạng về các loại sản phẩm của NH truyền thống cùng với các dịch vụ mới với
công nghệ hiện đại làm gia tăng tiện ích cho NH, góp phần làm phát triển ngành NH
nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung.Techcombank ĐN được xem là NH trẻ
tuổi nhưng với sự nổ lực cố gắng không ngừng của ban giám đốc cùng với đội ngũ
nhân viên để đưa NH hàng ngày một phát triển, khẳng định vị thế của một NH hoạt
động có hiệu quả, có thị phần lớn và đứng vững trên thị trường.Tính đến nay TCB
+ Chuyển tiền thanh toán đến các NHTM trong toàn quốc thông qua hệ thống viễn
thông , nhanh an toàn và chính xác.
+ Cho vay ngắn, trung, và dài hạn bằng Đồng Việt Nam và ngoại tệ . Cho vay hợp
vốn đối với các dự án lớn, có thời gian hoàn vốn dài. Cho vay trả góp. Cho vay tiêu
dùng. Chiết khấu chứng từ, giấy tờ có giá .
+ Đầu tư, bảo lãnh, tái bảo lãnh
+ Dịch vụ thẻ
+ Phát hành, thanh toán ATM.
+ Phát hành, thanh toán thẻ tín dụng quốc tế Visa, Master Card. Dịch vụ ngân hàng
điện tử: Internet Banking, Phone Banking, SMS.
+ Dịch vụ khác : đại lý chứng khoán , tư vấn đầu tư, tài trợ thương mại, thẩm định
dự án , thu chi hộ ngân quỹ, giữ hộ tài sản quý
- Nhiệm vụ : quản lý và đưa ra các chính sách các hướng đi đúng để góp phần
đem lợi nhuận về cho ngân hàng khi kinh doanh.
+ Huy động vốn tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn, tiền gởi
thanh toán.
+ Cho vay sản xuất dịch vụ kinh doanh và phục vụ đời sống,cho vay chuyển
nhượng bất động sản, xây dựng sửa chữa nhà,mua ô tô.
+ Thực hiện kinh doanh nội tệ và ngoại tệ.
+ Kinh doanh các dịch vụ khác.
2.1.2/Cơ cấu tổ chức và quản lý của Techcombank-Chi nhánh Đà Nẵng:
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của TCB-ĐN.
Quan hệ trực tuyến
Quan hệ chức năng
(Nguồn:phòng nhân sự NH TCB-ĐN).
Ban giám đốc:
- Giám đốc: Chịu trách nhiệm trước Ban Giám đốc điều hành mọi hoạt động
của chi nhánh, trực tiếp điều hành các công việc có liên quan như:
cá nhân
( bán lẻ)
Phòng tín
dụng