giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanhh của ngân hàng công thương Hà Nam - Pdf 22


1
Phần mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.
Xuất phát từ thực tiễn hoạt động của hệ thống Ngân hàng Công thơng
(NHCT) Việt Nam nói chung và chi nhánh NHCT Hà Nam nói riêng trong
quá trình kinh doanh đã bộc lộ nhiều khó khăn thách thức trớc yêu cầu cạnh
tranh để hội nhập quốc tế và khu vực. Đối với chi nhánh NHCT Hà Nam tuy
tốc độ tăng trởng trong những năm qua đạt tỷ lệ khá cao nhng chất lợng
hiệu quả kinh doanh còn thấp. Ngoài những khó khăn chung của môi trờng
kinh tế- xã hội còn có nguyên nhân rất quan trọng nữa là việc quản trị điều
hành ngân hàng, quản lý các nghiệp vụ hoạt động kinh doanh còn nhiều vấn
đề tồn tại yếu kém đang đặt ra cần phải nghiên cứu giải quyết nhằm để điều
chỉnh chiến lợc và đa ra các giải pháp để đa NHCT Hà Nam Phát triển -
An toàn - Hiệu quả.
Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết đó, tác giả chọn để tài: Giải pháp
nâng cao hiệu quả kinh doanh của NHCT Hà Nam
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu lý luận cơ bản về quản trị
Ngân hàng Thơng mại (NHTM) và thực tiễn hoạt động kinh doanh của
NHCT Hà Nam để đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh
doanh của NHCT Hà Nam nói riêng và NHCT Việt Nam nói chung.
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tợng là các nghiệp vụ quản lý và kinh doanh cơ bản của NHTM
nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của NHCT Hà Nam.
- Phạm vi nghiên cứu là các hoạt động kinh doanh của NHCT Hà Nam
trong giai đoạn 1999-2001.
4. Phơng pháp nghiên cứu.
Luận văn sử dụng phơng pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử,


Ngân hàng là một tổ chức nhận tiền gửi và cho vay tiền.

Mỹ thuật ngữ các ngân hàng (Banks) bao gồm những hãng nh
NHTM, các Công ty tiết kiệm và cho vay, các Liên hiệp tín dụng.
Luật tổ chức tín dụng ở Việt Nam chỉ ra thuật ngữ: Ngân hàng là loại
hình tổ chức tín dụng (TCTD) đợc thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân
hàng và hoạt động kinh doanh khác có liên quan.
Theo tính chất và mục tiêu hoạt động các loại hình ngân hàng gồm:
NHTM, Ngân hàng đầu t, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác và các
loại hình Ngân hàng khác. Do vậy, NHTM chỉ là một nhóm trong số các tổ
chức tài chính trung gian, ngời ta gọi chung là Các định chế tài chính có
chức năng giống nhau là dẫn vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn. Trong các
định chế tài chính, NHTM là định chế có kỳ hạn quan trọng nhất, ở nhiều góc
độ khác nhau ngời ta định nghĩa NHTM nh sau:
Các nhà kinh tế định nghĩa: NHTM là trung gian tài chính có giấy phép
kinh doanh của Chính phủ để cho vay tiền và mở các tài khoản tiền gửi, kể các
loại tiền gửi mà dựa vào đó có thể dùng các tờ séc.
Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính năm
1990 của Việt Nam định nghĩa: NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ, mà hoạt
động chủ yếu và thờng xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng, với trách
nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nhiệm vụ chiết
khấu và làm phơng tiện thanh toán.
Luật các TCTD Việt Nam: NHTM là doanh nghiệp đợc thành lập theo

4
quy định của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân
hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng
các dịch vụ thanh toán.
Những định nghĩa này cho thấy một số chức năng cơ bản mà các
NHTM đảm nhận, phân biệt tơng đối với các chức năng của các trung gian

- Tiền gửi không kỳ hạn.
Đối với với các NHTM Việt Nam huy động vốn tiền gửi không kỳ hạn
có 2 hình thức chính: Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn của dân c và tiền gửi
trên tài khoản tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh tế- xã hội và cá nhân.
+ Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn của dân c: Là hình thức gửi tiền và
rút tiền ra khỏi ngân hàng một cách thờng xuyên, bất kỳ thời điểm nào. Mục
đích của khách hàng không phải gửi tiền để hởng lãi, mà chủ yếu là để đảm
bảo thanh toán và an toàn tài sản.
+ Tiền gửi trên tài khoản tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh tế- xã
hội và cá nhân: Mục đích chủ yếu là phục vụ cho nhu cầu thanh toán. Khách
hàng mở tài khoản thanh toán tại các NHTM thông qua tài khoản để ghi Có
các khoản thu nhập của họ hoặc sử dụng để ghi Nợ trả tiền hay rút tiền mặt
theo yêu cầu bằng các phơng thức thanh toán không dùng tiền mặt nh: Séc,
uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, thẻ thanh toán...
Hai hình thức tiền gửi trên, khách hàng đợc ngân hàng trả lãi trên số
d Có trên sổ tiết kiệm hay trên tài khoản. Đặc điểm của loại tiền gửi này là
lãi suất thấp, không ổn định.
- Tiền gửi có kỳ hạn.
Bao gồm tiền gửi của cá nhân, các tổ chức kinh tế, xã hội. Tiền gửi có
kỳ hạn thông thờng chỉ đợc rút ra theo kỳ hạn. Đối với tài khoản tiền gửi có
kỳ hạn, khách hàng có thể gửi vào và rút ra theo yêu cầu. Song loại tài khoản
này không đợc phát hành séc, cũng nh sử dụng các phơng thức thanh toán
không dùng tiền mặt khác. Khi khách hàng muốn rút trớc hạn trên tài khoản

6
tiền gửi có kỳ hạn, ngân hàng sẽ trích chuyển từ tài khoản có kỳ hạn sang tài
khoản tiền gửi thanh toán, và từ tài khoản này khách hàng mới rút tiền mặt
hay chuyển khoản thanh toán khác.
Đặc điểm của tiền gửi có kỳ hạn là lãi suất cao (kỳ hạn càng dài lãi suất
càng cao). Khách hàng gửi tiền mục đích để lấy lãi, vì vậy tiền gửi có kỳ hạn

đầu t, chiết khấu chứng từ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và
các nghiệp vụ trung gian khác.
- Hoạt động cho vay.
Đó là việc ngân hàng thoả thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền
vay với nguyên tắc có hoàn trả. Căn cứ vào thời gian có thể phân thành 2 hình
thức cho vay: Cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dài hạn.
Theo Quyết định số 284/2000/QĐ-NHNN1 ngày 25/8/2000 của Thống
đốc Ngân hàng Nhà nớc (NHNN) Việt Nam, điều 10 về thời hạn cho vay có
quy định cho vay ngắn hạn tối đa đến 12 tháng, cho vay trung hạn từ trên 12
tháng đến 60 tháng, cho vay dài hạn từ trên 60 tháng
+ Cho vay ngắn hạn: Là hình thức cho vay bổ xung thiếu hụt về vốn lu
động cho khách hàng vay hoạt động sản xuất kinh doanh và vay vốn tiêu
dùng. Cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn cho vay của các
NHTM. NHCT Việt Nam có tỷ trọng cho vay ngắn hạn năm 1999 là 51,4%;
năm 2000 là 54 % và năm 2001 là 57,05%
+ Cho vay trung và dài hạn: Đợc thực hiện đối với những dự án đầu t
cơ bản, dự án xây dựng hạ tầng cơ sở phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội,
mua sắm tài sản cố định, thay đổi và chuyển giao công nghệ của các doanh
nghiệp... các đối tợng có chu kỳ sản xuất, kinh doanh dài ngày, để cho vay
trung và dài hạn bắt buộc các NHTM phải có nguồn vốn dài hạn. Nguồn vốn
dài hạn hiện nay đối với các NHTM Việt Nam rất thiếu cho nên tỷ trọng cho
vay trung và dài hạn cha tơng xứng với nhu cầu đầu t của các thành phần
kinh tế. Định hớng của NHCT Việt Nam đến năm 2002 đa tỷ trọng cho vay

8
trung và dài hạn chiếm 35% tổng d nợ vay.
- Đầu t: Sau hoạt động cho vay là hoạt động mang lại thu nhập chính
cho ngân hàng, thì đầu t đợc xếp hàng thứ hai. Hoạt động đầu t của các
NHTM vừa làm đa dạng loại hình vốn sử dụng vừa mang lại thu nhập, đồng
thời còn là khoản dự trữ thứ cấp với các chứng khoán ngắn hạn chất lợng cao.

đầu t vốn nớc ngoài hoặc chi nhánh công ty nớc ngoài đóng tại Việt Nam
vay vốn, việc đảm bảo tiền vay đợc thực hiện bằng bảo lãnh của một Ngân
hàng nớc ngoài có chi nhánh tại Việt Nam. Cũng nh NHCT bảo lãnh vay
vốn nớc ngoài đối với các doanh nghiệp Việt Nam thông qua các hình thức
nh: Th tín dụng mua hàng trả chậm, ký bảo lãnh (Guarantee) trên các phiếu
nhận nợ, phát hành th bảo lãnh (Letter of Guarantee ), lập phiếu cam kết trả
nợ (Promisory note).
1.1.2.3. Dịch vụ trung gian.
Các dịch vụ trung gian đợc các NHTM rất coi trọng, bởi hoạt động có
tính an toàn, lợi nhuận cao. Ngoài việc mang lại lợi nhuận trực tiếp qua thu
phí dịch vụ trung gian còn góp phần tạo lập nguồn vốn, thông qua các hoạt
động thanh toán ký gửi.
- Trung gian thanh toán .
Là việc Ngân hàng cung cấp cho khách hàng các dịch vụ thanh toán.
Thông qua các hoạt động này, tạo điều kiện cho khách hàng thực hiện các
khoản thanh toán với nhau, mà không phải mang theo một lợng tiền mặt
bằng hai hình thức:
- Thanh toán không dùng tiền mặt (Thanh toán chuyển khoản) đối với
các khách hàng có mở tài khoản tại ngân hàng. Nghiệp vụ này đợc thực hiện
từ các phơng thức thanh toán do Ngân hàng cung cấp nh: Séc, uỷ nhiệm thu,
uỷ nhiệm chi, thẻ thanh toán...khách hàng sử dụng các phơng thức thanh toán
trên để trả tiền cho ngời thụ hởng hay đòi tiền cung cấp hàng hoá hay dịch
vụ thông qua Ngân hàng.

10
- Chuyển tiền thanh toán: Là việc khách hàng có thể trả một khoản tiền
ở bất kỳ chi nhánh NHTM nào mà ngời nhận tiền có hay không có tài khoản
tại Ngân hàng.
Hiện nay, với công nghệ thanh toán rất phát triển, hoạt động trung gian
thanh toán của Ngân hàng đã thực sự đóng vai trò quan trọng trong hoạt động

bảo lợi ích của ngời nhập khẩu.
+ Uỷ thác thu: Là quá trình đòi một khoản tiền ở ngoài thực hiện, hay
ngời thu lệnh chi trả. Uỷ thác thu phụ thuộc vào chứng từ có thể dùng cho cả
nhập khẩu, xuất khẩu và có thể dới hình thức các hối phiếu thanh toán ngay
hay có kỳ hạn.
+ Dịch vụ về ngoại hối: Thanh toán quốc tế đòi hỏi việc chuyển đổi loại
tiền vay sang loại tiền khác là cần thiết và thờng xuyên diễn ra. Các nhà nhập
khẩu thờng phải mua ngoại tệ cho các nhu cầu thanh toán hàng nhập và các
nhà xuất khẩu có thu về ngoại tệ phải bán ngoại tệ theo quy định về quản lý
ngoại hối của Nhà nớc. Để cung cấp các dịch vụ về ngoại hối, các NHTM
phải dự trữ tiền gửi dới các hình thức, tiền gửi của Ngân hàng nớc ngoài ,
mua bán trên thị trờng ngoại hối liên ngân hàng , mua bán của cá nhân, các
tổ chức kinh tế xã hội có thu ngoại tệ.
Thông qua trung gian là các NHTM, các nhà xuất nhập khẩu còn hạn
chế đợc rủi ro do tỷ giá gây ra, bằng các hợp đồng mua bán ngoại tệ có kỳ
hạn với ngân hàng (Forward).
1.1.3. Mục tiêu và nguyên tắc quản lý tài sản của NHTM.
1.1.3.1. Tài sản của NHTM.
Để khái quát tài sản của NHTM một cách có hệ thống, chúng ta nghiên
cứu bảng tổng kết tài sản của ngân hàng . Dới đây là việc dẫn bảng tổng kết
tài sản của một NHTM:

12
Biểu số 1.1: Bảng quyết toán tài sản của NHTM
Khoản Mục
1. Tổng tài sản Có:
Tiền mặt và tơng đơng tiền mặt
Tiền gửi tại NHNN
Tiền gửi tại các TCTD
Cho vay

13
mở tài khoản một lệnh thanh toán (Séc, uỷ nhiệm chi ...) ngân hàng lập tức
thanh toán theo yêu cầu và theo lệnh thanh toán đã nhận đợc.
Tiền gửi trên tài khoản thanh toán là tài sản có đối với ngời gửi, ngợc
lại đối với ngân hàng là ngời có nghĩa vụ thanh toán số vốn đó theo yêu cầu
của ngời gửi, nên số vốn đó với ngân hàng là tài sản nợ. Vốn tiền gửi loại này
đối với hoạt động ngân hàng là loại vốn có chi phí thấp nhất và với những
ngời gửi tiền, họ thờng không quan tâm đến số lãi mà chỉ quan tâm đến tính
lỏng có thể dùng trong quan hệ thanh toán, chi trả ở các nớc kinh tế phát
triển gửi loại này thờng không đợc hởng lãi.
- Tiền gửi định kỳ và tiền gửi tiết kiệm: Đây là nguồn vốn quan trọng
nhất của ngân hàng, nó có đặc tính là đợc hởng lãi, loại tiền gửi này thờng
nhạy cảm với lãi suất các ngân hàng huy động nh: Tiền gửi tiết kiệm, kỳ
phiếu, trái phiếu, trái phiếu ngân hàng ...Có những chi nhánh NHTM nguồn
vốn này chiếm trên 90% nguồn vốn huy động.
- Các khoản tiền vay:
Nguồn vốn này chiếm khoảng 10% tổng tài sản Nợ (NHCT Việt Nam).
Trong quá trình hoạt động, các NHTM cũng nh các doanh nghiệp hoạt động
sản xuất kinh doanh, không phải lúc nào cũng biến tạo cho mình có đợc
nguồn vốn thoả mãn nhu cầu kinh doanh và thanh toán, mà thờng diễn ra
hiện trạng thừa vốn, thiếu vốn tạm thời. Quan hệ vay vốn giữa các TCTD với
nhau và NHNN nhằm bình đẳng sự thiếu hụt và thừa vốn tạm thời trên. Ưu
điểm của quan hệ này là giảm chi phí cho các NHTM do phải tìm kiếm nguồn
vốn bổ xung.
- Vốn của NHTM:
Vốn tự có của Ngân hàng tức là tài sản thực của ngân hàng đó, nó đợc
tạo ra bằng cách bán cổ phần (phát hành cổ phiếu mới), lợi tức giữ lại. Vốn tự
có là thành phần quan trọng trong tổng tài sản Nợ của ngân hàng, lãi đợc coi
nh phần đệm an toàn để chống đỡ rủi ro trong kinh doanh.


15
Tiền cho vay là khoản nợ của các doanh nghiệp, cá nhân nhng là tài
sản có của ngân hàng, vì nó mang lại thu nhập cho ngân hàng. Tiền cho vay
có tính kém lỏng, rủi ro cao, bởi nó khó chuyển thành tiền mặt trớc khi mãn
hạn.
- Những tài sản Có khác:
Nh trụ sở, trang thiết bị, phơng tiện do các ngân hàng sở hữu.
1.1.3.2. Mục tiêu quản lý tài sản của NHTM.
- Lợi nhuận: Mục tiêu lớn nhất của hoạt động kinh doanh ngân hàng là
lợi nhuận. NHTM với t cách là những tổ chức kinh doanh vì lợi nhuận vậy có
thể cho rằng lợi nhuận là mục tiêu của quản lý tài sản sử dụng trong hoạt động
kinh doanh.
- Phát triển nền kinh tế: Ngân hàng nói chung là một ngành kinh tế
quan trọng có tác động rất lớn đến sự phát triển của nền kinh tế mỗi nớc, vậy
xác định mục tiêu là cơ sở xây dựng mô hình quản lý, điều hành hoạt động
của chúng . Việc phân tích các quan hệ, triển khai hoạt động, kiểm tra sự hoạt
động của các nhân tố trong mô hình đều hớng tới mục tiêu xác định và để đạt
mục tiêu phải tuân theo những nguyên tắc nhất định; đó là nguyên tắc quản lý,
trên nguyên tắc này xây dựng, lựa chọn phơng pháp quản lý.
- Mở rộng uy tín trong nớc và trên trờng quốc tế: Hoạt động ngân
hàng là một loại hình hoạt động phức tạp, có tính nhạy cảm cao đối với mọi
hoạt động kinh tế- xã hội nói chung, mặt khác có tính dây chuyền vì hoạt
động ngân hàng trên nền tảng là lòng tin. Nếu một chi nhánh của NHTM mất
khả năng thanh toán, sự an toàn bị đe doạ dẫn đến mất lòng tin đối với khách
hàng, lập tức các dòng tiền đợc rút ra khỏi ngân hàng, tạo nguy cơ mất khả
năng thanh toán cao chi phí (Thất bại) lớn cho ngân hàng vay, lan truyền trong
hệ thống (sự đổ vỡ hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân ở Việt Nam cuối những
năm 80 thế kỷ XX). Gây mất uy tín của ngân hàng Việt Nam trên thị trờng
quốc tế, ảnh hởng tới khả năng phát triển cũng nh lợi nhuận của ngân hàng.


17
buộc trong phạm vi quy định, có thể cơ hội thu lợi nhuận giảm (nếu hệ thống
pháp lý thiếu đồng bộ, quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp không đợc
cho phép đầy đủ, nhất là những doanh nghiệp Nhà nớc), tuy vậy lại có tính
phát triển an toàn, ổn định cao.
+ Khó khăn khi tuân thủ pháp luật là tính trễ của luật pháp so với thực
tại hoạt động kinh tế- xã hội, trong chừng mực nào đó làm qua đi cơ hội kinh
doanh.
+ Mâu thuẫn giữa quản lý nhà nớc với mục tiêu lợi nhuận của doanh
nghiệp, mâu thuẫn này cha đợc xử lý thoả đáng bằng các điều khoản luật
pháp.
- Đảm bảo khả năng thanh toán của các NHTM bằng quản lý các dự
trữ và quản lý khả năng thanh khoản của tài sản.
Hoạt động của các NHTM về cơ bản là sự vận động các dòng tiền liên
tục thu nhận vào ngân hàng và chi trả các dòng tiền rút ra. Việc quản lý các
nguồn dự trữ để đảm bảo cho thanh toán là yêu cầu đầu tiên, đó là việc các
ngân hàng duy trì các nguồn tiền mặt, kể cả nguồn dự trữ pháp định và các tài
sản có tính lỏng khác sao cho thoả mãn nhu cầu thanh khoản.
Ngân hàng đảm bảo khả năng thanh toán coi đó nh một nguyên tắc
quản lý tài sản đó là:
Ngân hàng đợc phép nhận tiền gửi và sử dụng nguồn tiền gửi để cấp
tín dụng. Luật pháp bảo hộ quyền lợi cho những nguồn tiền gửi tại ngân hàng
vì các lợi ích xã hội, khi các dòng tiền rút ra khỏi ngân hàng quá lớn, dẫn đến
ngân hàng mất khả năng thanh toán tại thời điểm đó, theo luật định ngân hàng
sẽ áp dụng các chế tài hành chính... Hoạt động kinh doanh ngân hàng bị định
trệ, bởi tập trung của các hoạt động khi đó là việc quản lý tài sản của ngân
hàng để duy trì khả năng thanh toán.
Sự mất khả năng thanh toán ở một chi nhánh ngân hàng có thể dẫn đến
sự phá sản không chỉ ở chi nhánh đó mà nó có tính lan truyền ảnh hởng đến


19
+ Môi trờng pháp lý thiếu đồng bộ, không ổn định làm cho ngân hàng
gia tăng cho phí hoạt động trong việc chỉnh sửa, thay đổi các hoạt động về mặt
pháp lý nhằm thực hiện tuân thủ pháp luật.
+ Rủi ro lãi suất và rủi ro tín dụng tác động ảnh hởng trực tiếp đến
nguồn lực tài chính, thu nhập của ngân hàng (vì lãi suất là giá cả của hàng
hoá, dịch vụ ngân hàng), rủi ro tín dụng làm cho ngân hàng tốn kém chi phí
bù đắp.
Để hạn chế rủi ro, giảm thiểu chi phí, tránh tổn thất cho ngân hàng, các
NHTM áp dụng sự đa dạng hoá hoạt động, chính là đa dạng hoá các tài sản
theo nguyên tắc Không bỏ tất cả trứng vào một rổ. Thay vì tập trung vào
một hay một số hoạt động chuyên môn hoá, tập trung vốn vào một số ít lĩnh
vực kinh doanh ngân hàng mở rộng các hoạt động, để đa dạng hoá các lĩnh
vực kinh doanh, với tập hợp các chuyên môn khác nhau.
- Lấy thu bù chi và có lãi, hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi.
Lấy thu bù chi là nguyên tắc không thể thay thế trong hoạt động kinh
doanh, có thu mới có chi. Chi phí phải tạo ra các nguồn thu mới, thu lớn hơn
chi đảm bảo mức lợi nhuận mong đợi.
Tổng thu - Tổng chi = Lợi nhuận
Đây là nguyên tắc xuyên suốt quá trình thực hiện các chức năng quản lý
từ hoạch định mô hình đến tổ chức, điều hành, kiểm tra, đánh giá.
Vị thế tài chính và sự an toàn hệ thống NHTM qua công thức trên có
thể đánh giá trong suốt kỳ tài chính, (thờng là một năm): Nếu lợi nhuận (lỗ)
khả năng dự trữ tài chính cho phép, hoạt động ngân hàng bình thờng, song
khả năng cạnh tranh bị giảm sút, khó khăn cho kỳ tài chính sau tăng, đến một
thời hạn nhất định hoạt động ngân hàng trở nên đình đốn bị suy kiệt về tài
chính, an toàn hệ thống bị đe doạ.
Nguyên tắc này đợc tham chiếu cho hầu nh tất cả các yêu cầu quản lý
tài sản của NHTM nói chung.


Sự sàng lọc, giám sát của ngân hàng và tập hợp thông tin tạo ra một

21
nguyên tắc quan trọng của việc quản lý các khoản tiền cho vay.
Trong hoạt động cho vay, ngân hàng sử dụng những phơng pháp để
giảm thiểu rủi ro và ít phải can thiệp sâu vào hoạt động của khách hàng bằng
các quan hệ thế chấp bảo lãnh.
Thế chấp là việc sử dụng các loại tài sản nh: Bất động sản, tài sản, giấy
tờ có giá dùng để thế chấp cho khoản vay. Quan hệ này đợc luật định quy
định cụ thể, buộc ngân hàng và ngời vay lựa chọn các hình thức đảm bảo
tiền vay và tuân thủ.
Việc bảo lãnh cho một khoản vay là ngời thứ 3, ngời này đứng ra
cam kết trả nợ thay cho ngời vay, nếu ngời vay không có khả năng hoàn trả
đúng hạn. Các quan hệ bảo lãnh có thể đợc tái bảo lãnh.
1.2. Hiệu quả kinh doanh của NHTM.
Hiệu quả kinh doanh của NHTM đợc xem xét một cách đơn giản và
trực tiếp nhất là lợi nhuận; lợi nhuận đợc xác định trên cơ sở nguồn thu nhập
và chi phí của các NHTM trong kỳ tài chính (thờng là một năm).
1.2.1. Thu nhập của NHTM.
Thu nhập của NHTM bao gồm toàn bộ các khoản thu có thể thu đợc từ
các lĩnh vực kinh doanh ngân hàng và các nghiệp vụ kinh doanh khác liên
quan. Thu nhập ngân hàng là nguồn để trang trải cho các chi phí và tạo ra lợi
nhuận ngân hàng. Các nguồn thu nhập chủ yếu của ngân hàng nh:
- Thu từ hoạt động cho vay:
Là nguồn thu nhập lớn nhất của các NHTM (thờng chiếm trên 60%
tổng thu nhập). Nguồn thu nhập này phụ thuộc vào:
+ Khối lợng tiền cho vay.
+ Lãi suất tiền vay: Lãi suất cho vay do quan hệ cung cầu, cạnh tranh,
mức khống chế của Ngân hàng Trung ơng và thời hạn của khoản tiền vay
quyết định.

giúp các doanh nghiệp lu chuyển tiền bán hàng nhanh, sử dụng vốn của

23
doanh nghiệp có hiệu quả hơn, qua đó ngân hàng thu lợi từ phí và quyền sử
dụng vốn lu ký trên tài khoản trong quá trình thanh toán.
+ Dịch vụ kho quỹ: Là ngân hàng cung cấp và nhận chuyển tiền và
thanh toán bằng tiền mặt cho khách hàng, ngân hàng thu phí trên số tiền rút ra
bằng tiền mặt hay nộp chuyển tiền cho cá nhân.
Ngân hàng sử dụng hệ thống kho quỹ của mình cho thuê, ký thác, nhận
bảo quản tài sản có giá.
- Thu nhập từ nghiệp vụ khác.
Ngoài nguồn thu trên, các ngân hàng còn có các khoản thu khác của
mình, đó là thu từ các hoạt động dịch vụ, uỷ thác, tài trợ thuê mua trực tiếp,
hoạt động kinh doanh hối đoái và các dịch vụ khác nh cung cấp các giấy tờ
in cho khách hàng.
1.2.2. Chi phí của NHTM.
Là toàn bộ chi phí liên quan đến hoạt động của NHTM, ở phần này
chúng ta đề cập đến các khoản chi phí đợc xác định, chi phí trực tiếp và gián
tiếp có liên quan đến toàn bộ hoạt động đợc cấu thành trong tổng chi phí làm
giảm lợi nhuận xác định của ngân hàng.
a. Chi phí trực tiếp cho hoạt động kinh doanh.
Là những khoản chi phí trực tiếp đối với tài sản Nợ và hoạt động cho
vay, đầu t, đây là phần chi chủ yếu trong tổng chi phí.
- Chi trả lãi tiền gửi, tiền vay:
Là khoản chi mà NHTM trả cho những ngời gửi tiền, và những ngời
cho vay, theo mức lãi suất trên số tiền gửi và tiền vay. Khoản mục chi này
thờng chiếm trên 50% tổng chi phí của ngân hàng, nó phụ thuộc vào các yếu
tố:
+ Khối lợng tiền gửi, tiền vay.
+ Lãi suất tiền gửi, tiền vay: Lãi suất thờng biến động và phụ thuộc

+ Chi phí in ấn, thiết bị văn phòng: Các NHTM chi phí khá lớn cho

25
khoản mục này nh đơn từ, văn kiện in sẵn, séc, kỳ phiếu, hồ sơ cho vay...
+ Các chi phí khác: Là những chi phí cần thiết cho hoạt động nh điện,
nớc, xăng dầu vận chuyển, thông tin, báo chí, quảng cáo, tiếp thị, đào tạo...
- Mục cuối cùng của chi phí: Trích lập quỹ dự phòng rủi ro, trích bảo
hiểm tiền gửi.
Việc chống lại các sai lầm và rủi ro trong hoạt động ngân hàng là yêu
cầu không thể thiếu đợc, khi mà các khoản cho vay, các nghiệp vụ kinh
doanh khác luôn tiềm ẩn tỷ lệ rủi ro cao, lập dự phòng để bù đắp cho các tài
sản ngân hàng bị thất thoát, mất khả năng thanh toán do chủ quan của ngân
hàng và khách quan đem lại.
Để đảm bảo an toàn trong thanh toán, chi trả tiền gửi các NHTM tham
gia bảo hiểm tiền gửi vừa tránh rủi ro vừa đảm bảo niềm tin cho khách hàng
gửi tiền.
1.2.3. Lợi nhuận của NHTM.
NHTM là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, tự
chủ về tài chính, nên mục tiêu cao nhất vẫn là tìm kiếm lợi nhuận, lợi nhuận
quyết định sự hng thịnh, đồng thời là chỉ tiêu đánh giá chất lợng hoạt động
của doanh nghiệp.
Quan điểm của các nhà kinh tế coi lợi nhuận là hình thái của giá trị
thặng d, là phần giá trị mới đợc tạo ra thông qua quá trình hoạt động sản
xuất, kinh doanh.
Lợi nhuận theo cách hiểu đơn giản là phần giá trị dôi ra của một hoạt
động kinh doanh, sau khi đã trừ đi mọi chi phí cho hoạt động đó. Hay lợi
nhuận là phần chênh lệch giữa tổng thu nhập và tổng chi phí (lãi ròng) đợc
xác định trong một kỳ tài chính (thờng là một năm).
Tổng thu nhập - Tổng chi phí = Lợi nhuận
(Tổng chi phí, trong đó bao gồm thuế thu nhập)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status