1 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG CÔNG VIỆC TRÊN BIỂN
CỦA SINH VIÊN CHÍNH QUY TỐT NGHIỆP
NGÀNH ĐIỀU KHIỂN TÀU BIỂN VÀ MÁY TÀU BIỂN
CỦA TRƢỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Hà Nội, năm 2012 2 TRƢỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC
Đỗ Thị Thúy
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG CÔNG VIỆC TRÊN BIỂN
CỦA SINH VIÊN CHÍNH QUY TỐT NGHIỆP
NGÀNH ĐIỀU KHIỂN TÀU BIỂN VÀ MÁY TÀU BIỂN
CỦA TRƢỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI Chuyên ngành: Đo lường và Đánh giá trong Giáo dục
(Chuyên ngành đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Thầy, Cô để hoàn thiện luận văn và rút kinh nghiệm cho những lần nghiên cứu sau này.
Trân trọng cảm ơn!
Tác giả Đỗ Thị Thúy
4
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Đo lường và Đánh giá
trong giáo dục với đề tài : ”Đánh giá mức độ đáp ứng công việc trên biển của sinh
viên chính quy tốt nghiệp ngành Điều khiển tàu biển và ngành Máy tàu biển
Trường Đại học Hàng hải” là sản phẩm nghiên cứu của tôi; số liệu và kết luận
nghiên cứu được trình bày trong luận văn này chưa hề được công bố trên các
nghiên cứu khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Tác giả
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài 02
3. Giới hạn nghiên cứu của đề tài 03
4. Phƣơng pháp nghiên cứu 03
4.1. Câu hỏi nghiên cứu 03
4.2. Giả thiết nghiên cứu 03
4.3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 04
4.4. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu 09
CHƢƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 11
1.2. Cơ sở lý luận thuộc về đề tài 18
CHƢƠNG II. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng thể và mẫu nghiên cứu 25
2.2. Tiến trình nghiên cứu 26
2.3. Xây dựng công cụ đo lƣờng 28
2.4. Kiểm tra độ tin cậy, tính hiệu lực của công cụ đo lƣờng 30
CHƢƠNG III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Một số thông tin về khách thể nghiên cứu 35
3.2. Phân tích kết quả nghiên cứu về đánh giá mức độ đáp ứng về kiến
thức của sinh viên 2 ngành đi biển đối với công việc trên biển 39
3.3. Phân tích kết quả nghiên cứu về đánh giá mức độ đáp ứng về kỹ
năng của sinh viên 2 ngành đi biển đối với công việc trên biển 55 6
3.4. Phân tích kết quả nghiên cứu về đánh giá mức độ đáp ứng về thái độ
nghề nghiệp của sinh viên 2 ngành đi biển đối với công việc trên biển 70
CHƢƠNG IV. CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG VỀ
KIẾN THỨC, KỸ NĂNG, THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN TỐT NGHIỆP
HỆ CHÍNH QUY THUỘC 2 NGÀNH ĐI BIỂN ĐỐI VỚI YÊU CẦU
CÔNG VIỆC TRÊN BIỂN 74
Số liệu thống kê số sinh viên ngành Điều khiển tàu biển
25
Bảng 2.2
Số liệu thống kê số sinh viên ngành Máy tàu biển
26
Bảng 2.3
Thống kê số lượng cựu sinh viên được điều tra thử nghiệm
30
Bảng 2.4
Hệ số độ tin cậy Alpha của các tiểu thang đo/thang đo điều
tra thử nghiệm
31
Bảng 2.5
Thống kê số lượng cựu sinh viên được điều tra chính thức
32
Bảng 2.6
Tương quan điểm giữa các tiểu thang đo mức độ đáp ứng
về kiến thức và kỹ năng của sinh viên ngành ĐKTB
34
Bảng 2.7
Tương quan điểm giữa các tiểu thang đo mức độ đáp ứng
về kiến thức và kỹ năng của sinh viên ngành MTB
34
Bảng 3.1
Mô tả đặc điểm về hệ đào tạo và khóa học của mẫu đối với
sinh viên 2 ngành đi biển
35
Bảng 3.2
Bảng thống kê mô tả đặc điểm năm sinh của mẫu đối với
Bảng 3.10
So sánh điểm trung bình mức độ đáp ứng kiến thức giữa
sinh viên 3 khóa đào tạo thuộc ngành ĐKTB
46
Bảng 3.11
So sánh điểm trung bình mức độ đáp ứng kiến thức giữa
sinh viên 3 khóa đào tạo thuộc ngành MTB
47
Bảng 3.12
Giá trị trung bình về mức độ nắm vững, tần suất sử dụng
48 8
Ký hiệu
Tên bảng
Trang
kiến thức chuyên môn của các item (ĐKTB)
Bảng 3.13
Giá trị trung bình về mức độ thành thạo, hữu ích kiến thức
chuyên môn của các item (ĐKTB)
48
Bảng 3.14
Giá trị trung bình về mức độ nắm vững, tần suất sử dụng
kiến thức chuyên môn của các item (MTB)
51
Bảng 3.15
Giá trị trung bình về mức độ thành thạo, hữu ích kiến thức
chuyên môn của các item
51
viên 3 khóa đào tạo thuộc ngành ĐKTB
60
Bảng 3.24
So sánh điểm trung bình mức độ đáp ứng kiến thức giữa
sinh viên 3 khóa đào tạo thuộc ngành MTB
61
Bảng 3.25
Giá trị trung bình về mức độ nắm vững, thành thạo Kỹ năng
chuyên môn của các item (ĐKTB)
62
Bảng 3.26
Giá trị trung bình về mức độ Hữu ích và tần suất sử dụng
kiến thức chuyên môn của các item (ĐKTB)
63
Bảng 3.28
Giá trị trung bình về mức độ nắm vững, thành thạo Kỹ năng
chuyên môn của các item (MTB)
66
Bảng 3.29
Giá trị trung bình về mức độ Hữu ích và tần suất sử dụng
kiến thức chuyên môn của các item (MTB)
67
Bảng 4.1
Bảng tổng hợp về phân bố thời lượng đào tạo cho 2 ngành
74 9
Ký hiệu
Tên bảng
Trường Đại học Hàng hải
ĐHHH
Sinh viên
SV
Điều khiển tàu biển
ĐKTB
Máy tàu biển
MTB
Cán bộ quản lý
CBQL
Điểm trung bình
ĐTB
Độ lệch chuẩn
SD
Tổ chức hàng hải quốc tế
IMO
Đại học
ĐH
Cao đẳng
CĐ
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài :
Việt Nam có vị trí địa lý quan trọng trong khu vực châu Á, nằm trong khu vực
2
đội ngũ cán bộ quản lý, sỹ quan thuyền viên để nâng cao hiệu quả quản lý, kinh
doanh, mở rộng hoạt động dịch vụ hàng hải và xuất khẩu thuyền viên.
Những năm gần đây, ngành Hàng hải Việt Nam phát triển rất mạnh, đội tàu
trong nước và thế giới tăng nhanh, dẫn đến sự thiếu hụt trầm trọng sỹ quan và
thuyền viên. Hơn nữa, các quy định về an toàn và phòng ngừa ô nhiễm môi trường
của các điều khoản trong các quy định của Công ước quốc tế ngày một nghiêm
ngặt, đòi hỏi chủ tàu phải đổi mới trang thiết bị phù hợp và buộc phải liên tục cập
nhật, bổ sung kiến thức cho thuyền viên.
Lao động hàng hải thuộc nhóm đặc thù, công việc phức tạp do môi trường làm
việc chịu ảnh hưởng sóng, gió, bão tố và mức độ rủi ro cao, đòi hỏi thuyền viên phải
có sức khỏe tốt, ý thức kỷ luật, tinh thần đoàn kết, ý thức làm việc, lao động cao, trình
độ kỹ thuật, nghiệp vụ, chuyên môn vững vàng và tinh thông ngoại ngữ. Tuy vậy,
thực trạng nhân lực ngành hàng hải nói chung vẫn trong tình trạng yếu và thiếu.
Trong năm 2010, Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) đang triển khai kiểm tra việc
thực hiện các công ước quốc tế quy định về vấn đề đào tạo thuyền viên, việc cấp các
chứng chỉ có liên quan cho thuyền viên tại các cơ sở đào tạo có đáp ứng các yêu cầu
đề ra trong công ước quốc tế không? Như vậy, việc nâng cao chất lượng công tác
đào tạo và huấn luyện thuyền viên của Trường Đại học Hàng hải ngày càng trở nên
cấp thiết nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững nguồn nhân lực Hàng hải.
Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về việc nâng cao năng lực đào tạo
hàng hải Việt Nam nhằm phát triển nguồn nhân lực cho ngành hàng hải, tuy nhiên
việc đi sâu, tìm hiểu mức độ đáp ứng công việc trên điều kiện môi trường biển của
sinh viên chính quy khi tốt nghiệp ra trường chưa được triển khai, các thông tin,
thống kê còn thiếu. Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài nghiên cứu “ Đánh giá mức độ
đáp ứng công việc trên biển của sinh viên chính quy tốt nghiệp ngành Điều khiển
tàu biển và Máy tàu biển của Trường Đại học Hàng hải” làm hướng nghiên cứu
với mong muốn đóng góp một phần cải thiện chất lượng đào tạo và huấn luyện
nguồn nhân lực các ngành đi biển chất lượng cao cho trường Đại học Hàng hải.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài:
cầu công việc trên biển.
+ Các kỹ năng mà sinh viên chính quy tốt nghiệp 2 ngành Điều khiển tàu
biển và Máy tàu biển được luyện tập trong Nhà trường đáp ứng tốt những yêu cầu
công việc trên biển. 4
+ Thái độ nghề nghiệp mà sinh viên chính quy tốt nghiệp 2 ngành Điều khiển
tàu biển và Máy tàu biển được rèn luyện trong Nhà trường đáp ứng tốt những yêu
cầu công việc trên biển.
4.3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.3.1. Đối tượng nghiên cứu,
Đối tượng nghiên cứu là các kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và thái độ
nghề nghiệp của sinh viên chính quy 2 ngành Điều khiển tàu biển và Máy tàu biển
đã được đào tạo và huấn luyện trong Trường Đại học Hàng hải đáp ứng được những
yêu cầu công việc trên biển.
4.3.2. Khách thể nghiên cứu:
+ Sinh viên hệ chính quy đã tốt nghiệp ra trường từ 3 năm trở lại đây (khóa
45, 46, 47) của 2 ngành Điều khiển tàu biển và Máy tàu biển đang làm việc trên các
con tàu thuộc một số công ty vận tải biển trong nước và nước ngoài.
+ Ngoài ra, để tăng độ tin cậy của các thông số từ phía sinh viên, đề tài sẽ lấy dữ
liệu, một số thông tin từ đội ngũ cán bộ quản lý trực tiếp các đối tượng thuyền viên trên ở
trên tàu như: Thuyền trưởng, Đại phó, Máy trưởng, Máy nhất, cán bộ quản lý tại công ty,
giảng viên tham gia công tác giảng dạy, huấn luyện đã có thâm niên đi tàu.
+ Căn cứ vào số lượng tàu biển của một số công ty vận tải biển của Việt
Nam, đề tài đã chọn ra một số chức danh cho vấn đề nghiên cứu, cụ thể: sỹ quan
vận hành (sỹ quan boong; sỹ quan máy); thủy thủ; thợ máy, Vậy chức trách công
việc của các vị trí được nghiên cứu trong đề tài được quy định trong bộ công ước
quốc tế STCW78/95 như sau [18, tr 20-30]:
+ Phó hai: Chịu sự quản lý và điều hành trực tiếp của thuyền trưởng khi tàu
chuẩn bị của mình cho chuyến đi;
Đảm nhiệm các công việc của phó ba nếu trên tàu không bố trí chức danh
này trừ nhiệm vụ trực ca do thuyền trưởng đảm nhiệm;
Hướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn cho thực tập phó hai;
Đảm nhiệm ca trực từ 00 giờ đến 04 giờ và từ 12 giờ đến 16 giờ hàng ngày
Thực hiện các nhiệm vụ khác do thuyền trưởng phân công,
+ Phó ba: Chịu sự quản lý và điều hành trực tiếp của thuyền trưởng khi tàu
hành trình và của đại phó khi tàu không hành trình, có nhiệm vụ sau đây:
Trực tiếp phụ trách và tổ chức bảo quản, bảo dưỡng các phương tiện cứu
sinh như xuồng cứu sinh, phao tự thổi; phao tròn, áo phao cá nhân và phải đảm bảo
các dụng cụ, thiết bị này luôn ở trạng thái sẵn sàng sử dụng an toàn, thuận lợi khi có
tình huống khẩn cấp xảy ra; 6
Thường xuyên kiểm tra các trang thiết bị trên xuồng cứu sinh, lập kế
hoạch và định kỳ tiến hành thay thế, bổ sung các dụng cụ, nước ngọt, lương khô,
thuốc cấp cứu sau khi đã được thuyền trưởng phê duyệt;
Trực tiếp phụ trách công tác hành chính trên tàu và quản trị trên tàu nếu
trên tàu không bố trí chức danh này
Giúp đại phó trong việc kiểm tra, bảo quản các dụng cụ, thiết bị cứu thủng;
Giúp phó hai trong việc bảo quản, chỉnh lý các dụng cụ, thiết bị hàng hải,
tu chỉnh hải đồ và các tài liệu hướng dẫn hàng hải khác;
Chậm nhất 03 giờ trước khi tàu rời cảng, phải báo cáo đại phó biết về việc
chuẩn bị của mình,
Khi điều động tàu ra, vào cảng, có mặt ở buồng lái để thực hiện lệnh của
thuyền trưởng trong việc điều khiển tau chuông, ghi chép nhật ký điều động, xác
định vị trí tàu và các nghiệp vụ hàng hải khác;
Hướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn cho thực tập phó ba;
Đảm nhiệm ca trực từ 08 giờ đến 12 giờ và từ 20 giờ đến 24 giớ hàng ngày,
được phê duyệt
Lập dự trù vật tư kỹ thuật cho máy móc, thiết bị thuộc mình quản lý và tổ
chức quản lý, sử dụng vật tư kỹ thuật theo quy định hiện hành;
Theo dõi ghi chép các thông số kỹ thuật và quản lý các hồ sơ, tài liệu của
máy móc thiết bị do mình phụ trách;
Khai thác công suất máy đạt hiệu quả kinh tế cao và bảo đảm tình trạng kỹ
thuật, chế độ hoạt động của các máy móc, thiết bị theo đúng quy trình, quy phạm
hiện hành
Chậm nhất 03 giờ trước khi tàu rời cảng phải báo cáo máy trưởng biết việc
chuẩn bị của mình cho chuyến đi;
Đảm nhiệm nhiệm vụ của máy tư nếu trên tàu không bố trí chức danh máy
tư, trừ nhiệm vụ trực ca do máy trưởng đảm nhiệm;
Hướng dẫn về nghiệp vụ chuyên môn thực tập cho máy ba
Trực ca từ 00 giờ đến 04 giờ và từ 12 giờ đến 16 giờ hàng ngày;
Đảm nhiệm các công việc khác do máy trưởng phân công
+ Máy tƣ: chịu sự quản lý điều hành trực tiếp của máy trưởng, có nhiệm vụ sau:
Trực tiếp quản lý và khai thác hệ thống đường ống, hệ thống nước dằn, hệ
thống ống thông gió buồng máy, hệ thống nước sinh hoạt và vệ sinh, nồi hơi phụ, 8
máy xuồng cứu sinh, các máy bơm độc lập, máy móc thiết bị trên boong nhưn máy
neo, máy tời, máy cầu thang, hệ thống phát âm hiệu,
Lập và trình máy trưởng kế hoạch sửa chữa, bảo quản đối với các máy
móc thiết bị do mình quản lý và tổ chức triển khai việc sửa chữa theo kế hoạch đã
được phê duyệt
Lập dự trù vật tư kỹ thuật cho máy móc, thiết bị do mình quản lý và tổ
chức quản lý, sử dụng vật tư được cấp theo quy định hiện hành
Trước khi nhận hàng, cùng với đại phó kiểm tra hầm hàng, nước dằn và
các hệ thống đường ống để chuẩn bị cho việc xếp hàng;
đăng ký toàn phần hoặc lớn hơn; Bảng A-II/3: Quy định về tiêu chuẩn năng lực tối thiểu
đối với sỹ quan boong trực ca biển và đối với thuyền trưởng trên tàu nhỏ hơn 500 T đăng
ký toàn phần, đảm nhận hành trình gần bờ; Bảng A-II/4: Quy định tiêu chuẩn năng lực
tối thiểu cho thủy thủ là thành viên của một ca trực biển; Bảng A-III/1: Quy định về tiêu
chuẩn năng lực tối thiểu cho sĩ quan máy trực ca trong máy có người điều khiển hoặc
phân công làm nhiệm vụ sỹ quan máy trong một buồng máy không có người điều khiển
theo chu kỳ; Bảng A-III/4: Quy định tiêu chuẩn năng lực tối thiểu đối với thợ máy là
thành viên của ca trực máy.
- Nghiên cứu Mục tiêu đào tạo, chuẩn đầu ra cho sinh viên 2 ngành ĐKTB và MTB.
- Nghiên cứu các văn bản của quy phạm pháp luật của Nhà nước liên quan đến
công tác giáo dục đại học: Luật giáo dục; Chuẩn nghề nghiệp
- Nghiên cứu Bộ công ước quốc tế STCW về tiêu chuẩn thuyền viên; Luật Hàng
hải dành cho sinh viên ngành Điều khiển tàu biển và sinh viên ngành Máy tàu biển.
- Nghiên cứu chương trình khung, mục tiêu đào tạo, số liệu về đội ngũ cán bộ,
giảng viên, sinh viên, thuyền viên có liên quan chất lượng đầu ra của sinh viên 02
ngành đi biển của Trường Đại học Hàng hải.
4.4.2. Phương pháp thu thập thông tin:
+ Phương pháp điều tra khảo sát.
+ Phương pháp phỏng vấn sâu.
4.4.3. Công cụ sử dụng để nghiên cứu:
+ Phiếu xin ý kiến để thu thập thông tin, dữ liệu;
+ Dùng các phần mềm toán học ứng dụng chuyên ngành để tổng hợp, xử lý,
phân tích, đánh giá các số liệu thu được (SPSS; Excel; ).
4.4.4. Phương pháp chọn mẫu; tính toán mẫu khảo sát:
Nghiên cứu định lượng sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên không
theo tỷ lệ, Mẫu khảo sát gồm sinh viên hệ chính quy đào tạo tại trường Đại học 10
Hàng hải bao gồm cả bậc đại học và cao đẳng, Gồm cựu sinh viên 02 ngành đi biển
11
CHƢƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc :
1.1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước:
+ Trong các hội thảo do Bộ Giáo dục và đào tạo cũng đề cập nhiều tới mối
quan hệ giữa đào tạo và việc sử dụng nguồn nhân lực, Tại hội thảo quốc gia “Đào
tạo theo nhu cầu xã hội” tổ chức năm 2005, 2007 hay “Đổi mới quản lý hệ thống
giáo dục đại học giai đoạn 2010 – 2020” của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
năm 2010 đã cho thấy vấn đề đáp ứng công việc của sinh viên sau khi ra trường.
Các nghiên cứu được trình bày trong các hội thảo tập trung chủ yếu về: Khả năng
đáp ứng thị trường lao động của nguồn nhân lực hiện có về số lượng và cơ cấu; Cơ
chế và giải pháp rút ngắn khoảng cách giữa chương trình đào tạo và nhu cầu sử
dụng nhân lực thực tế [15, tr 21]. Các nhà nghiên cứu và các trường đại học tham
gia hội thảo đã trình bày những đánh giá chất lượng giáo dục đại học thông qua
nhãn quan của họ và không nghiên cứu đề cập đến quan điểm đánh giá của các nhà
tuyển dụng lao động. Có một vài nghiên cứu đánh giá năng lực đáp ứng công việc
của sinh viên sau khi tốt nghiệp đại học nhưng hướng tiếp cận là phía cựu sinh viên
và thường do các trường đại học thực hiện. Cách tiếp cận này rất hiệu quả để các
trường đại học nhận được những phản hồi trực tiếp về những kỹ năng và kiến thức
cần trong thực tế công việc nhằm điều chỉnh chương trình giảng dạy.
+ Trong nghiên cứu: “Giáo dục đại học ở Việt Nam: Nhìn từ thị trưởng lao
động”, năm 2007, tác giả Phạm Thị Huyền, giảng viên trường Đại học Kinh tế quốc
dân cho rằng giáo dục đại học Việt Nam hiện nay cung không đáp ứng cầu về cả
mặt số lượng và chất lượng. Về số lượng, sự thiếu hụt nguồn nhân lực đạt chuẩn ở
hầu hết các ngành từ công nghệ thông tin đến các ngành kinh tế như tài chính ngân
hàng, marketing, du lịch hay đóng tàu. Về chất lượng, có thể nói tỷ lệ sinh viên tốt
nghiệp đại học đáp ứng được yêu cầu thực tế công việc hiện tại là rất thấp. Nghiên
quốc gia công nghiệp phát triển (OECD), phần lớn là sỹ quan có trình độ Đại học,
có kiến thức chuyên môn cao, giỏi Anh ngữ, được đào tạo bài bản để đáp ứng nhu
cầu hiện đại hóa và chuyên môn hóa đội tàu biển. Còn lại đến 60% là thủy thủ, thợ
máy, phục vụ viên đến từ cá quốc gia châu Á, châu Phi và Mỹ la tinh. Lực lượng
trên được huấn luyện, đào tạo theo mô hình “thực hành”. Họ có sức khỏe tốt, thông
thạo nghiệp vụ đi biển và ngoại ngữ chuyên môn, ý thức tổ chức kỷ luật cao, khả
năng thích nghi với điều kiện làm việc và hội nhập cộng đồng nhanh chóng [10]. 13
+ Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: “Các giải pháp cơ bản gắn đào tạo với
sử dụng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội trong thời
kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” của PGS.TS Nguyễn Văn Nam cũng
đã chỉ rõ vấn đề: Từ trước đến nay ai cũng nghĩ rằng ưu thế của Việt Nam trong hội
nhập thế giới chính là lực lượng lao động trẻ, dồi dào. Cả nước có hơn 53 triệu
người ở độ tuổi lao động (chiếm 63% dân số) thì chỉ mới có 27% được đào tạo nghề
đạt chất lượng quốc tế, còn lại 73% đào tạo chưa đến nơi đến chốn hoặc không có
nghề nghiệp, nhất là vùng nông thôn. Đây chính là điểm yếu của Việt Nam mặc dù
Việt Nam đứng thứ hai trong khối ASEAN về dân số và có nền giáo dục đào tạo
chính quy ở đẳng cấp không phải thấp trên thế giới. Từ khi đổi mới, kinh tế hàng
hải (vận tải biển, khai thác cảng biển và những dịch vụ liên quan đến hàng hải)
được quan tâm nhiều hơn. Đội tàu biển quốc gia phát triển nhanh, mỗi năm cần đến
2 vạn sỹ quan và thủy thủ phục vụ đội tàu nhà cũng như đi xuất khẩu thuyền viên đó
là thế mạnh của ngành Hàng hải nói riêng và Quốc gia nói chung. Những cơ sở đào
tạo chính quy của Bộ Giao thông vận tải trong những năm qua được nâng cấp, mở
rộng và đầu tư đáng kể nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu [5,tr 6,7],
+ Đề tài nghiên cứu khoa học trọng điểm cấp bộ “Nghiên cứu nâng cao năng
lực đào tạo hàng hải các cấp của Việt Nam nhằm phát triển nguồn nhân lực cho
ngành hàng hải giai đoạn 2010-2020” của PGS.TSKH Đặng Văn Uy đã thống kê
một số các tiêu chí về công tác đào tạo và huấn luyện thuyền viên của một số nước
thông với các cơ quan chức năng có liên quan, Nước này cũng ban hành những
chính sách giảm thuế thu nhập cho thuyền viên xuất khẩu.
Hay một đất nước gần ta nhất là Trung Quốc, đây là đất nước có đội tàu biển
lớn nhất thế giới với tổng tấn trọng trên 70 triệu DWT. Số lượng thuyền viên của họ
là 1,2 triệu người (khoảng 400,000 người làm việc trên các con tàu viễn dương).
Trung Quốc có 5 trường hàng hải đào tạo sỹ quan bậc đại học, Để có được đội ngũ
sỹ quan thuyền viên và đội tàu vào bậc nhất thế giới thì việc đào tạo, huấn luyện
con người của Trung quốc cũng khá đặc trưng như :
Thay đổi tư duy về đào tạo và nâng cao chất lượng đào tạo. Theo họ thì dạy
không đơn thuần là cung cấp kiến thức cho sinh viên, mà còn phải dạy sinh viên
cách học, Giáo viên tích cực khuyến khích sinh viên hoạt động sáng tạo, Triết lý về
đạo tạo hàng hải của Trung Quốc là “Thể lực tốt là điều kiện đầu tiên, nghiệp vụ tốt
là then chốt và tâm lý tốt là sự đảm bảo”. Vậy nên bên cạnh nhiệm vụ đào tạo tốt
nghiệp vụ cho sinh viên, còn phải nâng cao chất lượng đào tạo tâm lý cho các sỹ
quan thuyền viên. 15
Tối ưu hóa hệ thống đào tạo huấn luyện hàng hải, áp dụng các phương thức
thích hợp cho các cấp khác nhau: Hệ thống đào tạo và huấn luyện của Trung Quốc
bao gồm 4 cấp độ : Sau đại học, Đại học, Cao đẳng và Trung cấp kỹ thuật, Những
học viên học ở trình độ Đại học sau khi ra trường đểu được cấp bằng tốt nghiệp đại
học (Academic Degree) và Giấy chứng nhận khả năng chuyên môn mức trách
nhiệm vận hành (Certificate of Compentency). Bên cạnh việc xây dựng hệ thống
đào tạo liên thông từ Trung cấp kỹ thuật lên Cao đẳng và Đại học, Trung Quốc cũng
xây dựng hệ thống đào tạo theo Tín chỉ để đảm bảo cho mọi người đều có quyền
tham gia học tập.
Luôn thay đổi nội dung đào tạo cho phù hợp với tình hình hiện tại.
Tăng cường số giờ thực hành.
Tăng cường ứng dụng tin học và thực hành Anh ngữ.
khuyến khích nghiên cứu các vấn đề khoa học mà các công ty quan tâm.
*) Hệ thống đào tạo huấn luyện hàng hải :
- Nhiệm vụ mới : các cơ sở đào tạo hàng hải phải đảm bảo được 5 vấn đề cơ bản :
+ Đào tạo sáng tạo.
+ Đào tạo có chất lượng.
+ Ứng dụng phương pháp giảng dạy mới.
+ Tạo cho sinh viên trở thành con người quốc tế.
+ Áp dụng hệ thống đào tạo kết hợp với tàu.
*) Mục tiêu huấn luyện : Phải đảm bảo cho người học có khả năng thực hiện
công việc tốt nhất cho dù họ làm việc ở đâu, Vậy mục tiêu của huấn luyện là :
+ Biết đạt được mục tiêu.
+ Biết giải quyết các vấn đề.
+ Biết tìm công việc và tự giải quyết công việc.
*) Chương trình đào tạo hàng hải :
+ Ý tưởng cơ bản để thiết kế chương trình đào tạo hàng hải ở Nhật là: thời
gian đào tạo 4 năm; nội dung chính là chương trình bao gồm các vấn đề vận hành,
khai thác tàu và quản lý tàu. Các lĩnh vực cần phải dạy sinh viên bao gồm cấu trúc
tàu, bảo hiểm, tiền tệ, năng lượng, điện tử, máy móc, bảo quản hàng hóa kho bãi,
thông tin liên lạc, tin học và dịch vụ.
+ Chương trình đào tạo mới: Nhật Bản đã áp dụng chương trình đào tạo theo
tín chỉ, để nâng cao chất lượng thuyền viên, các cơ sở đào tạo của Nhật coi các vấn
đề sau là vô cùng quan trọng.