Đánh giá chất lượng tinh dịch gà tre tân châu và gà tre thái lan trong môi trường pha loãng theo thời gian bảo quản - Pdf 22

“Đánh giá chất lượng tinh dịch gà Tre
Tân Châu và gà Tre Thái Lan trong môi
trường pha loãng theo thời gian bảo
quản”.
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Ngành chăn nuôi nước ta đã và đang trở thành thế mạnh trong sản xuất
nông nghiệp. Sản phẩm chăn nuôi không những đáp ứng đủ nhu cầu trong nước
mà còn phục vụ cho xuất khẩu. Chăn nuôi gia cầm phát triển cung cấp nguồn
thực phẩm, tạo nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, giải quyết công ăn
việc làm cho lao động nhàn rỗi ở nông thôn. Tận dụng tối đa phế phụ phẩm
trong quá trình sản xuất, công chăm sóc ít và đồng vốn quay vòng nhanh. Nó đã
góp phần làm chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho
nước ta. Năm 2011, đàn gia cầm có 293,7 triệu con [41]. Xã hội ngày càng phát
triển, nhu cầu của con người càng tăng cả về số lượng và chất lượng gia cầm,
đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải tìm hiểu ra các biện pháp lai tạo giống mới.
Hiệu quả sinh sản là một chỉ tiêu quan trọng nhất trong chăn nuôi động vật. Lợi
nhuận thu được trong chăn nuôi chính là số lượng các cá thể con trên một mẹ
giống. Sự phát triển hay bị tuyệt chủng của loài phụ thuộc vào khả năng tự bảo
tồn và tăng số lượng của loài đó [4].
Trong chăn nuôi gia cầm, để sản xuất giống khả năng sinh sản của gia
cầm là rất quan trọng; còn trong chăn nuôi gia cầm lấy thịt, để sản xuất được
nhiều thịt, cần tạo ra những dòng gia cầm có tốc độ sinh trưởng nhanh, năng suất
và chất lượng thịt cao. Mặt khác cũng cần phải sản xuất ra nhiều gia cầm giống
trong cùng một thời gian. Để có nhiều gia cầm giống, con mái phải cho nhiều
1
trứng giống, tỷ lệ có phôi và tỷ lệ ấp nở phải đạt cao. Việc lai tạo ra các giống
mới có đặc điểm trội hơn so với giống gà ban đầu, góp phần giải quyết nhu cầu
con giống, khắc phục nhược điểm sinh sản kém, tạo được sản phẩm hàng hóa dễ
tiêu thụ, hợp thị hiếu người tiêu dùng đang là yếu tố rất cần thiết [4].

Gần đây, tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, ngoài thú nuôi chim cá
cảnh, chó cảnh, nhiều người còn say mê thú nuôi gà cảnh. Đó là những loại gà
2
nhỏ con, đẹp và gáy hay, giống như gà tre nhưng nhỏ hơn, màu sắc đa dạng và
phong phú hơn. Đa phần người chơi gà cảnh hiện nay thường sưu tầm và phát
triển các giống gà có nguồn gốc từ Thái Lan, Malaysia, đặc biệt là gà Tân Châu
- Việt Nam [35].
Xuất phát từ thực tế, để phương pháp thụ tinh nhân tạo ở gà cảnh đạt
kết quả cao, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá chất lượng
tinh dịch gà Tre Tân Châu và gà Tre Thái Lan trong môi trường pha
loãng theo thời gian bảo quản”.
1.2. Mục tiêu đề tài
Đánh giá các chỉ tiêu của tinh dịch gà nuôi làm cảnh
Đánh giá chất lượng tinh dịch gà trong môi trường pha loãng theo thời
gian bảo quản
PHẦN 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Tình hình chăn nuôi gia cầm trên thế giới
Chăn nuôi gia cầm cũng như thương mại các sản phẩm gia cầm trên thế
giới phát triển mạnh trong vòng 35 năm qua. Sản lượng thịt và trứng gia cầm
tăng nhanh hơn sản lượng thịt bò và thịt lợn. Năm 1970, sản lượng thịt gia cầm
thế giới chỉ đạt 15,1 triệu tấn, thịt lợn là 38,3 triệu tấn, thịt bò 60,4 triệu tấn
nhưng đến năm 2005 sản lượng của các loại thịt này tăng lên tương ứng là: 81;
102,5 và 60,4 triệu tấn. Sản lượng thịt gia cầm năm 1970 chỉ xấp xỉ 50% sản
lượng thịt lợn và bằng 25% sản lượng thịt bò nhưng đến năm 2005 sản lượng
thịt gia cầm đã tăng cao hơn 25% so với thịt bò và bằng 75% thịt lợn. Trứng gia
cầm tăng từ 19,5 triệu tấn năm 1970 lên 59,2 triệu tấn năm 2005 [40].
Sản lượng thịt và trứng của các nước đang phát triển cao hơn các nước
phát triển. Hiện tại, sản lượng thịt của các nước đang phát triển chiếm 55% sản
lượng thịt thế giới, sản lượng trứng chiếm 68%. Mặt khác, do tốc độ phát triển

các nước đang phát triển chiếm 54,7% sản lượng thịt gia cầm thế giới. Thị phần
của Bắc, Trung Mỹ và châu Âu bị chia sẻ bởi các nhà sản xuất lớn khác ở châu
Á và Nam Mỹ đó là Trung Quốc và Brazil. Năm 1970, sản lượng thịt của khu
vực Bắc và Trung Mỹ, Châu Âu (EU) và Liên bang Nga chiếm hơn 71% sản
lượng thịt gia cầm thế giới, còn châu Á và Nam Mỹ chiếm ít hơn 24%. Đến năm
2005, tỷ lệ này là gần 50%, tốc độ tăng trưởng cao nhất là ở khu vực châu Á gần
25 triệu tấn trong giai đoạn 1975-2005, sau đó là Nam Mỹ 12 triệu tấn [33].
Tốc độ tăng trưởng của thương mại gia cầm tăng nhanh hơn so với khả
năng sản xuất, cụ thể là: năm 1970 chỉ có 521 tấn thịt gia cầm được xuất khẩu
nhưng đến năm 2004 đã tăng lên 9,7 triệu tấn. Ngược lại, năm 1970 thịt gia cầm
chỉ chiếm 3,5% trong tổng sản lượng thịt thì đến nay tỷ lệ này là 12%. Trong
4
cùng thời gian này, thương mại trứng gia cầm tăng từ 0,4 triệu tấn lên 1,4 triệu
tấn. Ngược lại với thịt gia cầm, trứng gia cầm chỉ xuất khẩu được 12% năm
2004 và 1,8% lượng trứng gia cầm sản xuất ra được đưa ra thị trường thế giới do
các nguyên nhân như: vận chuyển trứng khó khăn, trứng thường được tiêu thụ ở
nội địa [40].
Xuất khẩu trứng gia cầm tăng từ 400.000 tấn năm 1970 lên hơn 1 triệu
tấn năm 2004. Thị phần của các nước đang phát triển chỉ chiếm khoảng 10,5%
đến 24,5% chủ yếu là do nhu cầu tiêu thụ cao hơn so với sản lượng. Năm 1990,
sản lượng trứng xuất khẩu của các nước châu Âu chiếm 82% sản lượng trứng
xuất khẩu trên thế giới nhưng đến năm 2004 giảm xuống còn 68% năm 2004.
Năm 1970, lượng trứng gia cầm xuất khẩu của Hà Lan và Bỉ chiếm 41,5%; 8
quốc gia đứng đầu về xuất khẩu trứng gia cầm đều thuộc khu vực châu Âu và 2
nước thuộc khu vực châu Á. Năm 2004, Hà Lan và Tây Ban Nha đứng ở vị trí
thứ 1 và 2 chiếm 35,4% sản lượng trứng gia cầm xuất khẩu của thế giới., sau đó
là Trung Quốc. Ngoài ra, còn có một số nước không phải là nước xuất khẩu
trứng gia cầm lớn những năm 1970 nhưng đến năm 1970 đã trở thành những
nước xuất khẩu trứng gia cầm lớn nhất thế giới năm 2004 như: Tây Ban Nha,
Mỹ, Malaysia và Ấn Độ. Mặc dù nhu cầu tiêu thụ trứng tăng cao song thị phần

thể đẩy giá khô dầu đậu tương lên cao làm cho giá gia cầm thế giới cũng tăng
theo và đây cũng là bài học giống như đối với thị trường thép trong mấy năm
qua. Tuy nhiên, ngành ch nuôi gia cầm có thể bị giảm mạnh nếu dịch cúm gia
cầm không được ngăn chặn. Dịch xảy ra tại Châu Âu và Châu Phi vào quý 1
năm 2006 đã làm cho người tiêu dùng lo ngại không dám ăn thịt và trứng gia
cầm. Theo ước tính của FAO, do dịch cúm gia cầm nên lượng tiêu thụ thịt gia
cầm năm 2006 giảm 3 triệu tấn, đó là tổn thất nặng nề đối với các nhà chế biến
các sản phẩm gia cầm xuất khẩu. Tiêu thụ thịt, trứng của một số nước trong
khu vực: Trung Quốc năm 2006 xuất khẩu 350 nghìn tấn thịt gia cầm, nhập
khẩu 370 nghìn tấn, tiêu thụ nội địa 8 kg/người/năm, bình quân 320 quả
trứng/người/năm [34].
2.2. Tình hình chăn nuôi gia cầm ở Việt Nam
Trước khi xẩy ra dịch cúm gia cầm, số lượng gia cầm của nước ta hàng
năm tăng trưởng ở mức cao. Tổng đàn gia cầm cả nước năm 2001 là 216 triệu
con, năm 2003 là 254 triệu con và năm 2005 chỉ còn 220 triệu con. Tốc độ tăng
đàn 2001-2003 là 8,5% năm. ĐBSH từ 46,9 triệu năm 2001 tăng lên 65,5 triệu
năm 2003. Số liệu các vùng còn lại tương ứng như sau: ĐB 45,6; 41,64 triệu,
TB 6,8; 7,8 triệu; BTB 27,2; 36,7 triệu; DHMT 14,4; 16,2 triệu, TN 5,6; 10,1
triệu; ĐNB 24,9; 24,7 triệu; ĐBSCL 46,7; 51,5 triệu con. Từ cuối năm 2003,
do dịch cúm gia cầm đã làm giảm tổng đàn gia cầm xuống còn 219 triệu con
năm 2004, giảm 13,8% Mười tỉnh có số lượng đàn gia cầm lớn là Hà Tây
10,8 triệu con; Nghệ An 10,9; Thái Bình 8,2; Hưng Yên 6,50; Phú Thọ 7,9;
6
Đồng Nai 5,2; Hà Tĩnh 4,9; Thái Nguyên 4,7; Hải Phòng 4,6 và Vĩnh Long 4,6
triệu con [40].
Năng suất và sản lượng thịt, trứng: sản lượng thịt trong giai đoạn 2001-
2005 đạt 372,7 nghìn tấn, trứng đạt 4,85 tỷ quả. Bình quân thịt, trứng gia cầm
trên đầu người của nước ta năm 2003 là: 4,5 kg thịt hơi/người/năm tương
đương 2,94 kg thịt xẻ/người/năm, 60 quả trứng, tương đương 3,4 kg
trứng/người/năm. Trước dịch cúm H5N1, sản lượng thịt gia cầm hàng năm

thoi có khối lượng
2,66 g. Gà trong thời kỳ đẻ mạnh, buồng trứng có hình chùm nho, khối
lượng
đạt 55 g, vào thời kỳ thay lông, khối lượng buồng trứng giảm còn 5g.
Buồng trứng có miền vỏ và miền tuỷ. Bề mặt vỏ đ ược phủ bằng một lớp
biểu mô có lớp tế
bào hình trụ hay lăng trụ thấp. Dưới chúng có 2 lớp nang với
các tế bào trứng. Nằm ở lớp
ngoài là những nang nhỏ có đ ường kính đến 400
micron, trong lớp sâu hơn có những nang lớn hơn với đường kính 800 micron hay
to hơn.
Chất tuỷ được cấu tạo từ mô liên kết, có nhiều mạch máu và dây thần
kinh. Trong chất tuỷ có những khoang được phủ bằng biểu mô dẹt và tế bào kẽ.
Hình 2.1. Sơ đồ hệ sinh dục của gia cầm mái
2.3.2. Sự tạo trứng
Sự phát triển tế bào trứng có ba thời kỳ: sinh sản, sinh trưởng và chín
Quá trình phát
triển tế bào sinh dục cái xảy ra không chỉ là sự thay đổi cấu trúc
và kích thước của nó mà còn thay đổi cả bộ máy thể nhiễm sắc của nhân tế bào.
Thời kỳ sinh sản xảy ra trong quá trình phát triển phôi và kết thúc khi gà
nở. Như đã kể trên, do kết quả của rất nhiều lần phân chia liên tiếp, số lượng
noãn nguyên bào trong buồng trứng đạt đến 480 000 chiếc, nhưng phần lớn các
8
noãn bào này bị thoái hoá nên đến khi thành thục, số lượng của chúng bị giảm đi
rất nhiều. Trước khi bắt đầu đẻ trứng, trong buồng trứng gà mái đếm được 3500 -
4000 noãn nang, ở thuỷ cầm 1250 - 1500. Khác với tế bào sinh trưởng, trong noãn
bào có nhân to với hạt nhân nhỏ và thể nhiễm sắc, không có trung thể. Sau khi kết
thúc quá trình sinh sản, các tế bào sinh dục được hình thành gọi là noãn bào cấp I.
Thời kỳ sinh trưởng được chia thành thời kỳ sinh trưởng nhỏ và thời kỳ
sinh trưởng lớn. Thời kỳ sinh trưởng nhỏ kéo dài từ khi gà nở đến khi thành thục

bào trứng, giữa vỏ lòng đỏ và thành nang xuất hiện khoang gần lòng đỏ, chứa đầy
limpho. Trong đó noãn bào bơi tự do và các cực của nó nằm theo cực hướng
tâm: cực animal (cùng đĩa phôi) hướng lên trên, còn cực thực vật xuống dưới.
Noãn nang đã hình thành của gà mái chính là lòng đỏ, có đường kính 35 – 40
mm. Màu của lòng đỏ phụ thuộc vào các sắc tố trong máu: carotenoit, carotin và
xantofil. Màu đậm nhất của lòng đỏ thường gặp ở gia cầm được ăn đầy đủ
carotenoit trong thức ăn.
9
Thời kỳ chín của noãn bào: xảy ra 2 lần phân chia liên tiếp của tế bào sinh
dục, số nhiễm
sắc thể giảm đi 2 lần, vì vậy sự phân chia này được gọi là giảm
nhiễm hay phân bào giảm
nhiễm. Trước khi bắt đầu phân chia chia lần thứ
nhất, trong nhân của noãn bào cấp I (noãn
nguyên bào) xảy ra việc kéo dài
nhiễm sắc thể và số lượng của chúng tăng gấp đôi. Nhân tiến dần đến bề mặt
của noãn bào. Những nhiễm sắc thể giống nhau xích gần nhau để tạo thành
từng cặp, còn màng nhân biến mất. Kết quả lần phân chia thứ nhất tạo thành 2
tế bào: noãn bào cấp II và tiểu thể thứ nhất (thể cực thứ nhất) mà trong hạt
nhân của chúng có bộ nhiễm sắc thể 1n. Quá trình này được hoàn thành ở
buồng trứng trước khi trứng rụng. Sự phân chia lần thứ hai ở phễu của ống dẫn
trứng. Khi đó từ noãn bào cấp II tạo nên tế bào trứng chín và tiểu
thể thứ hai
(cực cầu) cũng có bộ nhiễm sắc thể đơn bội 1n. Như vậy, do kết quả phân
chia
giảm nhiễm, trong tế bào trứng chín có một nửa số nhiễm sắc thể. Tiểu
thể thứ nhất có thể
phân chia làm hai cực cầu khác. Các cực cầu không phát
triển và dần dần bị tiêu biến.
Quá trình thoát khỏi buồng trứng của tế bào trứng chín gọi là sự rụng

các tế bào nang tiết estrogen trong khi trứng
rụng, kích thích hoạt động của ống dẫn trứng.
Estrogen ảnh hưởng lên tuyến
yên, ức chế việc tiết FSH, như vậy sẽ làm chậm việc chín tế bào trứng ở buồng
trứng. Hormone LH điều khiển việc rụng trứng của gia cầm. Tuyến yên ngừng
tiết nó khi trong ống dẫn trứng có trứng, do đó ức chế sự rụng trứng của tế bào
trứng chín tiếp theo. LH chỉ được tiết vào buổi tối, sự chiếu sáng làm ngừng trệ
việc tiết nó, do vậy, sự rụng trứng sẽ bị ngừng lại. Người ta cho rằng ở gà từ lúc
bắt đầu tiết LH đến lúc rụng trứng kéo dài khoảng 6 - 8 giờ. Vì vậy việc chiếu
sáng thêm vào các giờ buổi chiều và tối làm chậm việc tiết LH, do đó làm chậm
quá trình rụng và đẻ trứng 3 - 4 giờ. Tăng giờ chiếu sáng lên 14 - 17 giờ/ ngày
làm tăng sản lượng trứng của gia cầm mái nhưng không nên tăng vào buổi chiều
và buổt tối là vì vậy.
2.4 Đặc điểm sinh lý sinh dục gia cầm trống
2.4.1.Cấu tạo cơ quan sinh dục
Cơ quan sinh dục của gà trống gồm tinh hoàn, mào tinh hoàn, ống dẫn
tinh và cơ quan giao cấu (bộ phận này khá phát triển ở thuỷ cầm, đà điểu).
Tinh hoàn là cơ quan đôi, hình ôvan hoặc hình hạt đậu, màu trắng ngà, nằm
trong khoang bụng, ở vị trí trước thận. Ở gà trống trưởng thành, trong thời kỳ
hoạt động sinh dục, tinh hoàn dài tới 4,7, đường kính 2,5 - 2,7 cm, khối lượng 17
– 19 g. Thời kỳ thay lông, khối lượng giảm tới 3 – 5 g. Ở ngỗng và vịt trống có sự
thay đổi theo mùa của khối lượng tinh hoàn. Vào khoảng tháng 12, tinh hoàn của
vịt trống có khối lượng 2,6 g, còn trong tháng 6: 3,9 g. Tinh hoàn được bọc một
lớp màng trắng, từ lớp màng này ăn sâu vào là những sợi liên kết yếu. Những ống
sinh tinh gấp khúc nối với nhau, tạo thành mạng lưới dày. Những phần riêng biệt
của ống sinh tinh hơi phình to. Ở đây diễn ra sự hình thành tế bào sinh dục. Trên
bề mặt
cắt ngang của ống gấp khúc, ta thấy lớp ngoài cùng là mô liên kết hình
sợi, mô này tạo ra
màng đáy. Bên trong nó có 5 - 6 lớp tế bào tạo thành độ dày

trống áp sát với lỗ huyệt con mái. Lúc này âm đạo được bộc lộ ra và tinh trùng
được phóng vào lỗ huyệt của con mái.
Ở ngỗng đực, cơ quan sinh dục ngoài cấu tạo từ hai thể xơ, nó phồng lên
khi bị cương cứng bởi dòng limpho. Giữa các thể này có các lớp niêm mạc tạo
thành rãnh dọc, tinh dịch được dẫn theo rãnh này. Lúc bình thường, bộ phận sinh
dục nằm trong ổ nhớp trên ruột già, khi giao cấu, nó lồi ra
từ ổ nhớp do sự co bóp
của cả 2 cơ đặc biệt [2].
2.4.2. Sự tạo thành tinh trùng
Quá trình phát triển tế bào sinh dục đực được chia làm bốn giai đoạn: sinh
sản, sinh trưởng, trưởng thành và chín. Cũng như quá trình hình thành trứng, trong
tất cả các giai đoạn này có sự cấu trúc lại thể nhiễm sắc của nhân tế bào sinh dục và
giảm số lượng nhiễm sắc thể. Do đó trong tinh trùng cũng như trong tế bào trứng
đều có bộ nhiễm sắc thể đơn bội.
Các giai đoạn tạo tinh trùng của gà phát triển đồng thời với sự trưởng thành
và biệt hoá bộ máy sinh dục, dưới tác động của hệ thống thần kinh và hormone.
Ở gà trưởng thành, tính chất chu kỳ của sự tạo tinh trùng có thay đổi theo mùa
của hoạt động sinh dục.
Trong giai đoạn sinh sản, nguyên bào ở màng đáy thành ống, được phân
chia nhiều lần bằng cách gián phân nhằm làm tăng số lượng. Sau đó, chúng
ngừng sinh sản và bắt đầu vào giai đoạn thứ hai - giai đoạn sinh trưởng. Những
tế bào này nằm trong vùng sinh trưởng, ống dẫn chất dinh dưỡng to ra, và tế bào
tăng về kích thước. Những tế bào như vậy gọi là tinh bào thứ nhất. Trong nhân
những nhân tế bào này, thể nhiễm sắc của nhân hình thành từng cặp, sau đó xảy ra
quá trình tiếp hợp nhiễm sắc. Trong thời điểm này, chất dinh dưỡng vào nguyên
bào chậm dần và giai đoạn sinh trưởng cũng không được tiến hành nữa.
13
Hình 2.3: Tinh trùng của các loài gia cầm trống
A - Gà trống, B - Vịt đực, C - Đầu tinh trùng ngỗng đực
1. Đầu, 2. Cổ, 3. Phần liên kết, 4 -Phần giữa, 5- Đuôi

Thời gian sinh trưởng sinh dục của con trống phụ thuộc vào giống, điều kiện
thức ăn, chăn nuôi và nhiều nhân tố khác. Yếu tố tác động mạnh nhất là ánh
sáng, nó tác dụng tới tuyến yên, và thông qua nó, tác dụng tới tuyến sinh dục.
Thời gian kéo dài và mức độ chiếu sáng có ảnh hưởng lớn tới sinh trưởng và
phát triển của tinh hoàn ở động vật non và quá trình hình thành tinh trùng của
con trống
trưởng thành. Thành phần quang phổ của ánh sáng cũng có ý nghĩa.
Mức độ tác động lên
tuyến yên và tuyến sinh dục được sắp xếp theo thứ tự sau:
đỏ, da cam, vàng, xanh lục và xanh da trời.
Thời gian trải qua các giai đoạn khác nhau của sự tạo tinh tinh trùng ở gà
con, gà dò phụ
thuộc vào khả năng phát dục của giống. Như là trống Plymouth
rock, nguyên bào thứ nhất
xuất hiện vào tuần thứ 6, nguyên bào thứ 2 vào tuần
tuổi thứ 10, tiền tinh trùng vào tuần tuổi thứ 12, còn tinh trùng vào tuần tuổi thứ
16 - 20. Trống Leghorn, tinh trùng xuất hiện vào tuần tuổi thứ 12, còn vào tuần
tuổi 24 - 26, tinh trùng hoàn toàn có khả năng thụ tinh được [3].
2.4.3. Cơ chế điều hoà quá trình hình thành tinh trùng
Các hormone hướng sinh dục của tuyến yên thí FSH kích thích nang dịch
hoàn, ống sinh tinh và tế bào sertaly phát triển và tăng sinh ra tế bào sinh dục
đực. Thời gian thành thục sinh dục đực của con trống phụ thuộc vào giống, thức
ăn và môi trường. Ánh sáng là yếu tố tác động mạnh nhất đến tuyến yên, tiết ra
hoocmon hướng sinh dục [7].
2.4.4. Đặc điểm hình thái và sinh lý của tinh trùng
Tinh trùng gia cầm, cũng như của động vật có vú đều có ngoại hình như
nhau: đầu, cổ, thân và đuôi. Các loại gia cầm khác nhau thì tinh trùng của chúng
khác nhau về chiều dài và hình dạng của đầu. Độ dài của tinh trùng trung bình là
40 - 60 micron. Đầu tinh trùng của ngỗng dài, trên phần chỏm thì nhọn hoặc có
hình xoắn. Đầu tất cả các loại tinh trùng, trừ phần trước của nó -

- 3,5 triệu/ml. Tinh trùng gà trống màu trắng, pH 7,04 - 7,27; của vịt đực pH 6,6 -
7,8 [3].
Khối lượng tinh phóng ra và nồng độ tinh trùng là những chỉ số đánh giá
chức năng của dịch hoàn, phụ thuộc vào đặc điểm cá thể của con trống, số lần
giao cấu, mùa trong năm và những yếu tố khác. Kết quả cho thấy rằng trong suốt
một ngày đêm, lượng tinh trùng sản xuất ra không bằng nhau, tăng lên vào ban
đêm và sáng sớm, ban ngày sự tạo tinh trùng giảm. Số
lượng và chất lượng tinh
trùng trong tinh dịch phóng ra của con trống phụ thuộc vào tỷ lệ
trống mái
trong đàn [3].
2.5. Ảnh hưởng của yếu tố ngoại cảnh tới sức sống của tinh trùng
2.5.1. Nhiệt độ
Nhiệt độ có ảnh hưởng rất lớn tới sức sống của tinh trùng, là yếu tố
điều khiển quá trình sán sinh ra tinh trùng. Thực tế cho thấy có một số loài
động vật sinh sản theo mùa. Ví dụ: Ngựa, mùa động dục và sinh sản là mùa
xuân; chó. mèo chỉ có một mùa sinh sản trong năm vào mùa xuân hoặc thu; cừu
16
sinh sản vào mùa thu-đông và ngay cả đối với lợn, bò là động vật sinh sản
quanh năm, nhưng ở những lúc thời tiết khắc nghiệt (quá nóng, quá lạnh) thì
khả năng sinh sản cũng giảm [2].
Những nghiên cứu sâu hơn chứng minh rằng: nếu bọc dịch hoàn gia
súc bằng
nhiều lớp vải màn thì khả năng sinh tinh trùng giảm, nếu kéo dài
thời gian bọc dịch hoàn bằng vải màn có thể dẫn tới vô sinh.
Trong tự nhiên, nhiệt độ dịch hoàn động vật thường thấp hơn nhiệt độ
cơ thể từ 3-4
0
C do dịch hoàn nằm ngoài cơ thể và lớp biểu bì hạ nang của bao
dịch hoàn có khả năng co giãn lớn để điều hòa nhiệt, mặt khác các mao mạch

đương với áp suất thẩm thấu trong bào tương của tinh trùng), tinh trùng sống và
hoạt động tốt nhất, trong khi đó các môi trường nhược trương và ưu trương đều
có ảnh xấu tới sức sống của tinh trùng, thậm chí có thể làm chết tinh trùng. Bởi
vì, trong môi trường nhược trương, nước từ môi trường đi vào bào tương làm
cho tế bào tinh trùng bị trương phồng lên và ngược lại, ở môi trường ưu
17
trương, nước từ trong tế bào tinh trùng đi ra môi trường, dẫn đến sự tóp xẹp
của tế bào tinh trùng [2].
2.5.3. Các chất điện giải
Thành phần và hàm lượng các con trong môi trường có ảnh hưởng đến
sức sống của tinh trùng trên cả hai mặt: bất lợi và có lợi.
Các cation kim loại nặng, đa hóa trị (Ca
2+
,Al
2+
,Fe
2+
và Fe
3+
có ảnh hưởng
bất lợi đến sức sống của tinh trùng, bởi vì chúng trung hòa các điện tích âm
trên bề mặt của tinh trùng, làm cho tinh trùng mất điện tích bề mặt và dính kết
vào nhau. Tốc độ ngưng kết xảy ra nhanh trong môi trường axit. Để tránh tác
hại của các ion kim loại nặng, khi pha chế và bảo tồn tinh dịch cần sử dụng
các dụng cụ bằng thủy tinh. Tuy nhiên, người ta thấy rằng các cation K
+

Mg
2+
không có ảnh hưởng xấu tới sức sống của tinh trùng. Trái với các cation

hóa, trái lại môi trường axit kìm hãm sức vận động của tinh trùng.
Các axit hữu cơ yếu (axit lactic) có thể kìm hãm sự vận động của tinh
trùng ngay cả khi độ pH của môi trường chỉ hơi toan (pH=6,6-6,8), trong khi đó
các axit vô cơ và hữu cơ mạnh như H
2
SO
4
HCl và axit axetic chỉ kìm hãm sự
vận động của tinh trùng khi độ pH của môi trường rất toan (pH= 4-4,5). Đặc
biệt axit H
2
CO
3
Có khả năng ức chế sự vận động của tinh trùng ngay cả khi
pH xấp xỉ bằng 7. Vì vậy, trong bảo tồn tinh dịch, người ta có thể dùng khí
CO
2
để kìm hãm sự trao đổi chất của tinh trùng. Tinh dịch của loài động vật
có pH hơi toan (6,6-6,8) thì thời gian sống của tinh trùng dài hơn so với tinh
dịch có pH hơi kiềm trong cùng một điều kiện bảo tồn [5].
18
2.5.5. Ánh sáng
- Ánh sáng nhiễu xạ và ánh sáng đèn điện ít ảnh hưởng tới sức sống
của tinh trùng. Tác dụng của ánh sáng này, trong thời gian ngắn không gây hại
cho tinh trùng. Tuy nhiên, nếu bảo quản tinh trùng trong nhiều giờ hoặc vài
ngày thì cần thiết phải bảo quản tinh dịch ở nơi tối [5].
- Ánh sáng trực xạ của mặt trời có thể giết chết tinh trùng trong vòng
từ 20-40
phút.
- Ánh sáng đơn sắc nhìn chung không ảnh hưởng tới sức sống của tinh

biệt nhằm mê hoặc con mái. Dạng khác của phản xạ lại gần là săn sóc ăn uống.
Gà trống kiếm hạt thức ăn hoặc một vật gì đó, cũng nâng lên hạ xuống liên hồi và
kêu những tiếng đặc trưng nhằm quyến rũ gà mái. Những dạng khác
của phản xạ
19
tiến lại gần cũng có thể có. Gà trống có thể giao cấu 25 - 41 lần/ngày. Nếu gà
trống bị nhốt riêng, khi gặp gà mái, có thể giao phối tới 13 - 29 lần/giờ.
Nếu hiện tượng giao cấu xảy ra nhiều thì sẽ giảm lượng tinh phóng ra và
nồng độ tinh
trùng, nghĩa là giảm tỷ lệ thụ tinh. Trong một đàn nhiều trống mái,
thường có hiện tượng chọn lọc trong giao phối giữa một số cá thể với nhau. Hiện
tượng này phổ biến ở đàn ngỗng vì tỷ lệ thụ tinh của ngỗng thấp [1].
Phản xạ giao hợp ở gà là sự dính sát vào nhau của 2 ổ nhớp. Ở thuỷ cầm và
đà điểu là sự xâm nhập cơ quan giao cấu của con trống vào ổ nhớp của con mái.
Độ sạch của ổ nhớp có ý nghĩa rất quan trọng trong phản xạ giao cấu và ảnh
hưởng rất rõ đến tỷ lệ thụ tinh. Trong chăn nuôi, cần hết sức chú ý đến vấn đề
này. Theo kinh nghiệm của nông dân, để trứng có tỷ lệ thụ tinh cao, mỗi tuần cần
rửa sạch phân ở khu vực xung quanh lỗ huyệt của cả gà trống và mái, thậm chí,
nhổ bớt lông xung quanh lỗ huyệt của gà trống nhằm làm cho lỗ huyệt của cả hai
áp sát vào nhau khi đạp mái. Gà trống sẽ phóng hết tinh vào lỗ huyệt gà mái dễ
dàng và trọn vẹn [1].
Khi phóng tinh, con trống thường phóng ít một nhờ cơ của cơ quan
sinh dục co bóp.
Trung tâm thần kinh của sự phóng tinh nằm ở phần hông tuỷ
sống. Thần kinh phó giao cảm đi tới tận cơ quan sinh dục, kích thích những
thần kinh này làm giảm sự phóng tinh, còn kích thích thần kinh giao cảm làm
tăng sự phóng tinh.
Ở gia cầm, ngoài phản xạ không điều kiện, có thể tạo phản xạ có điều
kiện trong trường hợp, nếu một vật kích thích nào đó từ môi trường xung
quanh trùng với phản xạ không điều kiện trong cùng một thời gian. Người ta

và thứ hai yếu tố ảnh hưởng đến mức độ mà gà trống sẽ phản ứng với các kỹ
thuật massage trong bộ sưu tập tinh dịch [13].
2.8.1 Nhiệt độ
Trực tiếp các yếu tố khí hậu tác động lên các cá thể bao gồm nhiệt độ môi
trường cao và độ ẩm tương đối, dẫn đến stress nhiệt nghiêm trọng. Nhiệt độ môi
trường biến động có thể là một trong những hạn chế chính sản xuất gia cầm và
sinh sản, đặc biệt là ở những vùng có nhiệt độ trung bình cao. Nhiệt độ môi
trường cao đặt ra một mối đe dọa cho sức khỏe chung của các gà trống. Sự gia
tăng nhiệt độ trong cơ thể mà không có bồi thường nhanh chóng mất nhiệt, nếu
cơ thể vẫn tiếp xúc kéo dài với nhiệt độ môi trường cao, có thể gây ra một sự
thay đổi trong nhiệt độ cơ thể của gà trống, dẫn đến suy giảm đáng kể sức sản
xuất tinh dịch và sinh sản. Các cường độ và thời gian của stress nhiệt kết hợp
với độ ẩm tương đối cũng có thể ảnh hưởng đến hành vi, nội tiết và sinh lý học
của gà trống. Hiệu ứng bất lợi như vậy hạn chế đặc điểm sinh sản của con trống
sinh tinh do đó ức chế và giảm tiết gonadotrophins [14; 16]. Nhiệt độ cơ thể
21
tăng, quá trình trao đổi chất của tinh trùng, vận động của tinh trùng và chất
lượng tinh trùng thường thấp hơn trong gà trống. Mặc dù nghiên cứu liên quan
đến tăng thân nhiệt trên đặc điểm tinh dịch là thiếu, một số nhà nghiên cứu đã
phát hiện ra rằng tinh trùng có thể hoạt động ở nhiệt độ cơ thể bình thường [15].
Froman Feltmann (2005) thấy tinh trùng là có thể cử động dể dàng ở nhiệt độ cơ
thể của 41˚C, và suy giảm với thời gian sau khi xuất tinh. Stress nhiệt có thể
được đánh giá bằng cách đo nhiệt độ trực tràng là thực sự phản ánh của nhiệt độ
cơ thể nội bộ [16].
2.8.2 Ánh sáng
Thời gian và cường độ chiếu sáng điều có thể có một tác dụng tới gà sinh
sản [12]. Ngày ngắn ngủi không kích thích gonadotrophin tiết, vì chúng không
có giai đoạn chiếu sáng quang. Tuy nhiên, ngày dài giai đoạn chiếu sáng quang
dài và do đó gonadotrophin LH được tiết ra cùng lúc cũng gây ảnh hưởng xấu
tới khả năng sản xuất tinh dịch của con trống [18]. Thời gian thu thập tinh dịch

2.9. Phương pháp lấy tinh gà
Gà trống được chọn lựa đạt tiêu chuẩn giống, thể trọng, khỏe mạnh không
có khuyết tật, có tính hăng. Tùy theo mức độ thành thục tính dục của giống và cá
thể, có thể huấn luyện để lấy tinh gà khi đạt quãng 25-30 tuần tuổi. Trước khi
huấn luyện 3-5 ngày, cần nuôi tách gà trống khỏi gà mái, và nhốt trên lồng tầng
hoặc nuôi trên nền (nhốt chung hoặc nhốt cá thể là tùy theo điều kiện chuồng
trại, nhưng với yêu cầu là không để gà trống đá lẫn nhau). Trước khi đưa huấn
luyện lấy tinh, gà trống nên được làm quen với người chăn nuôi và người lấy
tinh qua màu áo quần và thái độ tiếp xúc ôn hòa, nhẹ nhàng. Đồng thời chú ý cắt
bỏ bớt phần lông tơ che phủ lỗ huyệt gà trống.
Có nhiều cách lấy tinh như sau:
(1). Cho gà trống trèo lên lưng gà mái để “đạp mái” và hứng tinh dịch gà
trống phóng ra. Phương pháp này tạo cho gà trống có phản xạ gần giống với
phối giống tự nhiên, nhưng sẽ gặp một số trở ngại như gà trống dễ làm tổn
thương gà mái, những con trống dữ dễ có phản ứng khi có người dứng gần hoặc
nếu thao tác lấy tinh không chính xác, tinh dịch sẽ phóng ra ngoài hoặc phóng
vào đường sinh dục của con mái [1].
(2). Một người ngồi trên ghế và kẹp gà trống giữa hai đầu gối., đuôi gà
hướng về phía trước nơi người thứ hai chuẩn bị hứng tinh. Người thứ nhất vuốt
lưng gà trống xuôi về phía phao câu. Sau vài lần làm động tác mat-xa như vậy,
gà trống được kích thích, hơi cong đuôi lên. Người thứ hai dùng một tay vén
lông đuôi gà lên phía lưng để bộc lộ vùng hậu môn gà. Đồng thời người thứ nhất
dùng tay ép vào vùng lỗ huyệt, gà sẽ xuất tinh và người thứ hai dùng dụng cụ để
hứng tinh dịch phóng ra. Phương pháp này hơi bất tiện là phải có ghế để người
lấy tinh ngồi và gà trống được đặt ở tư thế thấp (giữa hai đầu gối) nên khó thao
23
tác khi nặn lỗ huyệt. Vì vậy, phương pháp sau đây sẽ bổ khuyết cho 2 nhược
điểm vừa nêu [1].
(3). Cũng cần hai người phối hợp với nhau (tư thế đứng). Người thứ nhất
nhẹ nhàng bắt gà trống và kẹp vào nách trái (nếu thuận tay phải), cho đuôi gà

24
nên dẫn tinh trong vòng 3-5 giờ, và dẫn tinh sau khi con mái đã đẻ (để tránh làm
vỡ trứng trong tử cung con mái) [1].
2.11. Pha loãng bảo tồn tinh dịch
Ngoại trừ đông lạnh và bảo tồn ở -196
0
C, còn pha loãng và bảo tồn ở
dạng lỏng thì thời gian sống của tinh trùng gia cầm thuỷ cầm nói chung thì
không được lâu (quãng 3-6 giờ). Vì vậy cần tính toán thời điểm đẻ trứng của
mỗi loại mà bố trí thời điểm lấy tinh (trước đó quãng 3-4 giờ) cho phù hợp. Ví
dụ gà thường đẻ trứng trong buổi sáng thì lấy tinh gà trống vào buổi chiều, pha
loãng xong đưa dẫn tinh luôn. Với thuỷ cầm thường đẻ trứng vào ban đêm thì
lấy tinh con trống vào buổi sáng, pha loãng xong dẫn tinh cho gà mái.
Sau khi lấy tinh, cần đánh giá giá chất lượng tinh dịch từng con trống, con
nào không đạt yêu cầu thì loại bỏ mẻ tinh tinh dịch đó.
Nếu cần dẫn tinh theo gia đình (hoặc cá thể) thì pha loãng tinh dịch riêng
từng con trống. nếu dẫn tinh cho đàn thương phẩm, có thể dồn 4-5 mẻ tinh dịch
vào với nhau, kiểm tra hoạt lực rồi pha loãng. Sau khi pha loãng, cần kiểm tra lại
hoạt lực tinh trùng trước khi đãn tinh. Không nên để tinh nguyên (chưa pha
loãng) lâu quá 30 phút.
Một số công thức môi trường pha loãng tinh dịch gia cầm và thuỷ cầm
(chưa ghi các kháng sinh tố) được pha trong 100ml nước cất 2 lần:
1/ Dung dịch nước muối sinh lý: dùng chung cho các loại: NaCl 0.85g
2/ Môi trường Lorenz: dùng cho gà nhà, ngan:
3/ Môi trường Ringer: dung cho gà nhà, gà tây: NaCl 0.68g, KCl 0.1733g,
CaCl
2
0.0642g, MnSO
4
0.025g, NaHCO


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status