TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
=========000=========
TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Đề tài: Chiến lược thâm nhập của các công ty đa quốc gia vào các nước
đang phát triển và các hình thức thủ đoạn “chuyển giá” của các công ty
ĐQG ở các nước nhận đầu tư
Giáo viên hướng dẫn: Ph.D Nguyễn Thị Lan
Sinh viên thực hiện – Mã SV - STT :
+ Đặng Thị Tình – 1211510067 - 121 (40%)
+ Lê Thị Ngọc Linh – 1211510036 -
75(30%)
+ Đỗ Thị Mĩ Hạnh – 1211510020 - (30%)
Lớp: Anh 2 - Kinh
doanh quốc tế, K51Hà Nội – 30.9.2013
Mục Lục
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, hoạt động của
các công ty đa quốc gia ( MNCs - Multinational Corporations hoặc MNEs –
Multinational Enterprises) đang và sẽ là lực lượng chủ đạo thúc đẩy quá trình toàn cầu
hoá, tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội trên phạm vi quốc tế. Chúng
là lực lượng chủ chốt trong truyền tải khoa học, kỹ thuật và công nghệ, cơ cấu lại nền
kinh tế thế giới và là mẫu hình thực hiện kiểu tổ chức sản xuất hàng hoá hiện đại. Vì vậy,
MNCs đang thâm nhập mạnh mẽ vào tất cả các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là
những quốc gia có nền kinh tế chuyển với chiến lược hết sức phong phú và nhạy bén.
Khi các quan hệ kinh tế được thiết lập đa dạng, có sự liên kết, phối hợp giữa các
chủ thể kinh doanh, thì việc xác định lợi lợi ích ích kinh tế đã vượt ra ngoài phạm vi của
các mối quan hệ kinh tế vượt dần ra khỏi phạm vi quốc gia và gia nhập vào guồng máy
sản xuất kinh doanh quốc tế ngày càng được phát triển.hai nhà nghiên cứu mác và
ăngghen khi nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh đã dự đoán tích tụ và tập
trung cơ bản thông qua hiệp tác giản đơn và công trường thủ công cùng với sự phân công
lao động ngày càng hoàn thiện tất yếu sẽ dẫn đến sự ra đời những xí nghiệp tư bản chủ
nghĩa có quy mô lớnvà sự cạnh tranh của những xí nghiệp này càng trở nên gay gắt .Sự
cạnh tranh giữa các xí nghiệp tất yếu sẽ đưa đến kết quả là các xí nghiệp nhỏ và vừa bị
phá sản hoặc bị sát nhập với nhau để trở thành những xí nghiệp lớn hơn .Chế độ xí
nghiệp là chế độ điển hình sinh ra trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất.Khởi
đầu xí nghiệp ra đời bằng con đương công trường thủ công nhờ sự kết hợp lao động một
khi lao động đã liên kết theo một hình thức nào đó sẽ tạo điều kiện cho việc sáng tạo ra
máy mócvà hợp thành hệ thống sản xuất bằng máy móc chế độ xí nghiệp đã có được cơ
sở vững chắc về kỹ thuật.Với chế độ tự do cạnh tranh của thị trường đã điều tiết sự phân
công và trao đổi của xã hội xí nghiệp và nhà máy cũng nhanh chóng trở thành hình thức
tổ chức sản xuất điển hình để tổ chức sự phân công lao động xã hội .nhờ sự phát
triểnmạnh mẽ của lực lượng sản xuất chế độ xí nghiệp nhà máy đã mở rộng phạm vi lĩnh
vực phân công xã hội từ nội bộ quốc gia sang địa bàn quốc tế.Và do vậy phân công lao
động và trao đổi quốc tế về nguyên vật liệu bán thành phẩm và sản xuất giữa các nước
ngày c14
ng phát triển.
+ Khái niệm: Công ty đa quốc gia, thường viết tắt là MNC (Multinational corporation)
hoặc MNE (Multinational enterprises), là khái niệm để chỉ các công ty sản xuất hay cung
cấp dịch vụ ở ít nhất hai quốc gia; có thể có ảnh hưởng lớn đến các mối quan hệ quốc tế
khi chúng có những tác động kinh tế lớn đến một vài khu vực cùng với những nguồn lực
tài chính dồi dào, phục vụ cho quan hệ công chúng và vận động hành lang chính trị. Công
ty đa quốc gia hoạt động và có trụ sở ở nhiều nước khác nhau. (khác với Công ty quốc tế,
chỉ là tên gọi chung với những công ty nước ngoài tại 1 quốc gia nào đó).
Các công ty đa quốc gia đóng một vai trò quan trọng trong quá trình toàn cầu hóa;
một dạng mới của MNC đang hình thành tương ứng với quá trình toàn cầu hóa – đó là xí
nghiệp liên hợp toàn cầu.
đạt hiệu quả tối ưu để thu lợi nhuận độ quyền cao.TNC được hình thành trực tiếp trên cơ
sở xí nghiệp công thương hiện đại,khi các xí nghiệp công thương hiện đại hưng thịnh
chúng đã bắt đầu ngay vào việc đầu tư ra nước ngoài để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
hoặc sản xuất và tìm mua nguyên liệu.Từ thập kỷ 60 lại đây dưới tác động của sự bùng
nổ cách mạng khoa học kỹ thuật và khoa học công nghệ tnc đã phát triển nhanh
chóng.TNC đã điều chỉnh các hoạt động kinh doanh xây dựng hệ thống phân công quốc
tế kết hợp liên kết theo chiều ngang và dọc trong nội bộ công tycơ cấu tổ chức toàn cầu
của tnc tương ứng ra đời .Từ những điều nêu trên ta có 3 giai đoạn quá trình phát triển
của các công ty xuyên quốc gia đi từ tích tụ và tập trung sản xuất hình thành các công ty
công ty cổ phần các công ty kinh doanh trong ngành công thương Một là quá trình tích
tụ và tập trung sản xuất diễn ra song song với quá trình tích tụ quyền lực kinh tế tích tụ và
tập trung sản xuất tạo ra những công ty cực lớn bao gồm trong đó rất nhiều công ty và
người ta cũng gọi đó là những tập đoàn với công ty mẹ đứng đầu và các công ty
con.Chúng còn được gọi là các công ty nhỏ và vừa chúng phụ thuộc về tài chính kỹ thuật
vào công ty mẹ.Ở một số nước tư bản chủ nghĩa số xí nghiệp nhỏ và vừa chiếm
đến70_80% tổng số các xí nghiệp.sự thâu tóm các xí nghiệp nhỏ và vừa thực hiện kiểm
soát tài chính kỹ thuật đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho tư bản sinh lợi.Nhưng về
mặt tổ chức sản xuất hình thức này tỏ tính hiệu quả cao giảm được chi phí sản xuất tận
dụng được mọi khả năng nguyên liệu phát huy tính năng động sáng tạo do đó làm tăng
quy mô và tỷ suất lợi nhuận.Hai là quá trình tích tụ sản xuất cũng dẫn đến sự hình thành
các tổ chức độc quyền .Độc quyền hiện đại mang nhiều dấu ấn của thời đại cách mạng
khoa học kỹ thuật hiện đại.Hoạt động R&D cũng như chuyển giao công nghệ là thế mạnh
của công ty xuyên quốc gia cùng với mạng lưới thị trường rộng khắp thế giới.ba là quá
trình tích tụ sản xuất trong nông nghiệp ngày càng đẩy mạnh đưa đến việc xuất hiện các
hình thức công ty liên hợp nông công nghiệp nông thương nghiệp.quá trình tích tụ sản
xuất trong nông nghiệpcùng với sự tác động cảu cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại đã
đưa đến hiện tượng cấu tạo hữu cơ tăng lên và giảm ý nghĩa của địa tô tuyệt đối tạo ra
mối liên hệ ngày càng tăng giữa công nông nghiệp đẩy mạng xu hướng giảm tỷ trọng
nông nghiệp trong cơ cấu lao động cũng như trong tổng sản phẩm quốc dân.điều này cho
thấy sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp đã có tác động trở lại thúc đẩy nông nghiệp
toán… có những rủi ro nhất định. Rủi ro thường gặp của các MNC rơi vào 2 nhóm sau:
- Rủi ro trong mua và bán hàng hóa như: thuế quan, vận chuyển, bảo hiểm, chu kỳ
cung cầu, chính sách vĩ mô khác…
- Rủi ro trong chuyển dịch tài chính như: rủi ro khi chính sách của chính quyền địa
phương thay đổi, các rủi ro về tỷ giá, lạm phát, chính sách quản lý ngoại hối,
thuế ,khủng hoảng nợ…
II, Chiến lược thâm nhập của các công ti ĐQG vào các nước đang phát
triển:
1, Chiến lược quốc tế ( The international Strategy):
Sản phẩm được sản xuất tại thị trường nội địa và bán ra thị trường các quốc gia khác
với sự điều chỉnh tối thiểu theo yêu cầu của địa phương. Từng SBU có quyền chủ động
áp dụng chiến lược này.
Chiến lược này ít chịu sức ép giảm chi phí và sức ép của yêu cầu địa phương (vì hoạt
động sản xuất chủ yếu diễn ra trong nước). Nhưng nó nhạy cảm cao đối với các rủi ro về
tỷ giá và rủi ro về chính trị
Đặc trưng:
- Khai thác lợi thế so sánh, vị trí trong nước để biến thành lợi thế cạnh tranh
- Đi vào những thị trường thiếu kĩ năng của MNC. Giá trị được tạo ra bằng sự
chuyển đưa những cốt lõi cạnh tranh từ chính quốc ra nước ngoài – nơi mà đối thủ
cạnh tranh không có khả năng phát triển, đáp ứng, duy trì
- Thường theo một kiểu mẫu giống nhau khi mở rộng thị trường nước ngoài
- Tập trung hóa những chức năng phát triển sản phẩm như R&D tại chính quốc, sản
xuất sản phẩm theo chuwnr mực nhu cầu thị trường nội địa.
- Thiết lập các bộ phận sản xuất, marketing tại những khu vực, quốc gia trọng yếu,
nơi họ kinh doanh quốc tế
- Trụ sở chính kiểm soát chặt chẽ những chiến lược mark và sản phẩm, sự thích ứng
địa phương thực hiện giới hạn.
- Hoạt động quốc tế xếp thứ 2 sau thị trường tại chính quốc
Hạn chế: có thể bỏ sót cơ hội tại thị trường địa phương
2, Chiến lược xuyên quốc gia ( The Transnational Strategy )
vấn đề đảm bảo qui mô lợi suất kinh tế.
- Chuẩn hóa sản phẩm toàn cầu để tối đa lợi nhuận vì khai thác tính quy mô, học tập
kinh tế vùng (vị trí chiến lược).
- Không cố gắng đáp ứng địa phương.
- Thích hợp cho sản phẩm công nghiệp.
- Mục tiêu chiến lược là theo đuổi chiến lược chi phí thấp trên phạm vi toàn cầu để
hỗ trợ “ chiến lược giá công kích ” (aggressive pricing) trên thế giới.
- Phân tán vài hoạt động chủ yếu và hỗ trợ như sản xuất ,marketing ,R&D ở vài vị
trí thuận lợi nhất trên phạm vi toàn cầu (outsource).
- Quyết định tập trung hóa tại trụ sở chính.
Hạn chế: Không phù hợp tại những thị trường cần sự thích ứng cao.
4, Chiến lược đa nội địa (The multi-domestic Strategy):
Những quyết định chiến lược và hoạt động phân chia theo đơn vị kinh doanh từng
quốc gia. Chiến lược này có cơ hội khách hàng hóa cao nhưng hạn chế khai thác quy mô
kinh tế, học tập và phối hợp thông tin
Đặc trưng:
- Tập trung sự cạnh tranh tại từng thị trường
- Thu lợi bằng việc khách hàng hóa sản phẩm đáp ứng yêu cầu thị hiếu của những
thị trường quốc gia khác nhau, dẫn đến gia tăng giá trị sản phẩm tại thi trường
quốc gia địa phương và đẩy giá sản phẩm lên cao
- Mức độ phân quyền cho địa phương cao (gần gũi về vị trí và văn hóa )
- Giá trị được tạo ra bằng việc giao quyền cho nhà QT địa phương để thích ứng với
môi trường kinh tế luật pháp văn hóa địa phương
- Thích hợp khi có nhiều chi nhánh tại các quốc gia và áp lực giảm chi phí không
lớn
- Thích hợp cho sản phẩm tiêu dùng
Hạn chế: chi phí cao
5, Hình thức thâm nhập thị trường của các Công ty đa quốc gia tại Việt Nam:
- Hình thức liên doanh chiếm ưu thế lớn trong những năm đầu:
Ở Việt Nam, những năm đầu mở cửa và hợp tác với nước ngoài (tính từ khi ban hành
liên kết nhằm tối thiểu hóa tổng số thuế phải nộp của các bên. Các bên liên kết ở đây có
thể là các công ty thành viên trong một công ty đa quốc gia, các công ty hoặc đơn vị
thành viên trong một tổng công ty hoặc các công ty độc lập mà chủ sở hữu của chúng có
mối quan hệ đặc biệt thân nhân với nhau. Hành vi đó có đối tượng tác động là giá cả và
được thực hiện thông qua các hợp đồng kinh tế về mua bán hàng hoá, tài sản, cung cấp
dịch vụ.
Cơ sở cho việc chuyển giá xuất phát từ quyền tự do định đoạt trong kinh doanh,
các chủ thể hoàn toàn có quyền quyết định giá cả của một giao dịch kinh tế. Do vậy, họ
hoàn toàn có quyền mua hay bán hàng hóa, dịch vụ với giá họ mong muốn. Quyền này
được pháp luật về kinh doanh của mọi quốc gia thừa nhận, nó chỉ bị hạn chế bởi các quy
định pháp luật có liên quan, chẳng hạn như pháp luật về cạnh tranh, về thương mại hoặc
chính bởi những điều luật về định giá chuyển giao.
2, Động cơ thực hiện chuyển giá:
Động cơ của hành vi chuyển giá chính là lợi nhuận của hoạt động kinh doanh xét
trên phương diện tổng thể. Việc xác định giá giao dịch giữa các thành viên của các bên
liên kết không thay đổi tổng lợi ích chung nhưng có thể thay đổi tổng nghĩa vụ thuế của
họ. Đầu tiên phải kể đến sự khác biệt về thuế suất doanh nghiệp.
Khi phát hiện ra thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp giữa hai quốc gia có sự
khác biệt lớn, với mục tiêu luôn muốn tối đa hóa lợi nhuận của mình các công ty đa quốc
gia (MNC) sẽ tiến hành thực hiện hành vi chuyển giá nhằm mục đích giảm thiểu tối đa
khoản thuế mà MNC này phải nộp cũng như là tối đa hóa lợi nhuận sau thuế của MNC.
Khi có chênh lệch về thuế suất thì thủ thuật chuyển giá mà các MNC thường sử dụng đó
là nâng giá mua đầu vào các nguyên, vật liệu, hàng hóa và định giá bán ra hay giá xuất
khẩu thấp tại các công ty con đóng trên các quốc gia có thuế suất thuế thu nhập doanh
nghiệp cao. Chẳng hạn như, công ty B và C đều là công ty con của tập đoàn A. Công ty B
áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 25%. Công ty C kinh doanh ở địa bàn
kinh tế - xã hội khó khăn nên được áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
10%. Khi B cung cấp vật tư cho C với giá thấp hơn giá thị trường giao dịch sòng phẳng
thì làm cho lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp của B giảm đi, còn lợi nhuận
trước thuế thu nhập doanh nghiệp của C tăng lên tương ứng. Phần lợi nhuận tăng lên ở
có thể được thanh toán sớm hơn nếu các dự báo cho rằng đồng tiền của quốc gia mà
MNC có công ty con sẽ bị mất giá. Và ngược lại các khoản thanh toán sẽ bị trì hoãn nếu
dự báo cho rằng đồng tiền của quốc gia đó có xu hướng mạnh lên. Do tình hình lạm phát
của các quốc gia khác nhau, nếu quốc gia nào có tỷ lệ lạm phát cao tức đồng tiền nước đó
bị mất giá. Do đó MNC sẽ tiến hành hoạt động chuyển giá nhằm bảo toàn lượng vốn đầu
tư và lợi nhuận.
Chi phí cơ hội cũng là một trong các động lực để các MNC thực hiện hành vi
chuyển giá. Các MNC nhận ra rằng các khoản lợi nhuận của họ chỉ có thể chuyển về
nước sau khi kết thúc năm tài chính và sau khi được kiểm tra của cơ quan thuế và chịu sự
kiểm soát ngoại tệ của cơ quan quản lý ngoại hối. Vì vậy, các cơ hội đầu tư có thể sẽ bị
bỏ lỡ. Do đó các MNC sẽ tiến hành thủ thuật chuyển giá nhằm thu hồi nhanh vốn đầu tư
và bắt lấy cơ hội đầu tư khác. Trong các hoạt động liên doanh liên kết với các đối tác
trong nước thì các MNC sẽ định giá thật cao các yếu tố đầu vào mua từ công ty mẹ nhằm
tăng cường tỷ lệ góp vốn và nắm quyền quản lý. Ngoài ra, các MNC có thể cấu kết với
các công ty nước ngoài khác làm lũng đoạn thị trường trong nước.
Ngoài ra, yếu tố tình hình kinh tế-chính trị của quốc gia mà MNC có chi nhánh
hay công ty con. Các chính sách kinh tế thay đổi ảnh hưởng đến quyền lợi của các công
ty con của MNC thì MNC sẽ thực hiện các hành vi chuyển giá nhằm chống lại các tác
động. Hoặc nếu tình hình chính trị bất ổn, để giảm rủi ro và bảo tồn vốn kinh doanh bằng
cách chuyển giá thì MNC muốn thu hồi vốn đầu tư sớm.
Ngoài ra hoạt động chuyển giá cũng nhằm làm giảm các khoản lãi từ đó giảm áp
lực đòi tăng lương của lực lượng lao động, cũng như giảm sự chú ý của các cơ quan thuế
của nước sở tại.
Bên cạnh đó những động cơ bên ngoài đó, chuyển giá còn được thực hiện do một
số động cơ bên trong. Khi các hoạt động sản xuất kinh doanh của MNC tại chính quốc
hay tại các công ty thành viên trên các quốc gia khác bị thua lỗ. Lý do dẫn đến sự thua lỗ
có thể là do sai lầm trong kế hoạch kinh doanh, sai lầm trong việc nghiên cứu và đưa sản
phẩm mới vào thị trường, các chi phí quản lý hay chi phí quảng cáo, quảng bá sản phẩm
quá cao dẫn đến kết quả kinh doanh bị thua lỗ. Để tạo ra một bức tranh tài chính tươi
sáng hơn cho công ty khi đứng trước các cổ đông và các bên hữu quan khác thì chuyển
thực hiện nghĩa vụ về thuế đối với quốc gia mà mình đặt trụ sở, trong trường hợp các
quốc gia này có chính sách tiền tệ thắt chặt. Chuyển giá giúp MNC không bỏ lỡ các cơ
hội kinh doanh và đầu tư, nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường nội địa, đánh bật và thâu
tóm các công ty nhỏ lẻ trong nước.
Thông qua việc bán các tài sản, thiết bị lỗi thời với giá cao thì một mặt giúp các
công ty tại chính quốc thay đổi được công nghệ với chi phí thấp, mặt khác lại giúp thu
hồi vốn đầu tư nhanh tại các quốc gia tiếp nhận đầu tư. Chuyển giá còn giúp các MNC
tránh được các rủi ro trong hoạt động nghiên cứu và phát triển sản phẩm vì các hoạt động
này thường tốn nhiều chi phí và khả năng thành công không cao. MNC sẽ giảm được một
số các rủi ro về tỷ giá, rủi ro về thị trường tiêu thụ sản phẩm, rủi ro về tính ổn định của
nhà cung cấp nguyên vật liệu và chất lượng nguyên vật liệu và một số rủi ro khác.
Tuy nhiên, các MNC có nguy cơ phải gánh chịu những hình phạt nghiêm khắc của
quốc gia sở tại và các quốc gia có liên quan nếu việc chuyển giá bị phát hiện. Các MNC
sẽ bị phạt một số tiền rất lớn, có khả năng bị rút giấy phép kinh doanh và chấm dứt mọi
hoạt động sản xuất kinh doanh tại quốc gia đó. Bên cạnh đó uy tín của các MNC trên
thương trường quốc tế cũng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng và là tâm điểm chú ý của các
cơ quan thuế của các quốc gia khác mà MNC có trụ sở.
Đối với các quốc gia liên quan:
Các MNC với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận có thể thực hiện mọi phương thức
chuyển giá và gây ra hậu quả nghiêm trọng và lâu dài đối với nền kinh tế của không chỉ
các quốc gia tiếp nhận đầu tư mà còn cả với các quốc gia xuất khẩu đầu tư, tùy thuộc vào
chênh lệch thuế suất giữa hai quốc gia.
Đầu tiên, chuyển giá làm thất thu ngân sách nhà nước. Đây có thể coi là tác động
hiển nhiên vì với việc doanh nghiệp được lợi về thuế thì phần thuế lẽ ra có thể thu được
theo Luật đã không được nộp vào ngân sách nhà nước. Ví dụ như ở Việt Nam, năm 2009
có tới 56% doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động kinh doanh kê khai
lỗ. Tất nhiên, có thể có trường hợp lỗ thật và số lỗ này có thể có nhiều nguyên nhân,
nhưng không thể loại trừ khả năng chuyển giá, bởi vì, nếu đó là lỗ thực sự thì không thể
có chuyện các nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục gia tăng đầu tư vào Việt Nam. Và thực tế
cũng cho thấy trong rất nhiều trường hợp, các nhà đầu tư nước ngoài đã xác định giá
1, Chuyển giá thông qua tài sản hữu hình:
Tài sản cố định hữu hình: là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất
(từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản
liên kết với nhau để thực hiện một hay một số chức năng nhất định) thoả mãn các tiêu
chuẩn của tài sản cố định hữu hình (bao gồm: chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong
tương lai từ việc sử dụng tài sản đó, nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin
cậy, có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên và có giá trị), tham gia vào nhiều chu kỳ kinh
doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như nhà cửa, vật kiến trúc, máy
móc, thiết bị
Chuyển giá thông qua tài sản hữu hình là thủ đoạn chuyển giá chính của các công
ty đa quốc gia trên thế giới bằng cách định giá thật cao các tài sản cố định chuyển giao
cho các thành viên hoặc công ty con ở các quốc gia có thuế suất cao. Giá chuyển giao này
thường cao gấp nhiều lần giá trị thực của nó, vì vậy mà công ty có thể chuyển một phần
thu nhập ra nước ngoài. Vì vậy mà thu nhập chịu thuế sẽ giảm. Khi thực hiện hành vi
này, các công ty đa quốc gia một mặt tiết kiệm được chi phí thanh toán các tài sản cố
định lỗi thời, một mặt lại chuyển được thu nhập về quốc gia có thuế suất thấp, từ đó tối
đa hóa lợi nhuận của công ty mẹ.
Nhiều người sẽ lầm tưởng, nếu như một phần thu nhập được công ty con chuyển
ra nước ngoài cho công ty mẹ thì công ty mẹ vẫn phải nộp thuế cho nước của công ty mẹ,
như vậy thì có khác gì đâu. Trên thực tế, thuế thu nhập doanh nghiệp đánh cả vào thu
nhập ở trong lẫn ngoài nước, cho nên nếu lợi nhuận của công ty mẹ phát sinh ở nước
ngoài thì vẫn phải đóng thuế. Tuy nhiên các nước có thỏa thuận với nhau về thuế suất mà
doanh nghiệp phải nộp.Giả sử nước A thu thuế thu nhập là 28% doanh thu sau khi trừ đi
các khoản khác, mức thuế của nước B là 25%. Ở nước A có công ty X, công ty X mở
công ty con tại nước B. Vậy số thuế mà công ty con phải nộp cho nước B là 25%, lợi
nhuận sau đó chuyển về công ty mẹ ở nước A phải chịu 3% thuế (28-25=3). Trường hợp
ngược lại, nước ở công ty con có mức thuế cao hơn mức thuế ở công ty mẹ thì lợi nhuận
chuyển về được miễn thuế do đã đóng thuế ở nước công ty con rồi. Với ví dụ trên thì
nghĩa là nếu nước A có mức thuế 25%, nước B có mức thuế 28%, công ty con đóng 28%
xong chuyển lợi nhuận về công ty mẹ thì công ty mẹ ko phải đóng thuế (25-28= -3%, ko
làm tối thiểu hóa khoản thuế phải nộp, đồng thời việc phân bổ các nguồn chi phí là do
chủ quan của các công ty nên đây cũng được coi là một thủ đoạn chuyển giá.
Ví dụ về chuyển giá thông qua tài sản cố định vô hình
Tập đoàn viễn thông WorldCom từng là công ty viễn thông đường dài lớn thứ 2 tại
Mỹ sau AT&T. WorldCom đã sáng tạo trong việc sử dụng chuyển giá cho một loạt các
nhãn hiệu, tên thương mại, bí mật thương mại, thương hiệu, nhãn hiệu dịch vụ và quyền
sở hữu trí tuệ.
Với mức phí là 9,2 triệu USD, công ty kiểm toán KPMG đã khuyên công ty nên
tăng thu nhập sau thuế bằng cách áp dụng một chương trình chuyển nhượng tài sản vô
hình. Theo đó, công ty sẽ tạo ra tài sản được gọi là “Management Foresight”, một tài sản
vô hình chưa từng được biết đến. Công ty mẹ đã thực hiện chương trình này để được
hưởng một quyền chịu thuế thấp và đã cho phép các công ty con của nó chuyển đổi các
khoản thanh toán phí bản quyền hàng năm, sự thỏa thuận này dự kiến sẽ tiết kiệm được
25 triệu USD tiền thuế trong năm đầu tiên và 170 triệu USD trong khoảng hơn 5 năm.
Tuy nhiên, sau scandal gian lận kế toán trị giá 11 tỉ USD, WorldCom đã nộp đơn
xin phá sản vào ngày 21/7/2002. Kết quả giám định phá sản của WorldCom cho thấy
rằng trong một vài trường hợp việc tính tiền bản quyền đã thực sự vượt quá thu nhập ròng
hợp nhất của công ty trong mỗi năm của giai đoạn 1998-2001 và trong những trường hợp
khác chiếm tới 80-90% thu nhập ròng của công ty con. Trong khoảng thời gian bốn năm
từ 1998-2001, phí bản quyền cho việc sử dụng tài sản vô hình của công ty và hầu hết các
khoản phí từ việc chương trình “Management Foresight” là hơn 20 tỷ USD. Các công ty
con đã biến chi phí bản quyền thành một chi phí hợp lý và đủ điều kiện được giảm thuế
do đó số tiền thu nhập của công ty bị đánh thuế ở tỷ lệ thấp. Một thỏa thuận chuyển giá
như vậy có thể giúp công ty tiết kiệm từ 100 triệu đến 350 triệu USD tiền thuế.
Vụ phá sản của WorldCom đã trở thành một trong những vụ phá sản đình đám
nhất lịch sử cũng như là một vụ lừa đảo bê bối nhất. Bernie Ebbers – Tổng giám đốc điều
hành của tập đoàn viễn thông WorldCom cũng đã bị lĩnh án 25 năm tù giam vì hành vi
lừa đảo của mình.
3, Chuyển giá thông qua việc mua nguyên nhiên liệu và bán thành phẩm
Đây là thủ đoạn chuyển giá mà trong đó, công ty con sẽ mua nguyên nhiên liệu
Canada từ năm 1981. Nhà máy sản xuất ranitidine chủ yếu được những công ty liên kết
tại Anh vài Singapore, sau đó được bán cho Adechsa, một công ty liên kết khác tại Thụy
Sĩ nhằm mục đích kinh doanh ranitidine cho các công ty không liên kết khác với mức giá
được chỉ định bởi công ty mẹ ở Anh quốc.
Trong khoảng thời gian từ năm 1990 đến 1993, Glaxo Canada nhập ranitidine sử
dụng cho việc sản xuất và bán Zantac ở Canada, việc mua bán này diễn ra theo thỏa
thuận cung ứng (supply agreement) được kí kết vào năm 1983 giữa Glaxo Canada và
Adechsa.
Glaxo Canada mua ranitidine từ Adechsa với giá giao động từ 1512$ đến 1651$/
kg. Trong khi đó, những nhà sản xuất khác chỉ phải mua vào với giá thấp hơn khoảng 5
lần (từ 194$/kg đến 304$/kg). Glaxo Canada cứ tiếp tục mua vào với mức giá cao theo
thỏa thuận từ trước, dẫn đến báo cáo lợi nhuận thấp và thậm chí còn dẫn đến thua lỗ ở
Canada.
CRA (Canada revenue agency - Cơ quan thuế Canada) đã quyết định đánh giá lại
mức thuế của Glaxo Canada trong khoảng thời gian từ năm 1990 đến 1993, mở ra một
loạt phiên tòa xét xử, bắt đầu từ 30/5/2008 với cho đến phiên tòa cuối cùng ngày
18/10/2012 diễn ra tại tòa án tối cao Canada.
Hình thức chuyển giá này khá là phổ biến ở các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
tại Việt Nam; CocaCola là một ví dụ điển hình.
CocaCola Chương Dương là một liên doanh giữa hai đối tác là Công ty nước giải
khát Chương Dương và Tập đoàn CocaCola Indochina PTE.LTD, được cấp phép hoạt
động chính thức vào ngày 27/9/1995, với số vốn đầu tư là 48,7 triệu đồng.
Ở Cocacola, hơn 40% chi phí cho nguyên vật liệu được nhập từ công ty mẹ, mà
đối với ngành sản xuất nước giải khát thì chi phí nguyên vật liệu chiếm một tỉ trọng rất
lớn trong tổng chi phí (khoảng 50%); điều đó cũng đồng nghĩa với việc giá trị nguyên
liệu nhập khẩu từ công ty mẹ, tiềm ẩn nguy cơ các doanh nghiệp tiến hành chuyển giá để
tránh thuế thu nhập doanh nghiệp.
Thực tế báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của công ty cho thấy tỉ trọng chi phí
nguyên vật liệu chiếm hơn 60% tổng chi phí của toàn doanh nghiệp, đây là một con số
quá cao, phù hợp với đặc điểm của ngành.
lãi suất rất cao nhằm giảm lợi nhuận thu được. Có trường hợp công ty mẹ sẽ bảo lãnh cho