Nghiên cứu cấy ghép implant ở bệnh nhân đã cấy ghép xương hàm sau phẫu thuật tạo hình khe hở môi và vòm miệng toàn bộ tóm tắt - Pdf 22

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG
VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Y DƯỢC LÂM SÀNG 108

VÕ VĂN NHÂN
NGHIÊN CỨU CẤY GHÉP IMPLANT Ở BỆNH NHÂN
ĐÃ CẤY GHÉP XƯƠNG HÀM SAU PHẪU THUẬT TẠO
HÌNH KHE HỞ MÔI VÀ VÒM MIỆNG TOÀN BỘ
Chuyên ngành: Răng Hàm Mặt
Mã số: 62.72.06.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
HÀ NỘI - 2014
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNHTẠI VIỆN
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Y DƯỢC LÂM SÀNG 108
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS. TS. Lê Văn Sơn
2 TS. Tạ Anh Tuấn
Phản biện 1:PGS.TS. Trịnh Đình Hải
Phản biện 2:TS. Lê Hưng
Phản biện 3: GS.TS. Lê Gia Vinh
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Viện
vào hồi: giờ ngày tháng năm
Có thể tìm hiểu luận án tại:
1. Thư viện Quốc Gia
2. Thư viện Viện NCKH Y Dược lâm sàng 108

I.ĐẶT VẤN ĐỀ
Khe hở môi - vòm miệng (KHM - VM) là dị tật bẩm sinh
thường gặp nhất ở vùng đầu mặt cổ. Theo Tổ chức sức khỏe thế
giới, tỉ lệ bệnh nhân có KHM - VM ước tính 1/500 trẻ em mới
sinh ra. Tỉ lệ này thay đổi tùy theo vùng và chủng tộc, thấp ở
người da đen nhưng cao ở người Nhật, người Trung Quốc và

IV. CẤU TRÚC LUẬN ÁN
Bản luận án gồm 121 trang không kể phần phụ lục và tài liệu
tham khảo. Nội dung luận án gồm: Đặt vấn đề (2 trang), Tổng
quan tài liệu (31 trang), Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
(29 trang), Kết quả nghiên cứu (20 trang), Bàn luận (36 trang),
Kết luận (2 trang), Kiến nghị (1 trang). Luận án có23 bảng, 4 sơ
đồ, 12 biểu đồ, 69 hình ảnh, 144 tài liệu tham khảo (9 tiếng Việt,
135 tiếng Anh).
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.KHE HỞ MÔI VÒM MIỆNG
Dị tật bẩm sinh KHM - VM gây thiếu hổng và biến dạng mũi,
môi, vòm miệng ảnh hưởng đến sự hình thành mầm răng, mọc
răng, rối loạn khớp cắn, ảnh hưởng chức năng nhai, biến dạng
tầng giữa và tầng dưới mặt, ảnh hưởng đến phát âm, thẩm mỹ và
tâm lý người bệnh [94], [65]. Do vậy, những người mắc phải dị tật
này luôn cảm thấy mặc cảm, tự ti, xa lánh cộng đồng.
Điều trị dị tật KHM - VM là một quá trình lâu dài, từ khi trẻ
còn trong bụng mẹ đến khi trưởng thành với sự phối hợp của
nhiều chuyên gia và các biện pháp kỹ thuật khác nhau bao gồm:

tư vấn tâm lý, phẫu thuật tạo hình đóng kín khe hở, phẫu thuật
ghép xương khe hở huyệt răng, chỉnh nha, phục hình răng,…
[101], [106].
1.2.GHÉP XƯƠNG KHE HỞ HUYỆT RĂNG
1.2.1. Sự cần thiết của việc ghép xương khe hở huyệt
răng
Ghép xương khe hở huyệt răng giúp tạo môi trường xương
để chỉnh hình di chuyển răng 3 và răng 2 mọc vào trong khe hở
hay để làm phục hình răng, giúp nâng đỡ xương của răng bên
cạnh khe hở, không làm các răng bên cạnh bị xô lệch và bảo vệ

Có nhiều kỹ thuật đặt mảnh ghép trong vùng khe hở như: Kỹ
thuật ghép xương xốp mào chậu [46], kỹ thuật ghép xương khối
mào chậu [31], kỹ thuật dùng màng nhân tạo che vật liệu ghép
[100], kỹ thuật ghép một mảnh xương vỏ mào chậu phía vòm
miệng [85] và kỹ thuật ghép hai mảnh xương vỏ vùng cằm [127].
Tuy nhiên cho đến nay, các kỹ thuật dùng màng nhân tạo che vật
liệu ghép, kỹ thuật dùng xương khối, kỹ thuật một mảnh xương vỏ
hay kỹ thuật hai mảnh xương vỏ vẫn chưa được áp dụng phổ biến
trong ghép xương khe hở huyệt răng.
1.2.5. Phương pháp đánh giá kết quả ghép xương
1.2.5.1. Phương tiện đánh giá
Một số tác giả đánh giá kết quả ghép xương bằng mô học [60]
nhưng phổ biến nhất vẫn là sử dụng phim X-quang, bao gồm:
phim quanh chóp, phim mặt nhai, phim toàn cảnh, phim CT
truyền thống và CT Cone Beam.
Trước đây, kết quả ghép xương khe hở huyệt răng chủ yếu
được đánh giá bởi phim quanh chóp và phim mặt nhai [46], [54],
[55], [72], [81] nhưng những phim nàykhông khảo sát được kích
thước theo chiều trước sau của mảnh ghép [77].Do vậy, phim CT


Cone Beam ngày nay trở nên rất phổ biến và hữu dụng trong việc
đánh giá sự thay đổi thể tích và kích thước mảnh ghép theo 3
chiều [59], [137].
1.2.5.2. Thang đánh giá
Ngày nay, để đánh giá kết quả ghép xương khe hở huyệt răng,
phần lớn cácnghiên cứu kết hợp sử dụng phimhai chiều (phim
quanh chóp, phim mặt nhai) qua
các thang đánh giá sự hình thành
cầu xương trong khe hở với phim

1 Đối tượng nghiên cứu
- Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân: Bệnh nhân từ 15 tuổi trở lên,
sức khỏe tốt cho phép gây mê nội khí quản, đã được tạo hình
KHM – VM toàn bộ, có khe hởhuyệt răngtoàn bộ một bên,
thiếu mầm răng vĩnh viễn trong vùng khe hở và chưa được ghép
xương khe hở huyệt răng.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Không có sự hiện diện khe hở huyệt răng,
khe hở huyệt răng một phần hay khe hở huyệt răng 2 bên. Bệnh
nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.
2 Phương pháp nghiên cứu
1 Thiết kế nghiên cứu:
Đề tài này sử dụng phương pháp nghiên cứu tiến cứu thử
nghiệm lâm sàng không đối chứng để đánh giá kết quả ghép
xương khe hở huyệt răng và kết quả cấy ghép implant.
Cỡ mẫu: 32 bệnh nhân tính theo công thức ước lượng trung
bình.
2 Thời gian nghiên cứu: từ tháng 8/2010 đến 2/2014.
3 Tiến trình nghiên cứu:

Đầu tiên, thu thập thông tin theo mẫu bệnh án. Sau khi chỉnh
nha và điều trị răng miệng tổng quát, tiến hành phẫu thuật ghép
xương khe hở huyệt răng theo kỹ thuật ghép 2 mảnh xương vỏ
mào chậu. 4-6 tháng sau ghép xương, tiến hành cấy ghép implant,
6 tháng sau cấy implant, tiến hành phục hình răng.Theo dõi kết
quả 15 và 18 tháng sau ghép xương.
3 Qui trình phẫu thuật
1 Phẫu thuật lấy xương khối mào chậu
Bắt đầu bằng đường rạch da dài 5cm cách gai chậu trước trên
1cm để tránh tổn thương thần kinh bì đùi ngoài, đường rạch trên
đỉnh mào chậu, qua tổ chức dưới da, qua màng xương, sau đó bóc

góc 120
o
để dễ dàng trượt vạt sang bên và xuống dưới (Hình
2.28). Sau đó, từ đường rạch trên sống hàm sát cổ răng (mặt bên)
của hai răng ở cạnh bờ khe hở, rạch tiếp theo đường viền túi lợi
phía vòm miệng, qua các răng hai bên khe hở.
Khâu đóng vạt niêm mạc nền mũi với các mũi khâu bắt đầu
từ phía trong miệng ra phía ngoài ở một bên bờ vạt, sau đó, tiếp
tục đi từ phía ngoài vào phía trong ở bờ vạt đối bên, cuối cùng gút
chỉ. (Hình 2.29).
Dựa trên cơ sở kỹ thuật ghép 2 mảnh xương từ vùng cằm của
Tadashi Mikoya (2010) [127], chúng tôi đã đưa ra kỹ thuật ghép
2 mảnh xương vỏ mào chậu để sử dụng trong nghiên cứu này với
các bước kỹ thuật như sau:
Bước 1: Ghép mảnh xương vỏ phía nền mũi: cắt khối xương
mào chậu thành hai mảnh. Mảnh xương vỏ thứ nhất có kích thước
bằng với kích thước khe hở, đặt trên vạt niêm mạc nền mũi đã
được khâu kín (Hình 2.30). Sau đó, cho xương xốp lên mảnh
xương này cho đến khi gần đầy khe hở (Hình 2.31).

Bước 2: Đặt mảnh xương khối thứ hai gồm xương vỏ
vàxương xốp, có kích thước lớn hơn khe hở lên lớp xương xốp
vừa được ghépvà cố định bằng vít với mục đích ép chặt xương
xốp bên trong và cố định mảnh xương vỏ này (Hình 2.32).
Bước 3: Khâu đóng vết mổ: bắt đầu bằng những mũi khâu
trên sống hàm để đóng kín lớp niêm cốt mạc phía vòm miệng với
lớp niêm cốt mạc phía tiền đình. Sau đó, khâu kín lớp niêm cốt
mạc phía tiền đình hai bên bờ khe hở từ đỉnh sống hàm hướng về
ngách tiền đình. Tiếp tục khâu phục hồi đường viền túi lợi của các
răng từ vùng khe hở. Cuối cùng là khâu đóng niêm mạc ở đường

• Loại IV: phục hồi được 0%-25% so với bình thường
Thành công bao gồm Loại I và loại II. Thất bại 1 phần gồm
loại III. Thất bại hoàn toàn gồm loại IV.
- Đánh giá kết quả ghép xương trên phim CT Cone
Beam
• Chiều trên dưới:ký hiệu là d, được đo từ điểm thấp nhất và điểm
cao nhất của xương trên lát cắt CT qua trục định vị cảng quang
trên máng hướng dẫn.
• Chiều ngoài trong:ký hiệu là r, là trung bình chiều ngoài trong của
1/3 trên (a), 1/3 giữa (b) và 1/3 dưới (c) của xương ở lát cắt qua
trục định vị. r = (a + b + c) /3
• Theo tiêu chuẩn của Franck Renouard đủ điều kiện xương để cấy
implant khi d tối thiểu là 7mm và r tối thiểu là 4mm [47].
 Tiêu chí đánh giá kết quả cấy ghép implant
- Đánh giá kết quả tích hợp xương của implant
theo tiêu chuẩn của Misch 2008 [89] gồm 4 mức độ:
o Implant thành công: Implant không đau khi hoạt động chức năng,
implant không di động, mất xương quanh cổ implant
ít hơn 2 mm và không có chảy dịch.

o Implant tồn tạikhông có dấu hiệu bệnh lí: Implant
không đau khi hoạt động chức năng, mất xương quanh cổ implant
từ 2-4mm và không có chảy dịch.
o Implant tồn tại có dấu hiệu bệnh lí cần điều trị: Implant
có thể nhạy cảm khi hoạt động chức năng, implant không di động,
mất xương trên 4mm nhưng không quá 50% chiều dài implant, độ
sâu túi trên 7mm và có thể đi kèm với chảy dịch.
o Implant thất bại: khi implant có một trong những dấu hiệu sau: (1)
đau khi thực hiện chức năng, (2) di động, (3) mất xương trên 50%
chiều dài implant, (4) chảy dịch không kiểm soát hoặc (5) không

7 ngày sau phẫu thuật ghép xương, có29 trường hợp chiếm
90,6% bệnh nhân có tình trạng niêm mạc tốt, có 3 trường hợp
chiếm 9,4% có niêm mạc xấu do bị hở vết mổ, lộ xương ghép
nhưng không có nhiễm trùng, 3 trường hợp này được xử lý lấy
một phần xương ghép, tạo vạt và khâu đóng nên 4 đến 6 tháng
sau, 100% bệnh nhân có niêm mạc tốt và tất cả các lỗ rò miệng
mũi được đóng kín.
3.2.2. Kết quả ghép xương khe hở huyệt răng
3.2.2.1.Kết quả phục hồi xương theo thang đánh giá của
Enermark
Ở thời điểm từ 4 đến 6 tháng sau ghép xương, kết quả cho
thấy cầu xương loại I chiếm 90,6%, loại III chiếm 9,4%. Kết quả
này ổn định, không có sự thay đổi sau 12 và 15 tháng.
Sau 18 tháng, 28 trường hợp (87,5%) có cầu xương loại I, 1
trường hợp (3,1%) có cầu xương loại II do có 1 implant bị tiêu
xương nên mức độ cầu xương chuyển từ loại I sang loại II và 3
trường hợp (9,4%) không cấy implant có sự tiêu xương tiếp tục từ

loại III thành loại IV. Nhưng theo Enermark, xương loại I và II đều
được cho là thành công nên tổng trường hợp thành công vẫn là 29
trường hợp chiếm 90,6%. Cầu xương trong vùng khe hở ở thời
điểm 18 tháng có thay đổi so với các thời điểm 6, 12 và 15 tháng
nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) (Bảng
3.30). Do vậy, cấy ghép implant giúp hạn chế sự tiêu xương.
Bảng 3.30: Kết quả phục hồi xương ở các thời điểm: 6, 12, 15 và
18 tháng sau phẫu thuật ghép xương (n=32)
Thời điểm
Mức độ cầu xương
Tổng
cộng

nhân không đủ xương cấy implant nên phục hình cầu răng cố
định.
,
(

3 Kết quả cấy ghép implant
- Tổng số 32 implant được cấy, có 31 implant có kích thước
3.8 .("/)#0 $ 1.2+3
'456)#0 "/2+356)#0 
- Lực cấy implant: có12,4% implant đạt lực trên 35N/cm
2
, 43,8%
implant lực từ 20-35N/cm
2
và 43,8% lực từ 15-20N/cm
2
.
- Ghép xương bổ sung trong khi cấy implant: 32 implant (100%)
trường hợp, trong đó có 90,6% ghép xương hạt và 9,4% ghép
xương vòng có kết hợp xương hạt.
3.3.1. Kết quả implant thành công về tích hợp xương
Bảng 3.31: Kết quả tích hợp xương của implant ở các thời điểm:
12, 15 và 18 tháng sau phẫu thuật ghép xương (n=32)
Thời điểm
Kết quả tích hợp xương của
implant
Tổng số
implant
Sau
ghép

18
tháng
12
tháng
31
(96,9%
)
1
(3,1%
)
0 0 32
(100%)
p=0,999

Nhận xét: Sau 12 tháng ghép xương, 100% implant thành
công về tích hợp xương và kết quả này không thay đổi sau 15
tháng ghép xương. Sau 18 tháng ghép xương, có 96,9% (31
implant) thành công, 3,1% (1 implant) tồn tại không có bệnh lí do
implant này bị tiêu xương 2mm và không có implant thất bại. Do
vậy, tổng tỉ lệ implant tồn tại hoạt động chức năng tốt vẫn là
100% trong thời gian theo dõi. Tỉ lệ thành công của implant giữa
thời điểm 12, 15 so với thời điểm 18 tháng có sự khác biệt nhưng
không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) (Bảng 3.31).
3.3.2. Kết quả thẩm mỹ của phục hình trên implant
- Kết quả thẩm mỹ theo chỉ số thẩm mỹ hồng và thẩm mỹ
trắng của Belser
Bảng 3.32: Kết quả thẩm mỹ của phục hình trên implant ở các
thời điểm 9 và 12 tháng sau cấy implant (n=32)
Thời điểm
Kết quả thẩm mỹ của phục

tháng
18
(56,3%)
5
(15,6%)
9
(28,1%)
32
(100%)
Nhận xét: Sau 9 và 12 tháng cấy implant, có 18 phục hình
implant (56,3%) đạt thẩm mỹ, 5 phục hình (15,6%) ở ngưỡng
chấp nhận thẩm mỹ và 9 phục hình (28,1%) kém thẩm mỹ.
- Kết quả hài lòng của bệnh nhân về thẩm mỹ phục hình:
Sau 9 và 12 tháng cấy implant, có 21 bệnh nhân (72,4%) rất

hài lòng về phục hình trên implant, 8 bệnh nhân (27,6%) hài lòng
và không có bệnh nhân nào thất vọng về phục hình răng của họ
(Bảng 3.33).
Bảng 3.33: Kết quả hài lòng của bệnh nhân về mặt thẩm mỹ của
phục hình trên implant sau 9 và 12 tháng cấy implant (n=29).
Thời điểm
Kết quả hài lòng của bệnh
nhân về thẩm mỹ phục hình
Tổng
cộng
Sau
ghép
xương
Sau
cấy

4.1. Đặc điểm mẫu bệnh nhân nghiên cứu
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tất cả 32 bệnh nhân có sự
lệch lạc răng quanh vùng khe hở, khớp cắn hạng III Angle là
28,1% trong khi khớp cắn hạng III Angle ở bệnh nhân bình
thường không có dị tật trong nghiên cứu của Đổng Khắc Thẩm là
21,7% [9]. Do vậy, tỉ lệ bệnh nhân KHM-VM có khớp cắn hạng
III Angle trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với các bệnh
nhân không có dị tật một cách có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Điều
này phù hợp với nghiên cứu của Posnick (2000) [105].
Tất cả bệnh nhân được điều trị chỉnh nha làm thẳng răng và
tạo khoảng trống thích hợp theo chiều ngang phù hợp để phục
hình răng, tạo thuận lợi cho tạo vạt, bóc tách vạt, khâu đóng vạt,
giúp dễ dàng đặt, cố định mảnh ghép và dễ xác định thể tích

xương cần ghép cũng như tiên lượng được vị trí và hướng của
implant phù hợp với phục hình sau này. Hơn nữa, chỉnh nhatiếp
tục sau phẫu thuật ghép xương được nhiều tác giả ủng hộ vì lực
kéo tác động lên xương ghép sẽ giúp kích thích sự phát triển của
mảnh ghép (Turvey 1984 [136]).
Trung bình mỗi bệnh nhân có 9,8 răng sâu và chỉ số sâu-mất-
trám là10,5 có sự khác biệt nhưng không có ý nghĩa thống kê
(p=0,388>0,05), nghĩa là các đối tượng này chưa được chăm sóc
răng miệng trước thời điểm thăm khám. 12 bệnh nhân có răng dư
trong vùng khe hở chiếm tỉ lệ 37,5%.Nghiên cứu củaJia (2006)
[64] cho rằng vệ sinh răng miệng kém thường dẫn đến biến chứng
nhiễm trùng, hở vết mổ sau phẫu thuật ghép xương. Để ngăn ngừa
biến chứng trên, tất cả bệnh nhân được điều trị sâu răng, điều trị
viêm nướu và hướng dẫn vệ sinh răng miệng trong quá trình điều
trị. Bên cạnh đó, 12 trường hợp có răng dư trong vùng khe
hởđược nhổ ít nhất 2 tháng trước khi phẫu thuật ghép xương để

lấy với khối lượng lớn nên có thể ghép khe hở lớn, thậm chí khe
hở 2 bên nên rút ngắn thời gian chờ đợi và số lần phẫu thuật so
với kỹ thuật của Tadashi phải ghép xương 2 lần cách nhau mỗi 3
tháng cho khe hở 2 bên.
4.4. Kết quả ghép xương khe hở huyệt răng
Kết quả phục hồi xương trên phim quanh chóp theo thang đo
Enermark sau 6, 12 và 15 tháng ghép xương cho thấy ghép
xương thành công là 90,6% (29/32), thất bại một phần là 9,4%
(3/32) do có 3 vị trí hở vết mổ, tiêu xương ghép nhưng không có
nhiễm trùng và không có trường hợp thất bại hoàn toàn.
Sau 18 tháng, 1 trường hợp (3,1%) xương loại I chuyển thành
loại II do có sự tiêu xương quanh implant, 3 trường hợp (9,4%)

xương loại III chuyển thành loại IV. Nhưng loại II vẫn được xem
là thành công nên tỉ lệ thành công chung vẫn không thay đổi là
90,6% trong 18 tháng theo dõi.
Kết quảtrong nghiên cứu của chúng tôi tương tự như kết quả
của Abyholm (1981) có tỉ lệ thành công chiếm 91% [10] hay của
Bergland (1986) tỉ lệ thành công 90% [24]. Ngoài ra, kết quả của
chúng tôi cao hơn so với kết quả của Collins với tỉ lệ thành công
86,86% [32] hay của Amanat và Langdon (1991) là 83% [17], của
Grant (2009) là 76% [54], của Nightingale (2003) là 71% [93],
của Witherow (2002) là 65% [143]. Những nghiên cứu trên đều
thực hiện trên hàm răng hỗn hợp vốn có nhiều thuận lợi hơn hàm
răng vĩnh viễn [36], [37] vì theo Abyholm (1981) [10], Waite
(1987) [140] và Paulin (1988) [99], hoạt động tăng sinh của tủy
xương mạnh hơn, thể tích xương bên cạnh vùng khe hở nhiều hơn
ở bệnh nhân trẻ (ghép xương giai đoạn hàm răng hỗn hợp) so với
bệnh nhân lớn tuổi (ghép xương ở hàm răng vĩnh viễn) vì càng
lớn tuổi thì xương cạnh vùng khe hở tiêu càng nhiều, khe hở càng

4.5. Kết quả cấy ghép implant
4.5.1.Kết quả thành công của implant về tích hợp xương
Kết quả của chúng tôi tương đương với nghiên
cứucủaYoshiro Matsui (2007) có tỉ lệ implant tồn tại là 98,6%
[144], hay của Samuel (2010) [110] cao hơn kết quả của Hartel
(1999) [57], hay của Kramer (2005) [74].
Kết quả implant thành công này có thể được giải thích bởi
một số lí do sau đây: Do chúng tôi đã cải tiến kỹ thuật ghép
xương, sử dụng 2 mảnh xương vỏ mào chậu (xương vỏ có tính cơ
học cứng chắc, hạn chế tiêu xương giúp implant dễ đạt ổn định

ban đầu) so với các nghiên cứu trên chỉ sử dụng xương xốp mào
chậu [57], [68], [74] vì theo Albrektson (1980) [11] xương xốp
mào chậu lành thương nhanh, nhưng cũng xảy ra sự tiêu xương
nhiều sau quá trình lành thương; Đồng thời, chúng tôi áp dụng kỹ
thuật làm tăng độ ổn định ban đầu khi cấy implant như lỗ khoan
xương nhỏ, đường kính của implant lớn, nén xương, implant dạng
thuôn, implant được xử lý bề mặt và có nhiều vi ren ở vùng cổ
implant nên tăng diện tích tiếp xúc ở bề mặt implant và xương;
Thời gian cấy ghép implant từ 4 đến 6 tháng sau ghép xương nên
xương ghép đã trưởng thành và cũng chưa xảy ra sự tiêu xương
ghép quá nhiều so với các nghiên cứu có khoảng thời gian từ khi
ghép xương đến khi implant kéo dài [131]; Implant có chiều dài
tiêu chuẩn là 10mm đảm bảo ổn định sinh cơ học cho răng cửa
bên [130]; Bên cạnh đó, khi ghép xương bổ sung, chúng tôi sử
dụng xương tự thân lấy từ vùng cằm hoặc vùng hậu hàm kết hợp
với vật liệu tổng hợp nên sự tích hợp xương tốt hơn so với chỉ sử
dụng các vật liệu tổng hợp như đề nghị của Cune (2004) [34]. Một
phần cũng có thể do thời gian theo dõi trong nghiên cứu của
chúng tôi ngắn hơn các nghiên cứu khác nên có thể thất bại chưa

quá phức tạp) là điều không phù hợp vì không có sự tương đồng
giữa 2 đối tượng. Đây có lẽ là lí do mà các tác giả chỉ đánh giá kết
quả thành công về tích hợp xương chứ không đánh giá về thẩm
mỹ của phục hình trong các nghiên cứu ghép xương và phục hình
implant cho bệnh nhân khe hở môi vòm miệng.
Mặc dù kết quả thẩm mỹ theo tiêu chuẩn của Belser không
cao nhưng 100% bệnh nhân lại hài lòng về phục hình răng của họ,
kể cả 28,1% trường hợp được bác sĩ đánh giá là thẩm mỹ kém.Vì

bệnh nhân khe hở môi vòm miệng có tình trạng ban đầu quá phức
tạp, quá bất lợi với sự hiện diện khe hở (không có xương, không
có nướu, không có răng), hiện diện lỗ rò, răng mọc lệch lạc quanh
vùng khe hở, khớp cắn xấu, biến dạng cung răng,… Sau khi điều
trị, không còn lỗ rò, không còn khe hở, có xương, có nướu, có
răng. Kết quả này đem lại sự thay đổi quá lớn đối với bản thân
bệnh nhân, nên răng trong vùng khe hở có dài hơn so với các răng
đối bên thì không có gì là quá quan trọng đối với những bệnh
nhân này, hơn nữa phần cổ răng dài hơn này cũng không nhìn
thấy khi cười hay nói do đối tượng này có đường cười thấp [43]
nên thật sự không ảnh hưởng đến vấn đề thẩm mỹ và giao tiếp của
bệnh nhân. Do đó, tất cả các bệnh nhân đều hài lòng với phục
hình răng của họ.
KẾT LUẬN
1. Tình trạng xương hàm sau ghép xương khe hở huyệt răng
Tình trạng niêm mạc sống hàm sau phẫu thuật ghép xương khe
hở huyệt răng rất tốt, tất cả lỗ rò miệng mũi được đóng kín, niêm
mạc hồng khỏe mạnh liên tục với niêm mạc xương hàm trên.
Sau khi ghép bằng kỹ thuật ghép 2 mảnh xương vỏ mào chậu,
kích thước xương hàm ở vùng khe hở được phục hồi:
• Theo chiều trên dưới trung bình là: 11,4 ± 2,4 mm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status