SKKN: Giúp học sinh lớp 5 phân biệt Từ đồng nghĩa – Từ trái nghĩa,
Từ đồng âm – Từ nhiều nghĩa
s Đề tài:
“GIÚP HỌC SINH LỚP NĂM PHÂN BIỆT TỪ ĐỒNG NGHĨA –
TỪ TRÁI NGHĨA; TỪ ĐỒNG ÂM – TỪ NHIỀU NGHĨA”.
Tác giả : Huỳnh Thị Ngọc Trâm
Đơn vị : Trường Tiểu học Bồng Sơn
A- MỞ ĐẦU
I-Đặt vấn đề:
Tiếng Việt là tiếng nói phổ thơng, tiếng nói dùng trong giao tiếp chính thức của
cộng đồng các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam. Bởi thế dạy Tiếng Việt có vai
trò cực kì quan trọng, những thay đổi quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội, văn
hóa giáo dục đòi hỏi những u cầu mới trong dạy mơn Tiếng Việt nói chung và
phân mơn Luyện từ và Câu nói riêng.
Trong mơn Tiếng Việt ở tiểu học, các thầy giáo, cơ giáo thường quan tâm tới
nhiệm vụ bồi dưỡng và nâng cao năng lực dùng từ ngữ, cách nói, viết câu chính xác
qua giờ Luyện từ và Câu. Từ đó, kiến thức của các em sẽ làm cơ sở cho kĩ năng giao
tiếp. Học sinh càng hứng thú khi viết văn, càng thêm u q Tiếng Việt và giữ gìn
sự trong sáng của Tiếng Việt. Làm sao cho các em hiểu và dùng đúng từ hay trong
viết văn, thể hiện đúng cảm xúc và thái độ của người viết. Tơi đã chọn đề tài "Giúp
học sinh lớp Năm phân biệt Từ đồng nghĩa - Từ trái nghĩa; Từ đồng âm - Từ
nhiều nghĩa".
1- Thực trạng của vấn đề đòi hỏi phải có giải pháp mới để giải quyết:
Trong những năm gần đây, chất lượng đào tạo từng bước ổn định và đem lại
những hiệu quả thiết thực. Song khi tiến hành giảng dạy mơn Tiếng Việt, học sinh
còn mắc phải một số lỗi về dùng từ. Ngun nhân là các em còn nhầm lẫn giữa Từ
đồng nghĩa - Từ trái nghĩa; Từ đồng âm - Từ nhiều nghĩa. Một số thực trạng nằm ở
1
SKKN: Giúp học sinh lớp 5 phân biệt Từ đồng nghĩa – Từ trái nghĩa,
Từ đồng âm – Từ nhiều nghĩa
các vấn đề thắc mắc mà các em chưa tự mình giải quyết. Khi cô giáo giảng, các em
II- Phương pháp tiến hành:
1- Cơ sở lý luận và thực tiễn có định hướng cho việc nghiên cứu, tìm ra giải
pháp cho đề tài:
1.1- Cơ sở lý luận:
Dựa theo quyết định chuẩn kiến thức (số 16/206 QĐ-BGDĐT ngày 15 tháng 5
năm 2006 của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo).
Theo tinh thần của sách giáo khoa mới hiện hành vận dụng giải quyết vấn đề
vào dạy học môn Tiếng Việt. Giáo viên tạo động lực cho học sinh thông qua một số
tình huống tạo vấn đề, khuyến khích học sinh nhận thức được vấn đề và tìm cách
giải quyết. Từ đó, tiếp cận hình thành kiến thức và kĩ năng môn Tiếng Việt.
1.2- Cơ sở thực tiễn:
Từ thực tế của lớp mình đang chủ nhiệm, thực tế của khối lớp Năm, học sinh
chỉ tiếp thu kiến thức một cách máy móc, rập khuôn, chưa biết vận dụng vào trong
môn Tập làm văn. Thực hiện đó đòi hỏi phải có giải pháp mới, điểm sáng mới trong
tư duy sáng tạo của học sinh mà chính giáo viên là người khơi nguồn cho những ý
tưởng thông minh của học sinh.
2- Các biện pháp tiến hành, thời gian tạo ra giải pháp:
2.1- Các biện pháp tiến hành:
3
SKKN: Giúp học sinh lớp 5 phân biệt Từ đồng nghĩa – Từ trái nghĩa,
Từ đồng âm – Từ nhiều nghĩa
* Rèn luyện kiến thức và kĩ năng tìm hiểu về nghĩa của từ thông qua cách giải
quyết vấn đề đơn giản, gần gũi với cuộc sống.
* Gợi vấn đề cần giải quyết, phát huy tính tích cực sáng tạo. Thấy giáo tạo tình
huống có vần đề như một câu hỏi lửng, giúp học sinh cảm nhận được vấn đề trong
tình huống đó. Sau đó chính thầy đưa ra các vấn đề trình bày và giải quyết vấn đề,
học sinh theo dõi các tình tiết tiến hành, phát triển và giải quyết vần đề.
* Rèn luyện cách diễn đạt ngắn gọn, biết dùng vốn từ của mình để giải nghĩa từ
chính xác. Trên cơ sở đó, phân biệt được Từ đồng nghĩa – Từ trái nghĩa – Từ đồng
âm – Từ nhiều nghĩa.
như sau:
1.1. Khái niệm về Từ đồng nghĩa:
Từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa giống nhau hoặc gần giống nhau.
Ví dụ: Siêng năng, chăm chỉ, cần cù,
- Có hai trường hợp đồng nghĩa:
* Đồng nghĩa hoàn toàn: có thể thay thế cho nhau trong lời nói. Ví dụ: xe lửa,
tàu lửa,
* Đồng nghĩa không hoàn toàn: thường có hai trường hợp khác nhau:
- Biểu thị cách thức, hành động, tính chất khác nhau.
5
SKKN: Giúp học sinh lớp 5 phân biệt Từ đồng nghĩa – Từ trái nghĩa,
Từ đồng âm – Từ nhiều nghĩa
Ví dụ: - Mang, khiêng, vác
- Rộng, rộng rãi, bao la, mênh mông,
- Biểu thị những thái độ tình cảm khác nhau đối với người đối thoại hoặc điều
được nói đến.
Ví dụ: - Ăn, xơi, chén,
* Các dạng bài tập về từ đồng nghĩa (dạng cơ bản) học sinh cần nắm:
Dạng 1: Vận dụng cơ bản lý thuyết:
Ví dụ 1: Tìm từ đồng nghĩa trong các câu thơ sau:
a/ Ôi! Tổ quốc giang sơn hùng vĩ
Đất anh hùng của thế kỉ 20.
Tố Hữu
b/ Việt Nam đất nước ta ơi!
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn.
Nguyễn Đình Thi
c/ Đây suối Lê nin, kia núi Mac
Hai tay xây dựng một sơn hà.
Hồ Chí Minh
d/ Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió
SKKN: Giúp học sinh lớp 5 phân biệt Từ đồng nghĩa – Từ trái nghĩa,
Từ đồng âm – Từ nhiều nghĩa
Ví dụ: Giáo viên cho học sinh đọc bài “Quang cảnh làng mạc ngày mùa”, nhận xét
về cách sử dụng các từ chỉ màu vàng của tác giả. Giáo viên nhấn mạnh đây là cách
dùng từ độc đáo, vàng xuộm, vàng hoe, vàng lịm, vàng mượt, vàng giòn làm cho
đoạn văn sinh động, mang nét riêng biệt hấp dẫn người đọc. Từ đó giáo viên ra bài
tập viết đoạn văn chỉ màu sắc, sửa bài của từng em và cho chép vào sổ tay Tiếng
Việt.
Đoạn văn tham khảo:
Trong các sắc màu, em thích nhất là màu đỏ vì đó là màu lộng lẫy, gây ấn
tượng nhất. Màu đỏ là màu máu đỏ hồng trong tim, màu đỏ tươi của lá cờ Tổ quốc,
màu đỏ thắm của những chiếc khăn quàng Đội viên. Đó còn là màu đỏ ối của mặt
trời sắp lặn, màu đỏ rực của bếp lửa, màu đỏ tía của hoa mào gà, màu đỏ au trên đôi
má phúng phính của những em bé khoẻ mạnh, xinh đẹp…
Dạng 5: Phân tích cái hay của cách dùng từ đồng nghĩa để tạo mối liên kết các câu
trong bài bằng cách thay thế từ ngữ nhằm tạo mối liên hệ giữa các câu và tránh lặp
từ nhiều lần.
Ví dụ: Đoạn văn viết về Hưng Đạo Vương Trần Quốc Toản có dùng từ đồng nghĩa
để tạo mối liên kết câu bằng cách thay thế từ ngữ (Sách giáo khoa)
Đã mấy năm vào Vương Phủ Vạn Kiếp, sống gần Hưng Đạo Vương, chàng thư
sinh họ Trương thấy Ông luôn điềm tĩnh. Không điều gì khiến vị Quốc Công Tiết
Chế có thể rối trí. Vị chủ tướng tài ba không quên một trong những điều hệ trọng
làm nên chiến thắng là phải cố kết lòng người. Chuyến này, Hưng Đạo Vương lai
kinh cùng nhà vua dự Hội Nghị Diên Hồng. Từ đấy, Ông sẽ đi thẳng ra chiến trận.
Vào chốn gian nguy, trước vận nước ngàn cân treo sợi tóc mà Người vẫn bình thản,
tự tin, đĩnh đạc đến lạ lùng
8
SKKN: Giúp học sinh lớp 5 phân biệt Từ đồng nghĩa – Từ trái nghĩa,
Từ đồng âm – Từ nhiều nghĩa
Để làm loại bài này, người viết cần phải am hiểu về kiến thức lịch sử, địa lí,…
Ví dụ: Trong bài thơ “Hạt gạo làng ta” nhà thơ Trần Đăng Khoa có viết:
… Hạt gạo làng ta
Có bão tháng bảy
Có mưa tháng ba
Giọt mồ hôi sa
Những trưa tháng sáu
Nước như ai nấu
Chết cả cá cờ
Cua ngoi lên bờ
Mẹ em xuống cấy
Việc dùng cặp từ trái nghĩa ngoi - xuống nhằm làm cho câu thơ có sức biểu đạt
cao: diễn tả sự dũng cảm, bền bỉ của bà mẹ nông dân vượt qua khó khăn để làm ra
hạt gạo góp sức cho tiền tuyến,… Hiểu được cách dùng cặp từ trái nghĩa. Học sinh
sẽ vận dùng vào viết văn có hiệu quả hơn.
1.3. Khái niệm về Từ đồng âm:
Từ đồng âm là những từ giống nhau về âm nhưng khác hẳn nhau về nghĩa:
Ví dụ: hòn đá – đá bóng.
10
SKKN: Giúp học sinh lớp 5 phân biệt Từ đồng nghĩa – Từ trái nghĩa,
Từ đồng âm – Từ nhiều nghĩa
Đặc biệt, học sinh cần chú ý trong Tiếng Việt, ta dựa vào hiện tượng đồng âm
để chơi chữ, tạo ra những câu nói có nhiều nghĩa, gây những bất ngờ thú vị cho
người đọc, người nghe.
* Các dạng bài tập về từ đồng âm
Dạng 1: Tìm từ đồng âm
Tìm từ đồng âm và giải nghĩa cho từ đồng âm đó:
a. Đặt sách lên bàn
1
.
b. Trong hiệp hai, Rô-nan-đi-nhô ghi được một bàn
Ví dụ:
Một nghề cho chín
1
còn hơn chín
2
nghề.
Chín
1
: Chỉ sự thành công.
Chín
2
: Số tự nhiên đứng liền trước số 10.
1.4 Khái niệm về Từ nhiều nghĩa:
Từ nhiều nghĩa là từ có một nghĩa gốc và một hay một số nghĩa chuyển. Các
nghĩa của từ nhiều nghĩa bao giờ cũng có mối liên hệ với nhau.
Nghĩa gốc: Nghĩa chính vốn có của từ.
Nghĩa chuyển: Nghĩa suy rộng ra từ nghĩa gốc.
Trong Tiếng Việt, một từ có một nghĩa gốc nhưng nhiều nghĩa chuyển.
* Các dạng bài tập về từ nhiều nghĩa:
Dạng 1: Tìm từ mang nghĩa gốc, từ mang nghĩa chuyển
Ví dụ: Giải nghĩa của từ “đi” trong những câu sau và cho biết từ “đi” nào mang
nghĩa gốc, từ “đi” nào mang nghĩa chuyển:
a. Nó đi còn tôi chạy.
b. Tuấn nặng đã đi hôm qua rồi.
c. Ca nô đi nhanh hơn thuyền.
d. Tôi đi con tốt (chơi cờ)
12
SKKN: Giúp học sinh lớp 5 phân biệt Từ đồng nghĩa – Từ trái nghĩa,
Từ đồng âm – Từ nhiều nghĩa
Giải nghĩa:
nhóm đồng nghĩa khác nhau, tuỳ theo nghĩa cụ thể của nó.
a2. Trong ngôn ngữ học, thuật ngữ từ trái nghĩa được dùng để chỉ những từ có nghĩa
đối lập nhau. Xét theo một phạm trù nhất định. Chẳng hạn, các từ cao – thấp (đối lập
về kích thước theo phương thẳng đứng); ngắn – dài (đối lập về kích thước theo
phương nằm ngang); ít – nhiều (đối lập về lượng); là những từ trái nghĩa. Do tính đa
nghĩa của từ một từ có thể thuộc vào nhiều nhóm trái nghĩa khác nhau.
Chẳng hạn: xét từ lành, nếu nói về tính cách thì trái nghĩa với ác dữ, hung ác,
tàn ác; còn về trạng thái của vật thì trái nghĩa với rách, sứt, mẻ, vỡ.
Mặc khác những từ đơn trái nghĩa đôi khi kết hợp với nhau chúng sẽ tạo thành
những từ ghép tổng hợp vì mặc dù trái nghĩa nhưng các từ đó đều có nghĩa nằm
trong một phạm trù (một trường nghĩa nhất định)
Ví dụ: rách lành, trai gái, ngược xuôi.
- Ở đặc điểm này, trong từ đồng nghĩa cũng có những trường hợp tương tự.
Ví dụ: xinh đẹp, trường lớp, nhớ thương,…
Tóm lại:
Từ đồng nghĩa và từ trái nghĩa có những đặc điểm hơi giống nhau. Đó là:
- Một từ có rất nhiều từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa với nó.
- Những từ đơn trái nghĩa hoặc đồng nghĩa có thể ghép lại tạo thành từ ghép
14
SKKN: Giúp học sinh lớp 5 phân biệt Từ đồng nghĩa – Từ trái nghĩa,
Từ đồng âm – Từ nhiều nghĩa
tổng hợp.
Do vậy để phân biệt từ đồng nghĩa – Từ trái nghĩa giáo viên cần hướng dẫn học
sinh dựa theo khái niệm nhằm phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh tiều học.
- Từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa giống nhau hoặc gần giống nhau.
- Từ trái nghĩa là những từ có nghĩa trái ngược nhau.
Giải pháp 3: Xử lý tình huống trong những trường hợp dễ nhầm lẫn
Giáo viên cần nắm các kiểu cơ bản của từ trái nghĩa:
a. Từ trái nghĩa lưỡng phân là những cặp từ có nghĩa trái ngược nhau tạo thành
hai cực mâu thuẫn nhau, phủ định cực này thì tất yếu phải chấp nhận cực kia.
hoặc sông, suối,…) ngọt bùi, đắng cay là hai từ ghép tổng hợp, tách ra thành hai từ
đơn trái nghĩa là sai.
Giải pháp 4: Hướng dẫn cách phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa
- Từ đồng âm và từ nhiều nghĩa đều được hình thành từ quy luật tiết kiệm của
ngôn ngữ, dùng ít ký hiệu nhưng biểu đạt được nhiều. Tuy nhiên chúng là hai lớp từ
khác nhau.
Từ đồng âm là những từ có hình thức ngữ âm giống nhau nhưng có nghĩa hoàn
toàn khác biệt nhau.
Ví dụ: - Bò trong “kiến bò” chỉ hoạt động di chuyển ở tư thế áp bụng xuống nền
bằng cử động của toàn thân hoặc những cái chân ngắn.
16
SKKN: Giúp học sinh lớp 5 phân biệt Từ đồng nghĩa – Từ trái nghĩa,
Từ đồng âm – Từ nhiều nghĩa
- Bò trong “Trâu bò” chỉ động vật nhai lại, sừng ngắn, lông thường có màu
vàng, được nuôi để lấy sức kéo, thịt, sữa
- Từ đồng âm hình thành do nhiều cơ chế: do trùng hợp ngẫu nhiên (gió bay,
bọn bay, cái bay); do chuyển nghĩa quá xa mà thành (vì nể, vì lí do gì); do từ vay
mượn trùng với từ sẵn có (đầm sen, bà đầm); do từ rút gọn trùng với từ sẵn có (hụt
mất 2 li, cái li)
Từ nhiều nghĩa là một từ nhưng có nhiều nghĩa. Từ nhiều nghĩa hình thành do
cơ chế chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ hoặc hoán dụ. Chẳng hạn, mũi trong
“mũi dọc dừa” mang nghĩa gốc “chỉ bộ phận của cơ quan hô hấp, có dáng nhọn, nhô
về phía trước mặt người, động vật”; mũi trong mũi dao, mũi thuyền, mũi tên đều là
nghĩa tái sinh, được hình thành do phương thức ẩn dụ - Rút ra từ điểm tương đồng
(giống nhau); vật có dáng nhọn, nhô về phía trước; còn mũi trong “mũi dãi” cũng là
nghĩa phát sinh nhưng được hình thành theo phương thức hoán dụ - rút ra từ điểm
tương cận (gần nhau) giữa hai đối tượng: chất nhầy tiết ra ở mũi.
Cụ thể, giáo viên cần hướng dẫn những điểm khác nhau giữa từ đồng âm với từ
nhiều nghĩa như sau:
Từ đồng âm Từ nhiều nghĩa
Ông em đã mất (mất dùng theo nghĩa chuyển)
Thay vì
Ông em đã chết (chết, mất, qua đời là hai từ đồng nghĩa không hoàn toàn; nói
chết với thái độ bình thường, còn nói mất, qua đời với thái độ kính trọng)
b. Hoạt động phân tích, tổng hợp, thực hành lí thuyết (phân tích các ví dụ để
đưa ra điểm giống, khác nhau giữa từ đồng nghĩa, trái nghĩa, đồng âm, nhiều nghĩa
nhằm hình thành kiến thức, cần có sổ tay Tiếng Việt cho riêng mỗi em để tích luỹ
vốn từ ngữ có được qua các giờ học)
Cả hai loại hoạt động trên có thể được tổ chức theo nhiều hình thức khác nhau:
- Làm việc độc lập
- Làm viện theo nhóm
- Làm việc theo lớp
18
SKKN: Giúp học sinh lớp 5 phân biệt Từ đồng nghĩa – Từ trái nghĩa,
Từ đồng âm – Từ nhiều nghĩa
2. Khả năng áp dụng:
2.1 Thời gian áp dụng có hiệu quả:
- Đề tài phân biệt Từ đồng nghĩa – Từ trái nghĩa – Từ đồng âm – Từ nhiều
nghĩa đã được áp dụng qua hai năm, sau khi vận dụng, tôi thấy đa số học sinh đã
nắm được chuẩn kiến thức biết phân biệt từ đồng nghĩa – từ trái nghĩa – từ đồng âm
– từ nhiều nghĩa. Các em đều có sổ tay Tiếng Việt. Khả năng viết văn của học sinh
nâng cao rất nhiều vì các em đã nắm chắc nghĩa của từ, biết dùng từ để tạo ý đẹp, lời
hay.
2.2 Có khả năng thay thế cho giải pháp hiện có:
- Đề tài có khả năng thay thế cho cách học vẹt mà học sinh thường mắc phải,
phương pháp thầy đọc, trò ghi trước đây.
2.3 Khả năng áp dụng ở đơn vị hoặc trong ngành:
- Các giải pháp mà tôi nêu trên có khả năng áp dụng cho tất cả các đối tượng
học sinh theo nguyên tắc đồng âm, (đi từ dễ đến khó) đặc biệt cho các em học sinh
giỏi tham gia các phong trào thi học sinh giỏi cấp Huyện, cấp Tỉnh (ở môn Tiếng
3.3 Tác động xã hội tích cực, cải thiện môi trường:
Đặc biệt trong kĩ năng giao tiếp, học sinh biết dùng từ đúng, lời hay. Từ đó, các
em đã tạo ra một mối quan hệ thân thiện với bạn bè, lễ phép với người lớn, ông bà,
cha mẹ, thầy cô,…
C. KẾT LUẬN:
1. Những điều kiện kinh nghiệp áp dụng giải pháp:
Với các giải pháp trên chỉ áp dụng với điều kiện phải có sự hợp tác nhuần
nhuyễn giữa giáo viên và học sinh. Học sinh cần tăng cường đọc sách báo, trau dồi
vốn từ. Giáo viên cần giới thiệu nhiều truyện đọc cho các em. Giữa giáo viên và học
sinh cần có những giờ nói chuyện, trao đổi về văn, về từ ngữ để tạo hiệu quả tốt cho
đề tài.
2. Những triển vọng trong việc phát triển giải pháp:
Để phát triển đề tài có hiệu quả, tuỳ theo đặc điểm của lớp giáo viên cần vận
dụng một cách linh hoạt nhằm đạt hiệu quả, triển vọng phát triển lâu dài cho học
sinh về năng lực Tiếng Việt
3. Đề xuất, kiến nghị:
Nhà trường cần hỗ trợ thêm về cơ sở vật chất, đồ dùng dạy học, thư viện cần có
20
SKKN: Giúp học sinh lớp 5 phân biệt Từ đồng nghĩa – Từ trái nghĩa,
Từ đồng âm – Từ nhiều nghĩa
nhiều truyện, sách, báo, tài liệu hay để việc giảng dạt đạt hiệu quả hơn./.
Bồng Sơn, ngày 02 tháng 03 năm 2014
Người viết
Huỳnh Thị Ngọc Trâm
21
SKKN: Giúp học sinh lớp 5 phân biệt Từ đồng nghĩa – Từ trái nghĩa,
Từ đồng âm – Từ nhiều nghĩa
Ý kiến của Hội đồng xét duyệt cấp Trường