đại diện theo ủy quyền trong giao kết hợp đồng - Pdf 22

Đề tài : Đi din theo y quyền trong giao kt hp đng
Giáo viên hướng dẫn :
Sinh viên thực hiện :
Lớp : K50 B-Luật học
Hà Nội-5/2008
Lời cảm ơn
Tôi xin cảm ơn cha mẹ tôi, bạn bè cùng lớp đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học
tập, xin cám ơn tập thể lớp k50 B một tập thể học tốt , chia sẻ , giúp đỡ tôi hoàn thành
bài viết này. Xin cám ơn thầy người đã tạo hứng thú và niềm say mê học hỏi nghiên cứu
cho chúng tôi.
Phm vi bài vit
Bài viết không chủ đích làm rõ tất cả các vấn đề về đại diện mà chỉ đi sâu vào làm rõ vấn
đề đại diện theo uỷ quyền. Việc giao kết, xác lập, thực hịên hợp đồng của người uỷ quyền
và người đại diện. Bài viết đi vào làm rõ quan hệ đại diện trong giao kết hợp đồng thì nó sẽ
phát sinh những hậu quả pháp lý gì, trách nhiệm của các bên liên quan ra sao. Bài viết cũng
giúp người ta hiểu được địa vị pháp lý của mình là ở đâu trong quan hệ đại diện. Bài viết
không nghiên cứu vấn đề đại diện theo pháp luật: đại diên cho người chưa thành niên, đại
diện theo pháp luật của một pháp nhân.
1. Đặt vấn đề
2 .Nguồn gốc
3. Khái niệm ,bản chất
3.1. Khái niệm
3.2. Bản chất
3.2.1.Tự do ý chí
3.2.2. Sự tin cậy
3.2.3. Sự miễn cưỡng
3.3. Sự hữu hiệu của đại diện
3.3.1.Nguời đại diện có quyền đạidiện
3.3.2. Người đại diện có ý chí đại diện
3.3.3.Người đại diện có ý chí giao kết hợp đồng
3.4. Đặc điểm của đại diện

không ảnh hưởng tới người đó”( 1) . Luật La Mã vào thời kỳ phát triển nhất chưa có việc
một người đại diện cho người khác ký kết một hợp đồng( 2 ). Nhưng những mầm mống đầu
tiên của khái niệm đại diện đã xuất hiên trong việc: “Những người phụ thuộc gia chủ không
bao giờ có thể làm đại diện. Gia chủ có quyền hạn và trách nhiệm từ những hợp đồng do họ
ký kết không phụ thuộc vào ý chí gia chủ có như thế hay không, vì điều kiện cần thiết của
quyền đại diện là ý chí của người uỷ quyền và tất cả do người uỷ quyền. Trách nhiệm từ
những hợp đồng này trước hết thuộc về người ký, còn gia chủ chỉ nhận một phần trách
nhiệm mà thôi. Người đại diện không có quyền hạn và nghĩa vụ từ hợp đồng đã ký” 3 .
Cùng với sự lớn mạnh của kinh tế giao thương thì việc đại diện trong ký kết hợp đồng đã
được cho phép. Xã hội càng phát triển thì việc đại diện càng quan trọng và có ý nghĩa to
lớn thúc đẩy giao lưu dân sự phát triển và đại diện cũng là một thước đo đánh giá sự phát
triển của một xã hội. Bởi vậy ta cùng đi làm rõ nó.
3. Khái nim đi din, bản chất.
3.1. Khái niệm.
Trong các BLDS lớn người viết hầu như không thấy có khái niệm đại diện nhưng thông
qua các quy phạm trong các điều luật về phần hợp đồng uỷ quyền ta vẫn có thể hiểu được
đại diện là gì.Tại điều 389-3 BLDS Pháp:”người quản lý theo pháp luật đối với tài sản của
người chưa thành niên đại diện cho người chưa thành niên trong mọi giao dịch dân sự…”
hay tại điều 1984 về hợp đồng uỷ quyền “hợp đồng uỷ quyền là hợp đồng trong đó một
người trao cho người khác quyền thực hiên một công việc nhân danh và vì lợi ích của
người uỷ quyền”(4). Ở nước bạn Thái Lan gần gũi với chúng ta cũng không tìm thấy khái
niệm đại diện mà nó chỉ thể hiện qua hợp đồng uỷ quyền, BLDS Thái Lan 1995 NXBCT
“hợp đồng uỷ quyền là một hợp đồng mà trong đó một người gọi là người thụ uỷ được
quyền hành động cho một người khác gọi là người chủ uỷ và người đó chấp thuận làm như
vậy” 5 . Unidroit trong bộ các nguyên tắc cơ bản về hợp đồng thương mại quốc tế “mục
này điều chỉnh quyền của một người ở địa vị của một người khác trong việc làm phát sinh
một hậu quả liên quan tới việc ký kết và thực hiện hợp đồng” 6 . BLDS Việt Nam cấu tạo
đặc biệt gồm hai phần, phần chung nêu những khái niệm và nguyên tắc cơ bản …trong đó
có khái niệm đại diện. Trong BLDS 2005 của Việt Nam “ đại diên là việc một người (sau
đây là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây là người được đại

diện gánh chịu bởi vậy sự tin tưởng là phần không thể thiếu khi ta nói tới đại diện trong
giao kết hợp đồng. Ngược lại ta không quan niệm “sự tin cậy” là một trong các yếu tố làm
lên bản chất của đại diện trong giao kết hợp đồng, chuyện gì sẽ đến khi một người trao cho
người khác một thẩm quyền giao kết một hợp đồng mà liên quan tới toàn bộ sản nghiệp của
anh ta khi mà anh ta không tin tưởng người mà mình trao cho thẩm quyền đại diện đó.VD:
A đang đàm phán với B về việc hai bên ký kết hợp đồng mua bán ô tô. D phải đi nước
ngoài công tác lên A không thể tham gia việc tiếp tục đàm phán và ký kết hợp đồng mua
bán với B. A có hai ngưòi thân là C và D trong đó D là kẻ nghiện hút ,hay cờ bạc, lô đề và
đã nhiều lần lừa tiền của A để đi chơi bạc. Ta đặt ra câu hỏi liệu là một người bình thường
A sẽ chọn ai để đưa tiền đi mua ôtô tô cho mình C hay D?
3.2.3. Đại diện còn có thể mang tính miễn cưỡng (đại diện do pháp luật quy định).
Đại diện theo pháp luật cho người chưa thành niên, người bị mất năng lực hành vi…Ở đây
người đại diện được pháp luật đặt vào trong mối quân hệ đại diện mà mình không có sự lựa
chọn.
Đây cũng là một phần bản chất của việc đại diện nhưng người viết không đi sâu về việc này
vì nó lằm ngoài phạm vi của bài viết.
3.3. Sự hữu hiệu của đại diện
Đại diện chỉ hữu hiệu khi mà có ba điều kiện sau:
3.3.1.Người đại diện có quyền đại diện.
Người đại diện phải có thẩm quyền đại diện, thông qua một hợp đồng tức có sự thống nhất
ý chí của hai bên “Khế ước uỷ nhiệm đòi hỏi một sự thoả hiệp giữa ý chí của người uỷ
quyền (mandant) và người thụ uỷ (mandataire). Nói khác hai bên không những phải có sự
thoả hiệp mà hơn nữa, ý chí của họ không bị hà tỳ”( 8 ) Vũ văn Mẫu trong cuốn “Việt
Nam dân luật lược khảo” quyển II nghĩa vụ và khế ước.tr 105.
Người đại diên phải có đủ điều kiện để giao kết hợp đồng: đủ tuổi,có năng lực hành
ví… Bây giờ đặt ra trường hợp người đại diện không có năng lực hành vi giao kết hợp
đồng thì giải pháp đặt ra là như thế nào :người viết xin có hai kiến giải sau:
Nếu người đại diên không có năng lực hành vi (sự không có năng lực này có thể xảy ra
trước khi có việc uỷ quyền hoặc sau khi có việc uỷ quyền cho tới khi hợp đồng được giao
kết ) mà người được đại diện không biết hoặc không thể biết thì có thể yêu cầu toà án tuyên

có ý chí giao kết thì có nghĩa không có hợp đồng (người đại diện không mong muốn giao
kết hợp đồng theo ý chí chủ quan của mình). Trong mối quan hệ đại diện trong giao kết hợp
đồng tồn tại hai hợp đồng (hợp đồng uỷ quyền giữa người được đại diện và người đại diên;
hợp đồng giao kết với người thứ 3 của người được đại diện thông qua hành vi giao kết của
người đại diện.). Bởi vậy khi mà người đại diện không có ý chí giao kết hợp đồng thì hợp
đồng giữa người thứ 3 và người được đại diên sẽ không tồn tại hoặc có thể không tiến tới
giao kết được một hợp đồng như người được đại diện mong muốn giao kết. Lúc này người
đại diện có thể giao kết hợp đồng đó cho chính mình mà không phải cho người đại diện.
Khi việc giao kết hợp đồng không thành công do nguời đại diện không có ý chí giao kết mà
người này thực hiện không đúng nghĩa vụ hành động vì lợi ích của người uỷ quyền, cố tình
gây thiệt hại do việc không giao kết được hợp đồng thì người uỷ quyền có thể đòi bồi
thường nhưng việc chứng minh hay đưa ra bằng chứng không phải là chuyênh dễ ràng.
VD.A là một nông dân vừa qua thắng lớn trong vụ cà phê nên bàn với vợ là mua một chiếc
ôtô phục vụ cho việc sản xuất vụ tới. A đang đàm phán với B về việc mua bán chiếc xe ôtô
tải biển số 29 U9 9999 hai bên đã thoả thuận giá cả và 10 ngày sau ký hợp đồng. Nhưng A
đột nhiên phải sang Brazil để truyền đạt kinh nhiệm sản xuất cà phê theo lời mời của hội
nông dân Brazil. Trước khi đi A uỷ quyền cho C bạn thân mình tới ký hợp đòng mua bán
xeôtô và việc uỷ quyền này hoàn toàn hợp pháp, đã thông báo tới B. Khi tới để ký kết C đã
đề nghị một mức giá thấp hơn và viện dẫn một số lí do để B không bán chiếc xe đó nữa (vì
B và C vốn có một số khúc mắc với nhau).
Ta có thể thấy khi mà người đại diện không có ý chí giao kết hợp đồng thì sẽ không có hợp
đồng và việc uỷ quyền cho người khác thay mặt mình giao kết hợp đồng là không đạt được
kết quả như mong muốn của người uỷ quyền.
Người đại diện không phải chỉ là một người đứng chung gian để chuyền mệnh lệnh của
người uỷ quyền mà chính họ phải tham gia vào giao dịch, chính người đại diện là người
giao kết hợp đồng.
Vũ văn Mẫu trong cuốn “Việt Nam dân luật lược khảo” quyển II nghĩa vụ và khế ước có
nói: “Tuy nhiên người đại uỷ muốn chọn một người vô năng làm người đại diên, đó là
quyền của họ. Trong trường hợp này, vì họ đã biết rõ sự vô năng của người đại biểu mà họ
chọn, họ không bị than phiền như vậy trong trường hợp bị tổn thiệt về các sự hà tỳ cuả sự

hành vi được uỷ quyền mà người đại diện có thẩm quyền rộng hay hẹp. Nếu hành vi phải
thực hiện là nghĩa vụ kết quả thì người đại diện có quyền tự do hành động miễn sao mang
lại kết quả như mong muốn của người được đại diện trừ trong thoả thuận có quy định
khác….
Người đại diện về nguyên tắc nếu không muốn chịu trách nhiệm từ những giao dịch mà
mình thay mặt người được đai diện thực hiện thì phải hành động trong phạm vi uỷ quyền .
Bởi đó không phải là hành vi của người đại diện mà là hành vi của người được đại diện với
người thứ 3. Tuy nhiên tuỳ từng trường hợp mà người đại diện chính là người phải chịu
trách nhiệm.
Thứ 1: đại diện không được thông báo (undisclose agency) (11) Unidroit ( tr 146) , ở đây
chúng ta cần chú ý tới sự hiểu biết của người thứ 3. Đây là việc người đại diện khi giao kết
hợp đồng không thông báo rõ là mình đang đại diện cho một nguời khác giao kết hợp đồng
với phía bên kia. Trong trường hợp bên giao kết không biết hoặc không buộc phải biết về
việc người đại diện giao kết hợp đồng cho nmình hay cho một người khác.Thì về nguyên
tắc hợp đồng được giao kết bởi người đại diện và bên kia sẽ có giá trị ràng buộc trực tiếp
người được đại diện vào hợp đồng.
VD A một nông dân muốn mua một con bò của anh B để lấy sức kéo cho vụ mùa vì con bò
của nhà anh ta bị chết trong đợt rét đậm vừa qua. A nhờ C em vợ mình đến nhà B để mua
hộ vì vợ anh ta đẻ. C đến nhà B đàm phán mua con bò. Nhưng C không nói là mình mua hộ
A thì hợp đồng này sẽ ràng buộc C trứ không phải là A nếu B không biết hoặc không buộc
phải biết. Nếu không mua nữa thì C sẽ phải chịu trách nhiệm mà không phải A.
Bởi vậy nhiều khi hợp đồng do người đại diện ký kết mà hành vi đại diện không được công
bố thì hợp đồng sẽ có thể bị vô hiệu do giả tạo (một người nước ngoài không được mua nhà
nhưng lại nhờ người khác đứng tên mua nhà mà người đại diên không thông báo cho bên
kia biết và bên kia cũng không buộc phải biết), nhầm lẫn hoặc lừa rối.
Thứ 2: đại diện được thông báo(disclose agency). Đây là trường hợp đại diện được thông
báo tới bên giao kết hợp đồng hoặc việc đại diện không được thông báo nhưng bên kia biết
hoặc buộc phải biết về điều đó thì hợp đồng sẽ ràng buộc người được đại diện.
Việc có một thông báo rõ ràng về việc đại diện cũng như phạm vi đại diện sẽ tránh được
những rắc rối về sau trong quá trình thực hiện hợp đồng. Thông báo rõ ràng, đầy đủ về có

cao nhất là 2000$ nhưng B đã ký hợp đồng mua chiếc xe đó với giá 5000$ và thông báo
với C là mình mua hộ A, C hoàn toàn không biết B chỉ được mua xe với giá cao nhất là
2000$. Khi hợp đồng được ký kết C đến giao xe nhưng A không nhận và không chịu trả
tiền. A cho rằng B đã hành động vượt quá phạm vi uỷ quyền của mình nên xin tuyên bố
hợp đồng vô hiệu.
Ở đây ta thấy A không nhận xe là vi phạm hợp đồng vì việc B chỉ được quyền mua chiếc xe
của C với giá cao nhất 2000$ là một thoả thuận nội bộ giữa A và B mà C không biết và
cũng không buộc phải biết là B hành động trong thẩm quyền hay vượt quá phạm vi uỷ
quyền. Mọi kết qủa mang lại do việc B giao kết quá thẩm quyền được phép đều bắt buộc A
phải gánh chịu.A chỉ có thể đòi lại chút quyền lơị của mình bằng cách yêu cầu B bồi
thường những gì đã vượt quá mà gây thiệt hại cho A.
Trong một ví dụ khác.A giám đốc do phải đi công tác nước ngoài nên uỷ quyền cho B một
phó giám ký kết hợp đồng với một công ty Hàn Quốc. Trong giấy uỷ quyền ghi rõ B ký kết
mua 10 tấn kim chi muối và 1 tấn nhân sâm của công ty phía hàn quốc. Khi tiến hành đàm
phán ký kết B đã xuất trình giấy uỷ quyền cho phía bên đối tác kiểm tra. Hai bên thoả thuận
mua bán 20 tấn kim chi và 1,5 tấn nhân sâm. Hợp đồng được ký và hai bên đã giao nhận
hàng và tién hành thanh toán. A về nước mới vỡ lẽ là B đã mua 20tấn khim chi và 1,5 tấn
nhân sâm nên xin tuyên bố hợp đồng vô hiệu và yêu cầu bên công ty hàn quốc nhận lại số
hàng mà B ký vượt quá thầm quyền.
Trong ví dụ trên ta thấy rõ ràng B đã hành động vượt quá phạm vi thẩm quyền của mình
(chỉ được kí kết hợp đồng mua 10 tấn kim chi và 1 tấn nhân sâm) phía đối tác Hàn Quốc
khí xem giấy uỷ quyền phải biết rõ về việc này hoặc buộc phải biết thẩm quyền kí hợp
đồng mua hàng của B cho nên phần lằm ngoài phạm vi uỷ quyền mà A uỷ quyền cho B
không có hiệu lực ràng buộc đối với A.
3.3.3.2. Người đại diện tự trở thành một bên trong hợp đồng hoặc đại diện cho hai người
giao kết hợp đồng với nhau (Xung đột lợi ích).
Trong bộ nguyên tắc Unidroit cũng điều chỉnh tương tự vấn đề này tại điều 2.2.7 “Xung đột
lợi ích”: “1.Nếu việc người đại diện ký hợp đồng dẫn đến việc xung đột lợi ích giữa người
được đại diện và người đại diện,mà bên thứ 3 biết hoặc đáng lẽ phải biết, người được đại
diện có thể huỷ hợp đồng theo quy định tại điều3.12 và các điều từ 3.14-3.17.2. Tuy nhiên ,

Giải pháp của nhà làm luật Việt Nam thể hiện trong một điều khoản. Tại k3 điều 69 BLDS
2005. “Các giao dịch dân sự giữa người giám hộ và người được giám hộ liên quan tới tài
sản của người được giám hộ đều vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch vì lợi ích của người
được giám hộ và có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.”(15)
Thiết nghĩ nhà làm luật nên phân loại và dự liệu tốt hơn các tình huống để có thể đưa ra
những giải pháp hợp lý nhất cho từng trường hợp phát sinh khi có sự xung đột lợi ích. Trên
nguyên tắc tôn trọng tự do ý chí của các bên thể hiện trong hợp đồng uỷ quyền. Khi hợp
đồng đã có giải pháp cho sự xung đột lợi ích thì nhà làm luật phải tôn trọng ý chí của các
bên, giả sử trong hợp đồng mà không nói rõ người đại diện có được giao kết hợp đồng
trong khi có sự xung đột lợi ích nếu người đại diện đã hành động một cách hợp lý :thông
báo cho người uỷ quyền biết về việc có lợi ích bị xung đột và người uỷ quyền tuy không
phán đối nhưng có những biểu hiện chứng tỏ chấp nhận thì sau này cũng không thể lại ra có
xung đột lợi ích khi người đại diện hành động để tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
4. Xác lập và chấm dứt vic đi din.
4.1. Xác lập việc đại diện;
Trong tường hợp xét tới cả đại diện theo pháp luật, thì việc đại diên có thể được xác lập qua
một sự kiện pháp lý, hành vi pháp lý. Nhưng trong phạm vi mà người viết nghiên cứu thì
chỉ xét tới hành vi pháp lý để xác lập việc đại diện đó là hợp đồng uỷ quyền. Trong hợp
đồng uỷ quyền thì các bên nên xác định rõ các vấn đề chủ yếu, cơ bản của hợp đồng:1.thời
gian uỷ quyền,2.công việc hay phạm vi uỷ quyền, 3.quyền nghĩa vụ của mỗi bên, 4.chi phí
cho việc thực hiện…
4.2. Chấm dứt việc đại diên.
Các trường hợp chấm dứt đại diện đã được nhà làm luật nêu ra, ở đây người viết chỉ muốn
bình luận đôi điều về tình huống khi mà người đại diện hoặc người được đại diện chết, đột
nhiên vô năng trong khi hợp đồng được giao kết thì xử lí ra sao?
Có một ví dụ như sau. A uỷ quyền cho B tới đàm phán và ký kết hợp đồng về việc mua bán
chiếc xe BMW 3.0 của C. Khi B và C đang đàm phán và chuẩn bị ký hợp đồng thì đột
nhiên A chết do tai lạn giao thông , tình huống trên sẽ được xí lí thế nào.
Ta thấy khi A chết thì hợp đồng uỷ quyền giữa A và B đương nhiên chấm dứt, nên cũng sẽ
không có hợp đồng nào được giao kết giữa A và C . Ở đây khi mà A chết thì B giao kết hợp

din trong giao kt hp đng.
- Mọi người khi tham giao vào quan hệ giao kết hợp đồng biết được giới hạn trách nhiệm
của mình tới đâu, khi nào người đại diện tránh khỏi những ràng buộc vào hợp đồng, khi nào
mình bị ràng buộc cũng như phải thực hiện hợp đồng trước người thứ 3…
- Chế định đại diện trong giao kết hợp đồng càng phát triển thì chứng tỏ giao lưu dân sự
càng phát và cũng là một xã hội thịch vượng.
- Khuyến cáo những người đã, đang và sẽ giao kết hợp đồng có thể tránh khỏi những vướng
mắc pháp lý không cần thiết , từ đó giảm những tranh chấp phát sanh.
- Đây cũng là tìm ra những sơ hở thiếu sót trong luật thực định, đề ra giải pháp phù hợp
hơn trên nguyên tắc tôn trọng tự do ý chí của các bên.
-Bài viết làm cho ai ít quan tâm nhất đến lĩnh vực pháp lí, một người bình thường nhất hiểu
được địa vị của mình khi là người đại diện cho người khác giao kết một hợp đồng hay uỷ
quyền cho người khác thay mặt mình giao kêt hợp đồng với người thứ 3.
7. Kt luận.
Đại diện trong giao kết hợp đồng không phải là vấn đề mới nhưng những tranh chấp phát
sinh ra từ nó rất nhiều và không kém phần phức tạp. Giải quyết tốt những vấn đề phát sinh
là cơ sở cho quan hệ hợp đồng ngày càng đa dạng và phát triển. Bài viết cũng đưa ra một số
kiến nghị giúp cho người được đại diện, người đại diện và cả bên thứ ba biết được những
tình trạng pháp lí mà mình có thể vướng phải để từ đó hành động một cách đúng đắn. Bài
viết cũng kiến giải một số giải pháp mà nhà làm luật chưa điều chính , hoặc không phù hợp
với thực tế.Tóm lại đại diện trong giao kết hợp đồng là một chế định phức tạp cần đàu tư
nghiên cứu thêm.
Do kiến thức,sự hiểu biết ,tài liệu tham khảo con hạn chế nên kính mong quý vị có những
phản hồi để người viết nghiên cứu đạt được những kết quả tốt hợn.
Chú thích:
1. Giáo trình luật la mã.tác giả Ngưyễn ngọc Đào trang 96
2 . Giáo trình luật la mã.tác giả Ngưyễn ngọc Đào trang 97
3 . Giáo trình luật la mã.tác giả Ngưyễn ngọc Đào trang 99
4 . Điều 389-3 BLDS pháp nhà xuất bản tư pháp 2005
5 . BLDS Thái Lan 1995 NXBCT


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status