LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển mạnh, trao
đổi buôn bán ngày càng mở rộng cả về quy mô và hình thức. Cùng với sự
phát triển đó là sự xuất hiện ngày càng nhiều các công ty TNHH, doanh
nghiệp tư nhân, hợp tác xã và hộ kinh doanh cá thể, nhu cầu về kế toán, kiểm
toán ngày càng trở nên phổ biến.
Trong thực tế, khi vấn đề công khai hóa, minh bạch hóa các báo cáo
tài chính phản ánh tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đang
ngày càng trở nên cấp thiết đối với các cơ quan quản lý Nhà nước, nhà đầu tư
và ngay cả chính các chủ doanh nghiệp thì dịch vụ kế toán, kiểm toán càng
được đầu tư để phát triển. Đối với mỗi đối tượng, dịch vụ kế toán kiểm toán
đều có một vai trò nhất định.
Ở Việt Nam, dịch vụ kế toán kiểm toán là loại hình dịch vụ chuyên
ngành và còn khá mới mẻ. Vì vậy Việt Nam đang tiến hành phát triển và
hoàn thiện lĩnh vực này. Với mục đích nghiên cứu, tìm hiểu để có được cái
nhìn sát thực, khách quan về loại hình dịch vụ kế toán kiểm toán và đưa ra
một vài giải pháp để dịch vụ này thể hiện được tính ưu việt, tạo thuận lợi cho
phát triển kinh tế, vì vậy nhóm chúng em chọn đề tài nghiên cứu: "Thực
trạng và giải pháp phát triển thị trường dịch vụ kế toán kiểm toán Việt
Nam"
Do sự hiểu biết còn hạn chế nên trong quá trình nghiên cứu không
thể tránh khỏi những thiếu sót, chúng em mong nhận được sự giúp đỡ của cô.
Chúng em xin chân thành cảm ơn cô!
1
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ CÁC LOẠI HÌNH DỊCH VỤ KẾ TOÁN,
KIỂM TOÁN
I. Dịch vụ kế toán kiểm toán
1. Dịch vụ kế toán
1.1. Hoạt động kế toán
• Phản ánh thông tin, số liệu kế toán rõ ràng, dễ hiểu
• Phản ánh trung thực hiện trạng, bản chất sự việc, nội dung và giá
trị của nghiệp vụ kinh tế tài chính.
• Thông tin số liệu kế toán được phản ánh liên tục từ khi phát sinh
đến khi kết thúc nghiệp vụ kinh tế, tài chính.
• Phân loại, sắp xếp thông tin, số liệu kế toán theo trình tự, có hệ
thống và có thể so sánh được.
1.2. Dịch vụ kế toán( DVKT)
Xuất phát từ nhiệm vụ và mục đích của hoạt động kế toán, từ nhu
cầu của các đơn vị kinh doanh và của thị trường, DVKT đã xuất hiện
với một số hoạt động sau:
• Ghi sổ kế toán, lập Báo cáo tài chính
• Cung cấp và tư vấn sử dụng phần mềm kế toán
• Đánh giá mức độ chính xác, trung thực của các báo cáo tài chính,
báo cáo kế toán của một chủ thể nhất định phục vụ mục tiêu nộp
thuế, tham gia liên doanh, vay vốn
• Tư vấn hoàn thiện hệ thống kế toán, chuyển đổi hình thức báo
cáo kế toán sang chuẩn kế toán quốc tế hoặc phù hợp với công ty
mẹ.
3
• Tư vấn đối với việc tổ chức và vận hành bộ máy kế toán (trực
tiếp hoặc gián tiếp) của một chủ thể nhất định sao cho hiểu quả
cao nhất, phù hợp với quy định pháp luật.
1.3 Các loại hình dịch vụ kế toán
Theo bảng phân loại các sản phẩm chủ yếu của Liên hợp quốc -
CPC, các loại hình dịch vụ kế toán bao gồm:
- Dịch vụ soát xét báo cáo tài chính( CPC 86212): là dịch vụ soát
xét các báo cáo tài chính hàng năm, hàng kỳ và các thông tin kế toán
khác, phạm vi soát xét nhỏ hơn kiểm toán, do đó mức độ tin cậy cung
nhỏ.
nhà cung cấp dịch vụ tư vấn và cung cấp phần mềm kế toán nào cho
doanh nghiệp là một công việc quan trọng giúp doanh nghiệp hạch toán
số liệu chính xác và khách quan.
- Bồi dưỡng nghiệp vụ kế toán, cập nhật kiến thức kế toán
- Tư vấn tài chính
- Kê khai thuế
- Các dịch vụ khác về kế toán theo quy định của pháp luật
2. Dịch vụ kiểm toán
2.1. Khái niệm
Theo nghĩa tổng quát nhất, kiểm toán là một công việc mà một
người đứng ra xem xét, đảm bảo về chất lượng, tình trạng của một vấn
đề tài chính nào đó đối với người khác.
Nhu cầu về kiểm toán phát sinh là do có người nghi ngờ về thực
trạng số liệu tài chính kế toán mà tự thân người đó không thể hiểu và
giải thích được.
Theo các chuyên gia kinh tế Mỹ, kiểm toán là quá trình các chuyên
gia độc lập và có thẩm quyền, kỹ năng nghiệp vụ, có đạo đức nghề
5
nghiệp, thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể
định lượng của một đơn vị nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức
độ phù hợp giữa các thông tin
Theo liên đoàn kiểm toán quốc tế IFAC, kiểm toán là sự kiểm tra và
xác nhận của kiểm toán viên chuyên nghiệp độc lập về tính trung thực,
hợp lý của các số liệu, số liệu kế toán báo cáo tài chính, quyết toán của
doanh nghiệp và các tổ chức xã hội.
2.2. Bản chất của kiểm toán
- Chức năng: xác minh và bày tỏ ý kiến, đây là yếu tố cơ bản chi
phối quá trình kiểm toán và bộ máy kiểm toán.
- Đối tượng trực tiếp: thông tin tài chính kế toán có thể định lượng
được
tư vấn thuế cho các doanh nghiệp.
Thứ tư, công ty KTKT đã góp phần ngăn ngừa tình trạng gian
lận, trốn thuế.
Thứ năm, công ty KTKT đã góp phần làm giảm các vụ khiếu
nại, tranh chấp giữa doanh nghiệp và cơ quan thuế.
3.2. Vai trò của dịch vụ KTKT đối với doanh nghiệp
Thứ nhất, các DV KTKT và tư vấn tài chính giúp cho các doanh
nghiệp nắm bắt và hiểu được đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước
liên quan đến các hoạt động quản lý kế toán tài chính và thuế đối với
các doanh nghiệp.
Thứ hai, DV KTKT và tư vấn tài chính thuế giúp các chủ doanh
nghiệp lựa chon mô hình tổ chức quản lý, kinh doanh phù hợp cũng
như vận dụng các chính sách kinh tế tài chính và thuế trong hoạt động
của mình nhằm làm giảm chi phí, tăng thu nhập
7
Thứ ba, DV KTKT giúp cho doanh nghiệp có được những thông
tin chính xác và đảm bảo tin cậy cho việc đưa ra các quyết định kinh tế
của mình
Thứ tư, thông qua hoạt động kinh tế sẽ giúp cho doanh nghiệp
phát hiện ra những điểm yếu, sai sót trong công tắc quản lý tài chính và
đưa ra những khuyến nghị giúp cải thiện tình hình
Cũng thông qua hoạt động tư vấn các kiểm toán viên độc lập giúp
doanh nghiệp lập kế hoạch kinh doanh, tiếp thị, tuyển dung có hiệu
quả, nâng cao sức cạnh tranh.
II. Những cam kết của Việt Nam trong các hiệp định quốc tế
về dịch vụ KTKT
1. Cam kết về dịch vụ KTKT của Việt Nam trong hiệp định
khung ASEAN về dịch vụ( AFAS)
Mức độ cam kết của Việt Nam được xây dựng trên cơ sở lấy luật
Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam làm cam kết chung, có những cam kết
nước ngoài sẽ được phép cung cấp dịch vụ kiểm toán cho tất cả các đối
tượng của nền kinh tế với điều kiện:
+) Có thực tế hoạt động ít nhất 3 năm tại Việt Nam
+) Có ít nhất 5 kiểm toán viên có quốc tịch Việt Nam mà chứng
chỉ kiểm toán viên của họ được Bộ trưởng Bộ Tài chính Việt Nam cấp
- Phương thức (4): chưa cam kết
2. Cam kết về dịch vụ KTKT trong hiệp định Việt Nam- Hoa
Kỳ:
Các cam kết chung:
- Phương thức(1),(2): không hạn chế
- Phương thức (3): Hiện diện thương mại
9
- Phương thức (4): hiện diện thể nhân
Cam kết cụ thể trong lĩnh vực dịch vụ KTKT:
Giới hạn về tiếp cận thị trường:
- Phương thức (1),(2): không hạn chế
- Phương thức (3): không hạn chế trừ việc lập chi nhánh không
được phép
- Phương thức (4): chưa cam kết ngoài các cam kết chung
10
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ KẾ TOÁN, KIỂM
TOÁN CỦA VIỆT NAM
I. Những thành tựu đã đạt được:
1. Quản lý Nhà nước và các tổ chức nghề nghiệp đối với hoạt động
dịch vụ kế toán, kiểm toán.
1.1. Sự phát triển của khung pháp luật.
Trong hoạt động kế toán kiểm toán, Nhà nước với vai trò quản lý vĩ
mô đã không ngừng nghiên cứu, xây dựng, ban hành các hệ thống văn bản
pháp luật tạo hành lang pháp lý cho sự tồn tại và phát triển của dịch vụ kế
kiểm toán độc lập thay cho Nghị định 07.
8) Thông tư số 64/2004/TT-BTC ngày 29/6/2004 hướng dẫn thực hiện
Nghị định số 105.
- Văn bản quy định chung:
1) Quyết định số 59/2004/QĐ-BTC ngày 9/7/2004 của Bộ Tài chính về
Quy chế thi tuyển và cấp Chứng chỉ kiểm toán viên và Chứng chỉ hành nghề
kế toán.
2) Về quản lý nghề nghiệp kế toán, kiểm toán: để nâng cao hiệu quả
công tác này, ngày 14/7/2005, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ký quyết định só
47/2005/QĐ-BTC về việc chuyển giao cho Hội nghề nghiệp kế toán, kiểm
toán quản lý hành nghề kế toán, kiểm toán đối với các cá nhân, tổ chức hoạt
động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ kế toán, kiểm toán.
Như vậy, về cơ bản, với sự ra đời của Luật kế toán và Nghị định hướng
dẫn 129/2004/NĐ-CP, dịch vụ kế toán đã thực sự được tiếp thêm chỗ dựa hợp
lý vững chắc để hoạt động và phát triển. Thế nhưng, chúng ta vẫn còn thiếu
các thông tư hướng dẫn chi tiết Nghị định để làm căn cứ cho việc phát triển
loại hình dịch vụ này. Những thiếu sót này cần được khắc phục trong thời
12
gian sớm nhất để đảm bảo cho thị trường dịch vụ kế toán, kiểm toán Việt
Nam phát triển, mở rộng và hội nhập với khu vực và thế giới.
1.2. Vai trò của các tổ chức nghề nghiệp bước đầu đã được khẳng
định:
Để phù hợp với cam kết quốc tế trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc
tế và nâng cao hiệu quả công tác quản lý nghề nghiệp kế toán, kiểm toán, bên
cạnh các cơ quan quản lý Nhà nước thì vai trò của các tổ chức chuyên nghiệp
ngày càng được đánh giá cao.
Các tổ chức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán của Việt Nam hiện nay
gồm:
1) Hội Kế toán Việt Nam (được đổi tên thành Hội kế toán, kiểm toán
Việt Nam - VAA từ 2004 tại Đại hội III của Hội kế toán Việt Nam) được
Chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng: Tư vấn cho Bộ trưởng Bộ Tài
chính về các vấn đề chiến lược, định hướng, chính sách phát triển kế toán,
kiểm toán ở Việt Nam theo yêu cầu và trình độ phát triển kinh tế của Việt
Nam trong từng giai đoạn phù hợp với xu thế hội nhập của các nước trên tg và
khu vực; Tư vấn cho Bộ trưởng Bộ Tài chính trong việc công bố các chuẩn
mực kế toán, kiểm toán cũng như trong nâng cao trình độ chuyên môn cho
các chuyên gia kế toán, kiểm toán; Tham gia kiểm soát chất lượng, đạo đức
hành nghề của đội ngũ chuyên gia kế toán, kiểm toán khi có yêu cầu; Tham
gia quan hệ hợp tác quốc tế nhằm trao đổi, học hỏi kinh nghiệm, hợp tác về
khoa học kỹ thuật chuyên môn trong lĩnh vực kế toán kiểm toán của khu vực
và quốc tế.
4) Hội kiểm toán viên h ành nghề Việt Nam (VACPA) được thành lập
ngày 15/4/2005, là tổ chức thành viên của Hội kiểm toán và kiểm toán Việt
Nam, hoạt động dưới sự quản lý Nhà nước về nghề nghiệp kế toán kiểm toán
14
của Bộ Tài chính. Đây là tổ chức dành cho những người hành nghề kiểm toán
độc lập.
Nhiệm vụ của Hội: Tập hợp, đoàn kết, động viên hội viên không ngừng
nâng cao trình độ chuyên môn nghề nghiệp, đạo đức kiểm toán viên, trao đổi
thông tin và kinh nghiệm chuyên môn, trợ giúp soạn thoả các quy trình, tài
liệu đào tạo, hướng dẫn nghiệp vụ kiểm toán, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của
hội viên; Tham gia ý kiến với cơ quan Nhà nước trong việc xây dựng, bổ
sung, sửa đổi chính sách, chế độ tài chính kế toán và kiểm toán; Tham gia cụ
thể hóa chuẩn mực kế toán, kiểm toán, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp và
quy chế hành nghề kiểm toán độc lập ở Việt Nam; Xây dựng chất lượng dịch
vụ, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh bình đẳng giữa các doanh nghiệp
kiểm toán; Thực hiện kiểm tra, kiểm soát chất lượng tư vấn tài chính kế toán,
kiểm toán đối với Hội viên và tổ chức kế toán, kiểm toán theo sự uỷ quyền
của cơ quan Nhà nước.
Như vậy, lần dở theo từng dấu mốc ra đời của các tổ chức nghề nghiệp,
quản lý tài chính, kế toán, kiểm toán Ernst & Young Việt Nam (E&Y).
Đặc biệt, có 7 Công ty kiểm toán tư vấn tài chính-kế toán của Việt Nam
đã được các công ty kiểm toán quốc tế lớn công nhận là thành viên, gồm:
Công ty kiểm toán Việt Nam (VACO) - thành viên của hãng Deloite Touche
Tohmatsu; Công ty TNHH kiểm toán và dịch vụ tư vấn về tài chính kế toán
Thủy Chung-thành viên của Morison International; Công ty kiểm toán và tư
vấn tài chính kế toán Sài Gòn AFC- thành viên của Tập đoạn BDO
International; Công ty cổ phần Kiểm toán và Tư vấn (A&C)- thành viên của
HLB International; Công ty TNHH Quản trị Tiên Phong- thành viên của
ASNAF; Công ty TNHH Kiểm toán DTL- thành viên của hãng Horwarth
International.
16
Có thể nhận định rằng, sự tham gia ngày càng đông đảo các nhà cung
cấp dịch vụ và với sự góp mặt của 4 hãng dịch vụ kế toán, kiểm toán hàng
đầu thế giới (Big Four) tại Việt Nam đã chứng tỏ việc phát triển loại hình dịch
vụ này ở Việt Nam là phù hợp với xu thế thế giới. Sự góp mặt này một mặt
cho thấy áp lực cạnh tranh giữa các chủ thể cung cấp dịch vụ sẽ ngày một lớn
nhưng mặt khác nó cũng tạo điều kiện cho các công ty Việt Nam học hỏi
thêm kinh nghiệm quốc tế. Ngoài ra, việc 7 công ty của Việt Nam được các
công ty quốc tế công nhận là thành viên đã khẳng định chất lượng dịch vụ, uy
tín, đạo đức nghề nghiệp mang tính “tự thân” của 7 công ty này nói riêng và
tiềm năng phát triển vững mạnh của các công ty Việt Nam nói chung. Qua
đây, chúng ta càng có thêm cơ sở để tin tưởng vào khả năng hội nhập của các
đơn vị cung cấp dịch vụ kế toán, kiểm toán của Việt Nam.
3. Khách hàng của dịch vụ kế toán, kiểm toán:
3.1. Khách hàng của toàn ngành dịch vụ kế toán, kiểm toán:
Quy định trước đây của Nhà nước về kiểm toán bắt buộc chỉ áp dụng
cho báo cáo tài chính của Tổng công ty Nhà nước, công ty tài chính và tổ
chức tín dụng, công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán và doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài. Sau khi Nghị định 105/2004/NĐ-CP ngày
1.354 6 2.198 10 3.031 21,3
3. Doanh nghiệp Nhà nước 1.940 18 2.653 20 3.482 24,5
4. Đơn vị hành chính sự nghiệp tổ
chức đoàn thể xã hội
738 1 686 1 786 5,5
5. Tổ chức dự án quốc tế 233 9 341 9 449 3,2
Tổng cộng 8.567 100 11.518 100 14.240 100
3.2. Khách hàng của 2 khối doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài.
Khách hàng của doanh nghiệp Việt Nam cung cấp dịch vụ kế toán,
kiểm toán là khá đa dạng gồm: DNNN, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài, công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty tư nhân, đơn vị hành chính sự
nghiệp, dự án quốc tế Trong khi đó, trước đây, pháp luật Việt Nam chỉ cho
phép các công ty kế toán, kiểm toán có vốn ĐTNN cung cấp dịch vụ cho các
doanh nghiệp có vốn ĐTNN và các dự án quốc tế. Như vậy là có sự khác biệt
về đối tượng khách hàng của 2 khối doanh nghiệp.
Tuy nhiên, thời gian này, khi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài đã được phép cung cấp dịch vụ cho cả DNNN Việt Nam và các đối
tượng khác thì vẫn còn tồn tại sự khác biệt về việc lựa chọn nhà cung cấp dịch
vụ như các doanh nghiệp Việt Nam lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ là của Việt
Nam, trong đó các doanh nghiệp nước ngoài chọn nhà cung cấp là các công ty
nước ngoài.
Có thực trạng trên là do các công ty kế toán, kiểm toán của Việt Nam
có mức giá phí dịch vụ phải chăng, nắm vững các quy định pháp luật Việt
Nam nên các doanh nghiệp, tổ chức trong nước thường lựa chọn DNNN cung
18
cấp dịch vụ cho mình. Còn các công ty nước ngoài chưa thực sự tin tưởng vào
chất lượng của các công ty kế toán, kiểm toán Việt Nam hoặc do sự chỉ định
của công ty mẹ nên thường chọn nhà cung cấp dịch vụ là công ty có vốn đầu
tư nước ngoài.
các loại hình dịch vụ, như kiểm toán báo cáo tài chính vì mục đích thuế, kiểm
toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán nội bộ, kiểm toán thông tin tài
chính, kiểm tra thông tin tài chính trên cơ sở các thủ tục thoả thuận trước,
dịch vụ làm kế toán trưởng, dịch vụ định giá tài sản, soát xét báo cáo tài
chính
Nghị định 105 cũng đã quy định rõ các trường hợp công ty kiểm toán
đã cung cấp dịch vụ kiểm toán thì không được cung cấp dịch vụ kế toán hoặc
tư vấn làm ảnh hưởng đến tính độc lập.
Cùng với sự phát triển về số lượng công ty và quy mô từng công ty các
dịch vụ do các công ty cung cấp đã không ngừng từng công ty được đa dạng
hóa thể hiện qua bảng số liệu sau:
20
Bảng: Tình hình doanh thu cơ cấu theo dịch vụ
Chỉ tiêu
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Số tiền
Tỉ lệ
%
Số tiền
Tỉ lệ
%
Số tiền
Tỉ lệ
%
Tổng doanh thu 484.358,241 100 622.255 100 88.662,12 100
1. Kiểm toán báo cáo tài chính 274.675,272 57 353.879 57 516.826,92 58,2
2. Kiểm toán quyết toán vốn đầu
tư hoàn thành
22882,151 5 32.782 5 45.083,18 5,1
3. Tư vấn tài chính, tư vấn thuế,
- Đáng lưu ý là sự xuất hiện của loại hình dịch vụ tư vấn nguồn nhân
lực, tư vấn quản lý, định giá tài sản kể từ năm 2003 và ngay lập tức đã chiếm
tỷ lệ khá cao trong tỷ trọng chung. Những con số này thể hiện nỗ lực chung
của các cơ quan quản lý, của nhà cung cấp dịch vụ trong chủ trương đa
dạng hóa các loại hình dịch vụ kế toán, kiểm toán.
- Các dịch vụ còn lại chiếm tỷ trọng chưa cao do các khách hàng chưa
thực sự quan tâm tới, chính vì nhu cầu chưa nhiều đó mà nhiều công ty cung
cấp chưa chú ý phát triển chuyên sâu các loại hình dịch vụ.
5. Hoạt động kế toán, kiểm toán Việt Nam hội nhập với khu vực và
thế giới:
5.1. Với Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC - International Federation
Accountants):
Hội kế toán và kiểm toán Việt Nam (VAA) là thành viên thứ 130 của
“Liên đàon kế toán quốc tế” (IFAC), đây là tổ chức toàn cầu thành lập năm
1977, theo sự thỏa thuận của 63 tổ chức kế toán chuyên nghiệp của 49 quốc
gia. Mục đích trở thành thành viên của Việt Nam là thông qua IFAC, chúng ta
sẽ phát triển và tăng cường sự phối hợp nghiệp vụ kế toán, kiểm toán trên
phạm vi toàn thế giới. Cụ thể, VAA đã, đang và tiếp tục có những quyền lợi
sau:
* Học hỏi, trao đổi phương pháp giải quyết các vướng mắc về công
nghệ, chuyên môn và kỹ thuật kỹ năng, nghiệp vụ mà các tổ chức nghề
nghiệp kế toán ở quốc gia khác thực hiện.
* Tiếp cận với những định hướng có tính nền tảng, nhờ đó phát triển và
tăng cường hơn nữa hoạt động kế toán ở nước mình.
22
* Tham gia trực tiếp vào sự phát triển các chuẩn mực kế toán và định
hướng giúp các nhà chuyên môn có đủ khả năng phục vụ cộng đồng.
* Luôn luôn tuân theo xu hướng thể chế hóa quốc tế, đó là thể chế có
tác dụng trực tiếp hoạt động của các nhà kế toán chuyên nghiệp.
* Đảm bảo chắc chắn rằng chuyên môn và nghiệp vụ đang áp dụng
kiểm toán Việt Nam chưa phát triển xứng tầm với sự tăng trưởng GDP
hàng năm.
• Doanh thu của các công ty dịch vụ kế toán, kiểm toán trong nước còn
thâp:
Hiện Việt Nam có khoảng 140 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kế toán,
kiểm toán, trong số đó các công ty kế toán, kiểm toán có 100% vốn nước
ngoài chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ nhưng chiếm đến 50% doanh thu toàn
ngành. Như vậy phần doanh thu lớn vẫn thuộc về các công ty có vốn nước
ngoài và một số công ty Việt Nam đã tham gia lâu năm trên thị trường
dịch vụ kế toán, kiểm toán nước nhà.
• Thiếu kế toán, kiểm toán viên hành nghề:
Một trong những thách thức mà các công ty dịch vụ kế tóan, kiểm toán
trong nước đang phải đối mặt là số lượng hạn chế về kế toán, kiểm toán
viên hành nghề. Riêng về đối tượng kế toán viên hành nghề, 2004 là năm
đầu tiên Bộ Tài chính tổ chức thi cấp chứng chỉ và mới chỉ có 4 người đạt
được chứng chỉ hành nghề kế toán. Về kiểm toán viên hành nghề, hiện nay
cả nước đang có khoảng hơn 1000 kiểm toán viên được cấp chứng chỉ
hành nghề trong đó có 200 kiểm toán viên có chứng chỉ quốc tế. Đây là
những con số rất khiêm tốn so với nhu cầu của thị trường khi mà các
doanh nghiệp cần dịch vụ kế toán, kiểm toán đang ngày một tăng.
24
1.2. Sự phân bố các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ chưa đồng đều theo
khu vực, vùng, miền.
Hiện nay các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kế toán, kiểm toán chủ yếu
tập trung ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Hải Phòng,
Đà Nẵng nơi tập trung đông các khu công nghiệp, khu chế xuất, các
doanh nghiệp. Và trong thời gian tới thì những thành phố như Bình
Dương, Đồng Nai, Hải Dương…đã và đang đạt mức tăng trưởng khá
mạnh về việc thu hút nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài và trong nước tới xây
dựng mới, mở rộng quy mô các doanh nghiệp đang hoạt động. Xét về