thuyết trình môn đầu tư tài chính phân tích ngành dược - Pdf 22

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
BỘ MÔN TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
PHÂN TÍCH NGÀNH
DƯỢC
GVHD:
Ths.Trần Thị Hải Lý

Tp.HCM, ngày 27-8-2011
1
MỤC LỤC
PHẦN MỘT : PHÂN TÍCH VĨ MÔ NGÀNH DƯỢC
I.TỔNG QUAN NGÀNH DƯỢC THẾ GIỚI 3
1. Tổng quan ngành dược thế giới 4
2. Xu hướng 6
3. Những thách thức đối với công ty Dược 10
4. Triển vọng mở rộn g quốc tế 12
II. TỔNG QUAN DƯỢC VIỆT NAM 14
1. Tình hình kinh tế Việt Nam 14
2. Lịch sử hình thành và phát triển 14
A. Các giai đoạn phát triển 14
B. Ngành Dược Việt Nam hiện nay 15
3. Các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến sự tăng trường ngành Dược Việt Nam 16
3.1 Thề chế-Pháp luật 16
3.2 Yết tố kinh tế 20
3.3 Văn hoá-Xã hội 23
3.4 Công nghệ 25
3.5 Cam kết WTO 25
4. Phân tích theo mô hình Porter’s 5 Forces 27
4.1 Phân tích môi trường cạnh tranh trong nội bộ ngành Dược 28
4.2 Mối đe doạ từ các đối thủ tiềm năng 31

2. Cổ phiếu ngành dược được mệnh danh là cổ phiếu phòng thủ 57
a- Đặc điểm của một cổ phiếu phòng thủ 57
b- Điều này có đúng với thị trường chứng khoán Việt Nam
không? Chúng ta hãy xem xét vài bằng chứng. 57
3. Sự hấp dẫn của cổ phiếu ngành Dược trong giai đoạn hiện nay 62
3
Đặc điểm ngành dược
PHÂN TÍCH VĨ MÔ
Thuận lợi- Hạn chế
Định giá ngành
PHÂN TÍCH VI MÔ
Ước lượng tỷ suất
sinh lợi
NGÀNH DƯỢC CÓ TRIỂN VỌNG GÌ ?
ĐẶC TRƯNG CỔ PHIẾU
QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ
4
I.
TỔNG QUAN NGÀNH DƯỢC THẾ GIỚI
1. Tổng quan ngành dược thế giới
 Ngành công nghiệp dược có tốc độ tăng trưởng khá cao trong những năm 2000 – 2007
nhưng hiện nay đã dần chậm lại đặc biệt là khu vực Mỹ và châu Âu .
 Theo thống kê của IMS Health, tổng doanh số ngành dược thế giới năm 2008 đạt 773 tỷ
USD, tăng trưởng thuần 4.8% (loại trừ biến động yếu tố giá ). Trước đó ngành này có tốc
độ
tăng trưởng khá cao, bình quân 10% (2000 – 2003) và 7% (2004- 2007). Đây là mức tăng
trưởng nổi trội so với tốc độ tăng trưởng chung của kinh tế thế giới và nhiều nhóm ngành
khác.
Doanh thu ngành dược năm 2009 ước tính đạt 760 tỷ USD , giảm 1.68% so với năm 2008 .
 Doanh thu ngành dược thế giới

Ngành công nghiệp dược phẩm hiện đang trải qua một giai đoạn chuyển đổi rất quan
trọng . Đa số các "Big Pharma" là các công ty tạo ra lợi nhuận cao, do đó họ có thể cung cấp
tiền mặt dư thừa để giúp cho sự phát triển nhanh chóng hơn nữa hoặc thông qua sáp nhập và
mua lại. Các công ty với quy mô sản xuất, thử nghiệm lâm sàng và tiếp thị sẽ có thể được các
công ty lớn hơn đầu tư trong nghiên cứu và phát triển (R & D) dự án với mục đích đa dạng hóa
danh mục đầu tư trong tương lai các loại thuốc của họ và làm cho chúng ổn định hơn trong dài
hạn. Kết quả là, các công ty hàng đầu trong ngành công nghiệp đã được tham gia hoạt động
sáp nhập và mua lại (M & A), liên doanh mới .
Các vụ mua lại lớn nhất trong ngành công nghiệp trong những năm qua việc mua lại của
Pharmacia Pfizer (giá mua $ 58000000000), và mua lại của Guidant bởi Johnson & Johnson
(giá mua 25 tỷ USD) . Cả hai vụ mua lại giúp hai công ty có thể củng cố vị thế của họ trong
ngành công nghiệp dược phẩm.
Bảng :Mua lại gần đây bởi các công ty dược phẩm lớn củaHoa Kỳ
8
Công ty mua * Kinh doanh cốt lõi của mục tiêu
Giá mua,
tỷ.USD
Pfizer Pharmacia
Các sản phẩm dược phẩm theo toa,
sản phẩm chăm sóc sức khỏe người
tiêu dùng và các sản phẩm chăm sóc
sức khỏe động vật.
$ 56,0
Esperion
Therapeutics
Công ty dược phẩm sinh học với
không có sản phẩm đã được phê duyệt
$ 1,3
Johnson &
Johnson

$ 1,5
Bristol-
Myers
Squibb
Acordis
Vật liệu cho sản phẩm Liệu Pháp vết
thương
$ 0,2
Eli Lilly
Tiến hóa phân
tử Ứng Dụng
Điều trị u lympho không Hodgkin và
viêm khớp dạng thấp
$ 0,4
Abbott TheraSense
Công nghệ quản lý tiên tiến bệnh tiểu
đường
$ 2,3
i-Stat Xét nghiệm chẩn đoán
Spine Tiếp SA Cột sống, chăm sóc kinh doanh
Nguồn: Báo cáo thường niên của công ty
Sanofi-Aventis và Bristol-Myers Squibb sản xuất của Plavix, đó là một trong những sản phẩm
bán chạy hàng đầu cho các công ty này.
 Yếu tố chủ yếu của sự tăng trưởng trong tương lai
Các ngành công nghiệp dược phẩm cho thấy tỷ lệ tăng trưởng doanh số bán hàng cao
trong thời gian qua, và một số yếu tố cho thấy xu hướng này sẽ tiếp tục trong tương lai .
Thứ nhất, do tiến bộ rất nhiều trong khoa học và công nghệ, bao gồm cả ngành công
nghiệp chăm sóc sức khỏe, và hiện nay tuổi thọ ở các nước phát triển đã được tăng đều. Kết
quả là, tỷ lệ ngày càng tăng của người cao tuổi hứa hẹn tăng trưởng hơn nữa nhu cầu cho các
sản phẩm chăm sóc sức khỏe.

tiềm năng cao nhất - chẳng hạn như điều trị các bệnh truyền nhiễm, tim mạch, tâm thần hay
ung thư.
Thứ hai, Big Pharma bị thiệt hại lợi nhuận đáng kể do cạnh tranh từ các nhà sản xuất
thuốc generic. Các công ty dược phẩm theo định hướng nghiên cứu, đầu tư nguồn lực tài chính
đáng kể và thời gian để phát triển các loại thuốc mới thì các nhà sản xuất thuốc generic dành
nguồn lực vào R & D, và bắt đầu sản xuất khi hết hạn bằng sáng chế của các công ty lớn vì thế
giá sản phẩm của các nhà sản xuất thuốc generic thường thấp hơn, kết quả là , sau khi hết hạn
bằng sáng chế, các nhà sản xuất thuốc generic nắm bắt thị phần đáng kể, làm giảm doanh thu
của Big Pharma .
Cuối cùng, toàn bộ ngành công nghiệp dược phẩm cạnh tranh với các ngành công nghiệp
chăm sóc sức khỏe khác. Trong trường hợp này, công ty dược phẩm nên không chỉ chứng
minh hiệu quả cao của các sản phẩm của họ, mà còn cung cấp bằng chứng rõ ràng về lợi thế
chi phí so với các hình thức chăm sóc khác.
 Thứ hai, họ phải quản lý trong một thế giới của kiểm soát giá cả với một loạt các giá
từ nơi này đến nơi khác .
11
Các công ty dược phẩm hoạt động trong một môi trường quy định, chịu sự ảnh hưởng
đáng kể vào quốc gia và loại sản phẩm .
Một trong những khía cạnh quan trọng nhất của quy định của chính phủ cho các công ty
dược phẩm là giá quy định, và các nước khác nhau có các chính sách khác nhau về vấn đề này
.
Tại Hoa Kỳ - thị trường dược phẩm hấp dẫn nhất hiện nay không có kiểm soát giá trực
tiếp từ chính phủ. Đồng thời, dự kiến sẽ cải thiện thuốc theo toa Medicare và Đạo luật Hiện đại
hóa có khả năng sẽ gia tăng áp lực giá cả đi xuống.
Phần lớn các nước châu Âu kiểm soát giá thuốc, và áp lực giảm giá này đã được tăng
lên trong những năm qua. Nhật Bản đã kiểm soát giá cả thậm chí còn chặt chẽ hơn so với các
nước châu Âu, tất cả giá được kiểm soát bởi chính phủ, và họ có thể xem xét lại giá định kỳ.
Như vậy, giá của các sản phẩm tương tự có thể khác nhau đáng kể ở các nước khác
nhau.
 Thứ ba, các công ty phải được liên tục cảnh giác đối với hành vi vi phạm bằng sáng

phát triển tại thời điểm này là thấp hơn nhiều, chúng cho thấy tốc độ tăng trưởng nhanh hơn
nhiều so với các nước phát triển . Ví dụ, Trung Quốc cho thấy một sự gia tăng doanh số bán
hàng 26% trong năm 2004, theo sau là Thái Lan (16% tăng trưởng) và Ai Cập (15 %). Một số
quốc gia châu Mỹ La tinh, chẳng hạn như Mexico, Brazil, Argentina và Venezuela cũng cho
thấy tốc độ tăng trưởng doanh số bán hàng nhanh hơn nhiều so với trên toàn thế giới trung
bình. Vì vậy, các nước đang phát triển có chứa một tiềm năng đáng kể cho việc mở rộng hơn
nữa của ngành công nghiệp dược phẩm trong tương lai.
Chu kỳ kinh doanh của ngành dược
Dựa trên nghiên cứu sự khác nhau về mức sinh lời đầu tư của 90 ngành so với mức sinh lời
của chỉ số S&P 500 trong 10 chu kỳ kinh tế hoàn chỉnh từ tháng 12.1945 đến tháng 12.1995,
Standard & Poor’s đã tổng kết được mô hình về mối tương quan giữa chu kỳ của thị trường
13
chứng khoán và chu kỳ kinh tế. Mô hình này chỉ ra rằng : trong một chu kỳ kinh tế điển hình
tại mỗi thời điểm khác nhau sẽ có những ngành sinh lời hơn so với toàn bộ thị trường.
Theo như những nghiên cứu này thì ngành dược là một bộ phận trong ngành chăm sóc sức
khỏe ( gồm các công ty dược phẩm, trung tâm chăm sóc sức khỏe, công ty công nghệ sinh học
và các hãng sản xuất thiết bị y tế ). Cổ phiếu thuộc nhóm này có tính phòng vệ cao và không
chịu tác động hay ít chịu tác động bởi chu kỳ kinh tế.
Cụ thể hơn , ta thấy là các công ty dược phẩm chịu tác động bởi thị phần, thời gian cấp
phép lưu hành thuốc, vòng đời của bản quyền sản xuất thuốc và kết quả của hoạt động nghiên
cứu và phát triển (R&D) nhiều hơn là sự tác động của các biến và chu kỳ kinh tế .
Không phải là ngành dược không chịu tác động của các biến kinh tế mà do các sản phẩm
của ngành dược là những sản phẩm thiết yếu và cần thiết nên dưới những thay đổi và tác động
của các biến kinh tế thì phản ứng của ngành dược trước chu kỳ kinh tế không có nhiều thay đổi
. Vì thế mà cổ phiếu của ngành dược còn gọi là cổ phiếu phòng thủ . Ở bất cứ giai đoạn nào
của chu kỳ kinh tế , nhà đầu tư đều có thể xem xét đầu tư vào chứng khoán ngành dược khi
muốn lựa chọn vào danh mục đầu tư một loại cổ phiếu chứng khoán có tính ổn định cao.
II.
TỔNG QUAN VỀ NGÀNH DƯỢC VIỆT NAM
1. Tổng quan về tình hình kinh tế VN

 Giai đoạn 1975 – 1990: Ngành dược Việt Nam trong giai đoạn thời bao cấp.
Ngành dược Việt Nam giai đoạn này chủ yếu bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, sản
xuất không đáng kể. Mức tiêu thụ bình quân thuốc trên đầu người thời kỳ này đạt vào khoảng
15
0,5- 1USD/năm. Do thuốc trong thời kỳ này khan hiếm nên tiêu chuẩn chất lượng thuốc trong
sử dụng chưa được chú trọng.
 Giai đoạn 1991-2005: Ngành dược bước vào thời kỳ đổi mới, thực hiện sự chuyển đổi từ
cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường.
Các xí nghiệp, công ty nhà nước trong ngành được thay đổi cơ cấu tập trung, cổ phần hóa
đầu tư sản xuất, đầu tư vào chiều sâu, nâng cấp để thực hiện các quy định về thực hành tốt sản
xuất GMP. Số lượng thuốc được sản xuất ngày càng nhiều. Cơ quan quản lý cấp cao của ngành
dược là Cục Quản Lý Dược thành lập. Luật Dược cũng được ban hành, làm cơ sở pháp lý cao
nhất điều chỉnh toàn bộ hoạt động trong lĩnh vực dược để ngành Dược Việt Nam được hoạt
động trong một môi trường pháp lý hoàn chỉnh và đồng bộ.
 Giai đoạn 2006-2007: Ngành dược tiếp tục phát triển với tốc độ cao, khoảng 18-
20%/năm. Việt Nam gia nhập WTO mang lại những thuận lợi cũng như khó khăn cho ngành
dược
Ngành dược đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang
trên đà phát triển. Các công ty dược phẩm đã đạt được chứng nhận GMP-ASEAN, đẩy mạnh
đầu tư GMP-WHO. Việt Nam gia nhập WTO có những ảnh hưởng nhất định đến ngành dược.
Bên cạnh những thuận lợi về môi trường đầu tư, tiếp cận công nghệ mới, đón một lượng vốn
đầu tư lớn, có cơ hội lựa chọn nguồn nguyên liệu đa dạng với chi phí hợp lý,…, ngành dược
phải đối đầu với không ít khó khăn như: năng lực cạnh tranh yếu, thiếu hiểu biết các quy định
về sở hữu trí tuệ; thiếu vốn, kỹ thuật công nghệ; đối mặt với các doanh nghiệp dược phẩm
nước ngoài trên một sân chơi bình đẳng khi chính phủ cam kết giảm thuế suất thuế nhập khẩu;
nới lỏng chính sách với các doanh nghiệp nước ngoài.
Giai đoạn 2008-nay: Ngành dược Việt Nam có những chuẩn bị và chủ động hội nhập với
các nước trong khu vực và trên thế giới nhằm đảm bảo cung cấp đủ thuốc có chất lượng và an
toàn.
Ngành dược Việt Nam đang bước vào thời kỳ cạnh tranh theo các nguyên tắc cạnh tranh cơ

cao và chiếm tới 69% tổng thị trường thuốc với các chủng loại liên quan nhiều đến thuốc
kháng sinh, thuốc thông thường (vitamin, giảm đau, hạ sốt).
-
Theo WHO và UNCTAD (United Nations Conference on Trade and Development (Hội
nghị thường niên về thương mại và phát triển của Liên hiệp quốc), ngành công nghiệp
dược được phân theo 4 cấp độ:
 Cấp độ 1: Hoàn toàn nhập khẩu
 Cấp độ 2: Sản xuất được một số generic và đa số phải nhập khẩu
 Cấp độ 3: Có công nghiệp dược nội địa sản xuất generic xuất khẩu được một số sản
phẩm dược
 Cấp độ 4: Sản xuất dược nguyên liệu và phát minh thuốc mới
Theo đó, ngành công nghiệp dược Việt Nam đang phát triển ở cấp độ 2,5-3. Đây là mức
độ đánh giá nền kinh tế có ngành công nghiệp dược, đã sản xuất được thuốc generic nhưng đa
phần vẫn nhập khẩu. Đây là khó khăn lớn của ngành dược Việt Nam hiện nay, khi vẫn chưa tự
chủ được nguồn nguyên liệu phục vụ cho sản xuất trong nước, với trung bình hơn 90% nguyên
17
liệu vẫn phải nhập khẩu, chiếm trên 50% giá thành sản xuất.Các dược liệu được nhập chủ yếu
là nguyên liệu kháng sinh, vitamin và chiếm trên 80% giá trị nhập khẩu.
3. Các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của ngành dược Việt Nam
a. Thể chế - Luật pháp (Political)
a. Sự ổn định về chính trị
Việt Nam được đánh giá là nước có môi trường chính trị, xã hội, an ninh ổn định. Chính
phủ đã có những nổ lực trong việc thể chế hóa hệ thống luật pháp, cải cách hành chính tạo điều
kiện tốt cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong và ngoài nước nói chung, các
doanh nghiệp trong ngành dược phẩm nói riêng.
b. Chính sách:
Ngành dược là ngành chịu tác động mạnh bởi các chính sách quản lý của Nhà nước
 Quản lý giá bán:
 Theo quy định của Cục Quản lý Dược, các doanh nghiệp phải đăng ký giá bán thuốc
với

Nẵng, Cần Thơ phải áp dụng tiêu chuẩn này.
Các quy định này đã dẫn đến 1 sự thanh lọc trong ngành dược. Cuối năm 2008, đã có
52% các doanh nghiệp dược (bao gồm cả tân và đông dược) đạt được tiêu chuẩn GMP-WHO.
Các doanh nghiệp còn lại khi đến thời hạn nếu không đạt được GMP-WHO sẽ phải thu hẹp
19
phạm vi sản xuất và chuyển sang gia công cho các doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn.Số doanh
nghiệp đạt được tiêu chuẩn GLP và GSP lần lượt là 51% và 63%
c. Các đạo luật liên quan:
Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Cạnh tranh, Luật Thương mại và Luật Sở hữu trí
tuệ cũng đã được Quốc hội thông qua, được kỳ vọng sẽ tạo môi trường đầu tư - kinh doanh -
cạnh tranh thông thoáng, minh bạch, bình đẳng và lành mạnh cho các doanh nghiệp. Trong giai
đoạn hoàn thiện khung pháp lý, các thay đổi của luật và văn bản dưới luật có thể tạo ra rủi ro
về luật pháp cho các doanh nghiệp trong ngành dược.
d. Vị thế của cơ quan đầu ngành:
Cơ quan trực tiếp quản lý ngành dược là Cục Quản Lý Dược được thành lập vào năm
1996 theo Quyết Định số 547/TTg. Đây là cơ quan quản lý chuyên ngành thuộc Bộ Y tế, giúp
20
Bộ trưởng Bộ Y tế thực hiện chức năng quản lý Nhà nước và thực thi pháp luật, điều hành các
hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ về lĩnh vực dược và mỹ phẩm trên phạm vi cả nước.
b. Kinh tế (Economics)
A. Tốc độ tăng trưởng KT
Trong giai đoạn 2003-2007, KTVN đạt tốc độ tăng trưởng khá cao và ổn định, trung
bình từ 7.5 – 8.5%/năm. Từ năm 2008 tới nay, do ảnh hưởng của cuộc suy thoái KT thế giới,
mức tăng trưởng GDP của VN giảm xuống còn 6.23% năm 2008, 5.32% năm 2009. Theo Báo
cáo cập nhật kinh tế khu vực Đông Á và Thái Bình Dương được Ngân hàng Thế giới công bố
ngày 19/10/2010, WB cho rằng GDP chỉ “đang trên đà đạt được mục tiêu 6.5% của năm
2010”. Tuy nhiên, GDP năm 2010 của VN đạt 6.78% cao hơn con số WB dự báo. Điều đó
chứng tỏ nền KT VN đang từng bước phục hồi và tăng trưởng.
Tốc độ tăng trưởng GDP cả nước giai đoạn 2003-2010
Ngành Dược cũng là 1 ngành phụ thuộc vào sự phát triển KT. Khi nền KT tăng trưởng

(Nguồn: Cục Quản lý Dược)
Tăng trưởng GPD, giá trị sử dụng thuốc và giá trị sản xuất thuốc từ 2006 - 2010
30,00%
25,00%
26,34%
25,46%
20,00%
15,00%
10,00%
5,00%
20%
17%
8,17%
18,82%
8,48%
19,11%
6,23%
18,97%
16,18%
5,32%
12,82%
10,57%
6,78%
tăng trưởng GDP
giá trị sử dụng thuốc
giá trị sản xuất thuốc
0,00%
2006 2007 2008 2009 2010
( Nguồn: Tổng Cục thống kê & Cục Quản lý dược)
B. Lạm phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status