1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN
VĂN
NGUYỄN THỊ NGÀ
ẢNH HƢỞNG CỦA YẾU TỐ "DUY TÌNH"
TRONG MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÂN VIÊN QUAN HỆ
CÔNG CHÚNG VÀ NHÀ BÁO TẠI VIỆT NAM Chuyên ngành : Báo chí học
Mã số: 60.32.01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Hà Nội – 2013
2
Công trình được hoàn thành tại: Trường Đại học Khoa
trong những mối quan hệ thiết yếu của quan hệ xã hội nói
chung và quan hệ truyền thông nói riêng. Nó được nghiên
cứu khá nhiều trên thế giới và có sự tác động mạnh mẽ tới
xã hội. Tuy nhiên, khi được xây dựng và hình thành ở nền
văn hóa nào thì mối quan hệ này sẽ chịu ảnh hưởng của
đặc trưng văn hóa tại đó. Ở Mỹ và nhiều nước phương
Tây khác, mối quan hệ giữa các nhân viên QHCC và nhà
báo được coi là không tốt, thiếu sự tin tưởng và thậm chí
coi thường nhau. Ngược lại, đối với văn hóa phương
Đông, sự lấn át của quan hệ cá nhân đang ảnh hưởng tới
mối quan hệ đặc biệt giữa này.
Ở Việt Nam, với đặc trưng của nền văn minh lúa nước,
người ta có thể dùng chữ Tình để đặt lên trên mọi mối
quan hệ xã hội, và việc ảnh hưởng của văn hóa này tới
mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo là không
nằm ngoài quy luật. Từ trước tới nay, đã có khá nhiều
nghiên cứu chung về mối quan hệ giữa doanh nghiệp và
báo chí, tuy nhiên, việc đưa quan hệ cá nhân (yếu tố “duy
tình”) vận dụng hiệu quả trong mối quan hệ chuyên
nghiệp (giữa nhân viên QHCC và nhà báo) thì hầu như
các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam chưa chưa được đề
cập đến.
4
Vậy, thực chất mối quan hệ giữa nhà báo và nhân viên
quan hệ công chúng ở Việt Nam có đang tồn tại yếu tố
“duy tình” không? Nếu có thì nó đang ở mức độ nào và
tương lai, khi công nghiệp truyền thông ở Việt Nam ngày
càng phát triển mạnh, ta nên vận dụng hoặc tiết chế sự
ảnh hưởng của yếu tố “duy tình” trong các mối quan hệ
nghề nghiệp giữa hai nhóm này. Với ý nghĩa đó, luận văn
có thể góp phần xây dựng hệ thống lý luận về QHCC nói
chung qua việc nghiên cứu cụ thể về hoạt động QHCC từ
bối cảnh thực tiễn của Việt Nam.
Ý nghĩa thực tiễn:Luận văn là một đề tài nghiên cứu
mang tính ứng dụng cao hiện nay. Thông qua những khảo
sát, đánh giá cụ thể, luận văn xây dựng một tài liệu có hệ
thống về thực trạng mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và
nhà báo. Từ đó, luận văn đưa ra các giải pháp xây dựng và
phát triển mối quan hệ giữa họ hiệu quả hơn
4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ này
ở các bối cảnh văn hóa khác nhau như: khái quát mô hình
các mối quan hệ giữa một tổ chức với các nhóm công
chúng mục tiêu của nó (J.E Grunig, L.A Grunig và
Dozier, 1995); khái quát các chiến lược khác nhau để một
tổ chức tiếp cận và xây dựng, phát triển mối quan hệ với
các nhóm công chúng (Cutlip, 2000) hay Sriramesh và
Yi-Hui Huang đi sâu nghiên cứu các thang đo mức độ
thân thiết của các mối quan hệ, và các yếu tố ảnh hưởng
đến mối quan hệ giữa các bên, trong đó đặc biệt nhấn
6
mạnh các yếu tố nền như bối cảnh văn hóa, chính trị, xã
hội; Samsup Jo và Yungwook Kim (2004) thì quan tâm
đến mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo ở các
nền văn hóa phương Đông…
Tại Việt Nam, luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thanh
Huyền (2001) là một trong những nghiên cứu đầu tiên về
QHCC với đề tài “Quan hệ công chúng và báo chí ở Việt
giữa nhân viên QHCC và nhà báo dưới sự ảnh hưởng của
yếu tố “duy tình” trong văn hóa Việt Nam, trong bối cảnh
truyền thông được phát triển mạnh mẽ tại các doanh
nghiệp, tổ chức. Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các
nhân viên quan QHCC và nhà báo đang tác nghiệp trên
toàn lãnh thổ Việt Nam.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận về yếu tố “duy tình” trong văn hóa
phương Đông và mối quan hệ giữa nhân viên Quan hệ
công chúng với nhà báo
Chương 2: Khảo sát về sự ảnh hưởng của yếu tố “duy
tình” trong mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo
tại Việt Nam
Chương 3: Các biện pháp xây dựng mối quan hệ có tình
cảm tốt đẹp giữa nhân viên QHCC và nhà báo
8
CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ YẾU TỐ “DUY TÌNH”
TRONG VĂN HÓA PHƢƠNG ĐÔNG VÀ MỐI
QUAN HỆ GIỮA NHÂN VIÊN QHCC VỚI NHÀ
BÁO
1.1 Yếu tố “duy tình” trong văn hóa phƣơng Đông
1.1.1 Khái niệm “duy tình”
Khái niệm này nhằm nhấn mạnh một trong những đặc
điểm của người Việt là coi trọng tình cảm. Tâm lí coi
trọng tình cảm và hành vi ứng xử thiên về tình cảm của
người Việt được thể hiện trong tất cả các mối quan hệ: với
xã hội, với thiên nhiên
làm mười”. Người Việt ứng xử trong các mối quan hệ xã
hội của mình bằng cái tình, khi cần cân nhắc giữa tình với
lý thì tình được đặt cao hơn lý: “Một bồ cái lý không bằng
một tý cái tình”. Cũng từ tâm lý trọng tình cảm này, người
Việt rất hiếu khách, thích thăm viếng lẫn nhau, thích tặng
quà và nhận quà, nói vòng vo tránh mất lòng…
Coi trọng cộng đồng: Trong quan hệ giữa người với
người, văn hoá phương Đông nặng về tính cộng đồng và
cách ứng xử tình cảm, mềm dẻo. Cả hai phẩm chất này,
suy cho cùng, cũng là do loại hình văn hoá gốc nông
nghiệp chi phối. Đặc trưng này của văn hoá phương Đông
khiến mỗi người khi hành động luôn luôn phải nghĩ đến
10
cộng đồng, đến tập thể, xã hội. Vì tập thể, người ta sẵn
sàng hi sinh lợi ích cá nhân. Cũng vì thế mà người
phương Đông thường đề cao nghĩa vụ, trách nhiệm (trong
khi phương Tây thì coi trọng quyền lợi).
Giữ thể diện cho nhau: Trong truyền thống của người
Việt Nam, thể diện, danh dự là điều vô cùng quan trọng.
Tâm lý trọng danh dự đã ăn sâu vào trong suy nghĩ, lối
sống của dân tộc ta: “Tốt danh hơn lành áo”, “Đói cho
sạch, rách cho thơm”. Có thể nói, thể diện được xem như
là một trong những yếu tố quan trọng làm nên một mối
quan hệ xã hội và tác động đến việc xây dựng thành công
mối quan hệ này.
1.2 Mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của mối quan hệ
Khái niệm mối quan hệ
Theo từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (2009,
quan hệ giữa con người hoặc giữa các nhóm người là mức
độ mà người ta thỏa thuận xem ai là người nên quyết định
các mục tiêu của mối quan hệ và phép ứng xử. Nghiên
cứu của Huang (1999) đã chỉ ra rằng sự kiểm soát lẫn
nhau là một trong hai yếu tố chính tác động gián tiếp đến
QHCC trong chiến lược giải quyết xung đột. Tóm lại, kết
luận được đưa ra trong các nghiên cứu trước đây là để
mối quan hệ ổn định, tích cực, việc kiểm soát lẫn nhau
giữa các bên nên tồn tại ở một mức độ nào đó.
Sự cam kết: Quan hệ cam kết (Relational
commitment) trong mối quan hệ nhà báo và nhân viên
12
QHCC được Hon và J. E. Grunig (1999) được định nghĩa
là “mức độ mà một bên tin tưởng và cảm thấy rằng mối
quan hệ là xứng đáng để duy trì và thúc đẩy”. Sự cam kết
được xem xét như là một chỉ số hiệu quả của các mối
quan hệ nội bộ trong việc thiết lập các mối quan hệ. Ví
dụ, sự cam kết lúc nào cũng gắn chặt với công dân có tính
tổ chức cao, việc tuyển dụng và tiến hành đào tạo và việc
hỗ trợ tổ chức (Morgan & Hunt, 1994).
Sự hài lòng: Hon và J. E. Grunig (1999) đã định nghĩa
sự hài lòng của các mối quan hệ là “mức độ mà một bên
cảm thấy thỏa mãn với các bên khác do sự kỳ vọng theo
hướng tích cực về mối quan hệ được tăng cường”. Tầm
quan trọng của sự hài lòng trong mối quan hệ nói chung
và mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo nói
riêng là một đặc tính quan trọng quyết định đến tính thân
mật, gắn kết của mối quan hệ, diều này đã được thừa nhận
rộng rãi (Ferguson, 1984; Millar & Rogers, 1976; Stafford
chặt với nhà báo, yếu tố tình cảm của mối quan hệ này sẽ
giúp cho công việc của cả nhân viên QHCC và nhà báo
gặp nhiều thuận lợi hơn. Nhà báo có thể vì cái tình với
nhân viên QHCC mà cố tình nhắc đến tên doanh nghiệp
trong những tin bài của mình hay cố tình bỏ qua, làm ngơ
hoặc “giơ cao đánh khẽ” đối với những vụ bê bối, khủng
hoảng hay những vấn đề khúc mắc mà doanh nghiệp đang
gặp phải. Và cũng vì cái tình của mối quan hệ, vì muốn
giữ thể diện cho nhau nên nhà báo đi dự họp báo của
doanh nghiệp, tham gia các hoạt động khai trương, động
thổ, các ngày kỷ niệm quan trọng của doanh nghiệp và
đưa tin, bài. Có thể nói, tại mỗi quốc gia, vùng miền với
môi trường văn hóa, xã hội đặc trưng thì lại có những đặc
trưng riêng để xây dựng các mối quan hệ xã hội trong đó
có quan hệ nhà báo và nhân viên QHCC.
14
Tiểu kết chƣơng 1 và câu hỏi nghiên cứu
Nội dung chương 1 đã phần nào làm rõ khái niệm duy
tình cùng những biểu hiện của nó trong các mối quan hệ
xã hội nói chung, đó là việc lấy chữ Tình làm trọng, giữ
gìn thể diện cho nhau và coi trọng cộng đồng. Mối quan
hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo cũng chịu sự ảnh
hưởng mạnh mẽ của văn hóa trong hoạt động của mình,
đặc biệt là văn hóa “duy tình”.
Kết hợp giữa các vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn mỗi
quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo trong chương
1, chương 2 và chương 3 sẽ giải quyết các câu hỏi nghiên
cứu sau:
CHNC 1: Có hay không sự hiện diện của yếu tố “duy
QHCC trên thế giới. Theo mô hình nghiên cứu này, tác
giả luận văn chọn ra 10 cặp nhà báo và nhân viên QHCC
đã từng làm việc với nhau từ 1 năm trở lên để phỏng vấn
sâu về mối quan hệ giữa họ.
Ngoài ra, luận văn còn dùng phương pháp điều tra
XHH bằng bảng hỏi (survey) với 100 nhân viên QHCC và
nhà báo. Nội dung bảng hỏi được xây dựng dựa trên việc
tham khảo về nội dung bảng hỏi trong nghiên cứu của Yi-
Hui Huang, giảng viên Khoa Quảng cáo và Quan hệ công
chúng, Trường đại học Chính trị quốc gia Đài Loan có
nhan đề: “OPRA: A Cross-Cultural, multiple item scale
for measuring organization public relationhips” (Huang,
2001). (Tạm dịch là: “OPRA: Thang đo đa hạng mục, liên
văn hóa để đánh giá những mối quan hệ với các nhóm
công chúng của một tổ chức”). Nghiên cứu này được đăng
16
tải trên tạp chí Journal of Public Relations Research – một
tạp chí khoa học hàng đầu và danh tiếng cao về chuyên
ngành QHCC trên thế giới. Trước khi tiến hành đưa vào
khảo sát thực tế, bảng hỏi được gửi cho 2 nhà báo và 2
nhân viên QHCC đọc và góp ý về nội dung cũng như cách
diễn đạt. Khảo sát được thực hiện từ ngày 12/5 đến
30/6/2012, bảng hỏi được phát qua các công cụ trực tuyến
như e-mail, chat, skype…
2.2 Kết quả khảo sát về ảnh hƣởng của yếu tố “duy
tình” trong mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà
báo tại Việt Nam
2.2.1 Biểu hiện của yếu tố “duy tình” trong mối quan
hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo tại Việt Nam
Hầu hết những người được khảo sát đều đồng ý mối
quan hệ tình cảm giữa nhà báo và nhân viên QHCC đều là
sự tổng hòa từ 3 yếu tố (cả ba đáp án trên): tình cảm cá
nhân, quan hệ từ công việc hình thành nên và đây là tình
cảm phải có để duy trì lợi ích cho công việc của cả 2
(35,5%). Điều này cho thấy nhận thức về mối quan hệ
đang tồn tại trong công việc hàng ngày của họ đã ngày
càng tiến bộ và hiện đại hơn. Họ đã nhìn nhận mối quan
hệ này ở nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên,
tỷ lệ này chỉ nhỉnh hơn so với những người có quan điểm
cho rằng mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo
thực chất là xuất phát từ công việc và nó được xây dựng
lên để phục vụ cho công việc của đôi bên (32,3%). Thông
qua phỏng vấn sâu, 10/10 cặp đôi đều công nhận có mối
liên hệ tình cảm nào đó giữa họ với nhà báo hoặc với
nhân viên QHCC.
Nguồn gốc của yếu tố tình
cảm trong mối quan hệ giữa
nhân viên QHCC và nhà báo
Số
lƣợng
phiếu
Tỷ lệ
Du nhập từ nước ngoài vào
7
7,5%
Văn hóa VN với đặc trưng
“duy tình”
25
26,9%
Tỷ lệ
Liên hệ với nhau khi có công
việc liên quan
21
22,6%
Thường xuyên có sự giao lưu,
gặp gỡ dưới nhiều hình thức
16
17,2%
Có mối quan hệ mật thiết, tương
tác lẫn nhau trong công việc
29
31,2%
Cả ba đáp án trên
27
29,0%
Tổng số
93
100,0%
Bảng 2.3: Biểu hiện của yếu tố tình cảm trong mối quan
hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo
Một số cặp tham gia phỏng vấn sâu cũng cho rằng tình
cảm thân thiết giữa họ hiện lên rõ nét qua sự liên hệ cá
nhân, liên hệ trong công việc. Như vậy, việc giữ liên lạc
và gặp gỡ thường xuyên dường như đã trở thành “đặc
19
điểm nhận diện” trong mối liên hệ giữa nhân viên QHCC
và nhà báo. Đây cũng sẽ là một trong những phương thức
quan trọng để duy trì và phát triển mối quan hệ này. Điều
Khi nhân viên QHCC xây dựng được mối quan hệ tốt
với nhà báo mang đến cho doanh nghiệp của họ thuận lợi
về nhiều mặt. Đầu tiên phải kể đến những thuận lợi khi
đăng tải tin tức trên các phương tiện truyền thông đại
chúng, cũng như khi tiếp cận khách hàng, đối tác. Khi đã
xây dựng được mối quan hệ thân thiết cùng nhà báo, nhân
viên QHCC sẽ nhận được sự tư vấn tích cực của nhà báo
từ các hoạt động chuyên môn. Điều này càng có lợi hơn
khi doanh nghiệp xảy ra khủng hoảng, khi đó, các nhà báo
thường là người tỉnh táo và sẽ là cánh tay hỗ trợ đắc lực
giúp doanh nghiệp giảm thiểu khủng hoảng.
Khi doanh nghiệp có mối quan hệ tốt với nhà báo,
doanh nghiệp đó sẽ thường xuyên được xuất hiện trong
các tin, bài mang tính chuyên ngành của nhà báo, vậy là
doanh nghiệp đã được nhà báo quảng cáo mà không phải
mất chi phí
Lợi ích về phía nhà báo
Việc xây dựng mối quan hệ tốt với các nhân viên
QHCC giúp các nhà báo/cơ quan báo chí thuận lợi hơn
khi mời doanh nghiệp tài trợ cho những hoạt động của cơ
quan báo chí. Nhân viên QHCC chính là nguồn cung cấp
thông tin về doanh nghiệp, thị trường cho báo chí. Thông
qua mối quan hệ thân thiết này, cả nhân viên QHCC và
nhà báo đêu có cơ hội mở rộng thêm mối quan hệ xã hội
của mình, phục vụ đắc lực cho công việc. Có đến hơn
60% người trong ngành QHCC và báo chí đều tin tưởng
21
vào một mẫu quan hệ truyền thông tích cực đang hình
thành từ mối quan hệ giữa nhân viên QHCC và nhà báo sẽ
QUAN HỆ CÓ TÌNH CẢM TỐT ĐẸP
GIỮA NHÂN VIÊN QHCC VÀ NHÀ BÁO
3.1 Cách xây dựng và duy trì tính tích cực của yếu tố
“duy tình” trong mối quan hệ giữa nhân viên QHCC
và nhà báo
3.1.1 Duy trì việc gặp gỡ và liên lạc thƣờng xuyên
Dựa trên kết quả khảo sát trong luận văn của Vũ Thị
Thu Hà (2012) và các khảo sát được thực hiện, có thể thấy
mức độ gặp gỡ được nhiều nhân viên QHCC lựa chọn để
hẹn gặp nhà báo là 1 tháng/lần.
Thông qua việc phỏng vấn sâu các cặp nhân viên
QHCC và nhà báo cho biết, tần suất gặp gỡ của họ khá
thường xuyên, ngay khi phát sinh công việc hoặc khi đối
phương có lời mời. Thậm chí, họ tự tạo ra các cơ hội để
gặp gỡ nhằm tăng cường hơn nữa tình cảm giữa họ. Một
số cặp thì không đề cao việc tăng tần suất gặp gỡ mà lại
coi trọng việc hai bên liên lạc với nhau thường xuyên như
thế nào. Nhưng hầu hết đều cảm thấy có mối liên hệ hơn
mức bình thường sau một thời gian dài hợp tác cùng nhau
trong công việc – dù là có liên lạc thường xuyên hay
không.
Về địa điểm gặp gỡ, 64,5% thành viên tham gia khảo
sát không thiên về dạng địa điểm nào cố định mà cho rằng
lựa chọn bất cứ địa điểm nào thuận lợi và phù hợp cho cả
nhân viên QHCC và nhà báo là được.
Về tần suất liên lạc, các kết quả khảo sát và phỏng vấn
sâu cũng khuyến cáo, việc này nên diễn ra càng thường
xuyên càng tốt. Việc liên lạc phổ biến nhất là qua điện
23
quả, cởi mở, hoặc sẵn sàng nhận lời tham dự các hoạt
động cung cấp thông tin của doanh nghiệp như: họp báo,
24
viếng thăm vào các dịp lễ lạt, kỷ niệm, hoặc tìm hiểu hoạt
động kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp
3.1.4 Nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn của
nhân viên QHCC
Bản thân doanh nghiệp, tổ chức cần có sự đầu tư
thích đáng và có chiều sâu cho bộ phận QHCC của đơn vị
mình. Điều này mang lại hiệu quả lâu dài và những lợi ích
khó đong đếm được cho doanh nghiệp. Từ viêc nâng cao
trình độ, năng lực chuyên môn của nhân viên QHCC sẽ
kéo theo việc nâng cao hoạt động QHCC của đơn vị,
trong đó có việc gây dựng quan hệ với báo chí bền chặt và
tốt đẹp hơn.
3.1.5 Sự thiện chí của lãnh đạo doanh nghiệp và cơ
quan báo chí
Đối với lãnh đạo doanh nghiệp cần đề ra chiến
lược quan hệ với báo chí rõ ràng và đúng đắng, có sự đầu
tư chi phí nhất định cho hoạt động này và đảm bảo sự đầu
tư này tương xứng với quy mô phát triển kinh doanh của
doanh nghiệp. Quan trọng hơn, lãnh đạo doanh nghiệp
cần tạo điều kiện về thời gian, không gian để nhân viên
QHCC tăng cường mối quan hệ với nhà báo. Mặt khác,
đối với lãnh đạo của cơ quan báo chí thì nên xóa bỏ dần
những nhận định không tốt về doanh nghiệp và ủng hộ
cho mối quan hệ trên, tạo điều kiện để nhà báo tiếp cận
nhiều hơn với nguồn tin từ doanh nghiệp, tham gia các
hoạt động cùng với doanh nghiệp để tăng cường sự hiểu
yếu tố “duy tình” trong quan hệ giữa 2 nhóm đối tượng
bằng cách kết hợp “duy lý” và “duy tình” khi giải quyết
công việc, hai bên luôn tỏ rõ thái độ thiện chí hợp tác,
không đi quá sâu vào đời sống riêng tư của đối phương,
nhà báo cần công tâm hơn, nhân viên QHCC cần khách
quan hơn…