Trờng đại học kinh tế quốc dân
***
TIểU LUậN
tài chính ngân hàng và sự phát triển
Đề tài:
Thực trạng và giải pháp phát triển thị trờng trái
phiếu
ở việt nam hiện nay
Nhóm học viên
: đàO THị THU HIềN
: lÊ Việt hồng
: đỗ minh quân
: nguyễn thu thủy
: tháI ngọc tuyết
: trần thị thanh vân
Lớp
: cao học k19a
Giáo viên hớng dẫn
: ts. đặng anh tuấn
hµ néi - 07/2011
2
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Vốn có vai trò tiên quyết để phát triển kinh tế. Phát triển thị trường vốn Việt
Nam, trong đó thị trường chứng khoán đóng vai trò chủ đạo, đây là kênh dẫn vốn nhanh
để phát triển nền kinh tế đất nước.
Đến nay, thị trường chứng khoán Việt Nam đã hoạt động được hơn chục năm, đã
có những bước phát triển cả về quy mô và chất lượng hàng hóa, tiến tới phù hợp với cơ
chế thị trường và thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh các hoạt động mua bán giao
dịch cổ phiếu sôi động thì thị trường trái phiếu vẫn chưa thật sự thu hút được các nhà
xác định số lợi tức tiền vay mà người phát hành phải trả. Mệnh giá cũng thể hiện số tiền
người phát hành phải hoàn trả khi trái phiếu đến hạn.
- Lãi suất:
Lãi suất Trái phiếu thường được ghi trên Trái phiếu. Lãi suất này được xác định
theo tỉ lệ % với mệnh giá của Trái phiếu và cũng là một căn cứ để xác định lợi tức trái
phiếu. Lãi suất của các trái phiếu rất khác nhau, được qui định bởi các yếu tố: Cung-
Cầu vốn trên thị trường, mức độ rủi ro của nhà phát hành và của từng đợt phát hành,
thời gian đáo hạn của trái phiếu. Yếu tố cốt lõi quy định lãi suất của từng trái phiếu là
cung cầu vốn trên thị trường. Lượng cung cầu vốn đó lại tuỳ thuộc vào chu kỳ kinh tế,
động thái chính sách của Ngân hàng Trung ương, mức độ thâm hụt ngân sách của chính
phủ và phương thức tài trợ thâm hụt đó. Cấu trúc rủi ro của lãi suất sẽ quy định lãi suất
của mỗi trái phiếu cụ thể được xác định theo tổng mức rủi ro của trái phiếu đó. Rủi ro
2
càng lớn lãi suất càng cao. Nếu các trái phiếu có mức rủi ro như nhau, nhìn chung, thời
gian đáo hạn càng dài thì lãi suất càng cao.
- Thời hạn của trái phiếu:
Là khoảng thời gian từ ngày phát hành đến ngày người phát hành hoàn trả tiền
vốn lần cuối. Ngày mà khoản vốn gốc trái phiếu được thanh toán lần cuối được gọi là
ngày đáo hạn của trái phiêú. Trái phiếu có các thời hạn khác nhau. Trái phiếu ngắn hạn
có thời gian dưới 1 năm, trái phiếu trung hạn có thời gian từ 1 năm đến 5 năm. Trái
phiếu dài hạn có thời gian từ 5 năm trở lên.
- Kì trả lãi:
Là khoảng thời gian người phát hành trả lãi cho người nắm giữ trái phiếu. Tại
nhiều nước lãi suất trái phiếu được xác định theo năm, nhưng việc thanh toán lãi trái
phiếu thường được thực hiện 6 tháng một lần.
- Giá phát hành:
Là giá bán ra của trái phiếu vào thời điểm phát hành. Thông thường giá phát
hành được xác định theo tỷ lệ phần trăm (%) của mệnh giá. Tùy theo tình hình của thị
trường và của người phát hành để xác định giá phát hành một cách thích hợp. Có thể
phân biệt 3 trường hợp:
- Trái phiếu của ngân hàng và các tổ chức tài chính: Các tổ chức này có thể phát
hành trái phiếu để tăng thêm vốn hoạt động.
- Trái phiếu Doanh nghiệp: là loại trái phiếu do Doanh nghiệp phát hành để huy
động thêm vốn kinh doanh. Trái phiếu doanh nghiệp có nhiều loại rất đa dạng và phong
phú.
c. Căn cứ theo lợi tức trái phiếu
- Trái phiếu có lãi suất cố định: Là loại trái phiếu mà lợi tức được xác định theo
một tỉ lệ % cố định tính theo mệnh giá.
- Trái phiếu có lãi suất biến đổi (lãi suất thả nổi): Là loại trái phiếu mà lợi tức
được trả trong các kì có sự khác nhau được tính theo một lãi suất có sự biến đổi theo
một lãi suất tham chiếu.
- Trái phiếu có lãi suất bằng không: Là loại trái phiếu mà người mua không
nhận được lãi, nhưng được mua với giá thấp hơn mệnh giá (mua chiết khấu) và được
hoàn trả bằng mệnh giá khi trái phiếu đó đáo hạn.
d. Căn cứ theo tính chất của trái phiếu
- Trái phiếu có thể chuyển đổi: Là một loại trái phiếu của công ty cổ phần cho
phép trái chủ quyền được chuyển đổi trái phiếu sang cổ phiếu của công ty phát hành. Tỷ
4
lệ chuyển đổi và kỳ hạn chuyển đổi được ấn định ngay từ lúc phát hành trái phiếu và
chỉ thay đổi khi công ty phát hành có sự tách hay gộp cổ phiếu.
- Trái phiếu có quyền mua cổ phiếu: Là một loại trái phiếu có kèm theo phiếu
cho phép người chủ sở hữu quyền được mua một số lượng cổ phiếu nhất định của công
ty phát hành với một giá đã được xác định và vào những thời kì nhất định.
- Trái phiếu có thể mua lại: Là loại trái phiếu cho phép nhà phát hành được
quyền mua lại một phần hay toàn bộ trước khi trái phiếu đến hạn thanh toán.
e. Căn cứ theo mức độ đảm bảo thanh toán của người phát hành
- Trái phiếu bảo đảm: Là loại trái phiếu mà người phát hành dùng một tài sản có
giá trị làm vật đảm bảo cho việc phát hành. Khi nhà phát hành mất khả năng thanh toán,
thì trái chủ có quyền thu và bán tài sản đó để thu hồi lại số tiền người phát hành còn nợ.
Trái phiếu bảo đảm thường bao gồm một số loại chủ yếu sau:
vốn, giảm áp lực cầu tiền mặt của nền kinh tế, ổn định môi trường tiền tệ, góp phần
nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính trong nước.
- Thị trường trái phiếu phát triển làm cho thị trường vốn hoàn thiện và đa dạng
hơn.
Thị trường trái phiếu có quy mô và độ sâu để hỗ trợ tốt hơn nhu cầu vốn đầu tư
dài hạn trong nền kinh tế, góp phần tạo ra một cấu trúc thị trường vững chắc mà nó dựa
trên cơ sở cân đối giữa thị trường vay nợ ngân hàng, thị trường trái phiếu và thị trường
cổ phiếu trong tương lai. Thị trường trái phiếu thúc đẩy sự phát triển bền vững, ổn định
của thị trường vốn.
- Thị trường trái phiếu giúp Chính phủ thực thi có hiệu quả chức năng quản lý vĩ
mô nền kinh tế- xã hội.
Đối với Chính phủ, một trong những chức năng nhiệm vụ quan trọng là quản lý
vĩ mô nền kinh tế đảm bảo vai trò của “người trọng tài” tạo môi trường bình đẳng,
thuận lợi cho toàn bộ nền kinh tế- xã hội phát triển bền vững. Thông qua phát hành trái
phiếu và đầu tư bằng vốn Trái phiếu Chính phủ góp phần nâng cao hiệu quả của việc
phân phối và tái phân phối nguồn lực tài chính, định hướng hoạt động đầu tư trong nền
kinh tế.
1.2.2.2. Đối với doanh nghiệp
Mọi doanh nghiệp đều có nhu cầu to lớn về vốn để vận hành và phát triển. Đối
với doanh nghiệp, thường có ba cách để huy động vốn: vay ngân hàng, phát hành trái
phiếu và phát hành cổ phiếu. Đối với từng phương thức huy động vốn đều có những thế
mạnh riêng, tùy theo tình hình cụ thể của nền kinh tế và của doanh nghiệp, để từ đó
doanh nghiệp đưa ra quyết định phương thức tài trợ tối ưu nhất.
Phát hành trái phiếu với các ưu điểm:
6
- Thứ nhất, phát hành trái phiếu đảm bảo cho doanh nghiệp được sử dụng một
nguồn vốn ổn định và dài hạn, trong khi vay ngân hàng thường là ngắn hạn hơn.
- Thứ hai, trong trường hợp doanh nghiệp cần vốn nhưng ngại phát hành cổ
phiếu rộng rãi vì sợ phát hành thêm cổ phiếu sẽ làm pha loãng quyền sở hữu trong
doanh nghiệp, hoặc doanh nghiệp có dự án tốt, nhưng không muốn phát hành cổ phiếu,
7
các quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm. Tuy nhiên những người này không phải là những
người trực tiếp giao dịch trên thị trường, mà mọi nhu cầu mua, bán trái phiếu của họ
phải do một loại người khác có chuyên môn đảm nhiệm. Đó là những người môi giới
chứng khoán.
- Người kinh doanh và môi giới chứng khoán:
Trái phiếu là một loại hàng hoá có tên là chứng khoán do đó những người kinh
doanh và môi giới trái phiếu cũng là những người kinh doanh và môi giới chứng khoán.
Họ là những người có chuyên môn cao và rất thành thạo trong phân tích và giao dịch
chứng khoán.
- Người tổ chức thị trường:
Sở giao dịch Chứng khoán là một công ty cổ phần có nhiệm vụ tạo ra địa điểm
giao dịch, mua sắm trang thiết bị phục vụ giao dịch và tổ chức các hoạt động giao dịch,
sẽ đóng vai trò là người tổ chức thị trường. Ở Việt Nam, UBCKNN sẽ tổ chức
TTGDCK. Trung tâm này đóng vai trò là người tổ chức thị trường.
- Người điều hoà và quản lý thị trường:
Ở Việt Nam chức năng này do UBCKNN đảm nhiệm.
1.2.4. Điều kiện phát hành trái phiếu ra công chúng
- Là công ty Cổ phần, công ty Trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp Nhà nước có
mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký phát hành tối thiểu là 10 tỷ đồng Việt
Nam.
- Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký phát hành phải có lãi.
- Có phương án khả thi về việc sử dụng và trả nợ vốn thu được từ đợt phát hành
trái phiếu.
- Phải có tổ chức bảo lãnh phát hành.
- Tổ chức phát hành trái phiếu phải xác định đại diện người sở hữu trái phiếu.
1.2.5. Điều kiện niêm yết trái phiếu
- Là công ty Cổ phần, công ty Trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp Nhà nước có
vốn điều lệ đã góp tại thời điểm xin phép niêm yết từ 10 tỷ đồng Việt Nam trở lên.
- Hoạt động kinh doanh có lãi 02 năm liên tục liền trước năm xin phép niêm yết
thị trường trái phiếu hoạt động kém hiệu quả.
2.1.2. Phân tích thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam hiện nay
2.1.2.1. Trái phiếu Chính phủ
Hoạt động phát hành TPCP qua hệ thống KBNN đã được thực hiện từ năm 1991.
Hiện nay phát hành TPCP thông qua 2 phương thức: Phương thức đấu thầu qua TTCK
và bảo lãnh phát hành. TPCP được Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng phát triển Việt
9
Nam phát hành hàng năm với khối lượng chủ yếu thông qua các kênh bảo lãnh phát
hành và đấu thầu qua TTCK. TPCP niêm yết tại các TTGDCK chiếm khoảng 82% thị
trường trái phiếu Việt Nam.
Giai đoạn 2000- 2005 được xem là giai đoạn hình thành và khởi động TTCK
Việt Nam. Do thị trường mới đi vào hoạt động nên việc tham gia đấu thầu còn mang
tính thăm dò. Tổng giá trị gọi thầu thành công đang còn thấp. Năm 2006 cùng với sự
bùng nổ của TTCK và thực hiện quyết định 2276/QĐ-BTC ngày 20/6/2006 của Bộ tài
chính về tập trung đấu thầu TPCP tại trung tâm giao dịch Chứng khoán Hà Nội. Giá trị
TPCP trúng thầu năm 2006 khoảng 7.885 tỷ gấp 3,3 lần so với năm 2005. Ðầu năm
2007, KBNN đã phát hành thành công TPCP theo lô lớn đầu tiên có tổng khối lượng
tính theo mệnh giá là 1.000 tỷ đồng, được phát hành thành ba đợt vào các ngày
19/03/2007, 27/04/2007 và 17/05/2007, có cùng ngày đến hạn thanh toán là
19/03/2012, lãi suất thanh toán hằng năm (7,8%/năm). Tuy nhiên đến cuối năm 2007
thì khối lượng TPCP phát hành thành công giảm một cách đáng kể. Việc đấu thầu
không thành công đã làm cho các đợt phát hành TPCP không phát hành được. Năm
2008, HASTC đã tổ chức được 44 đợt đấu thầu trái phiếu, huy động được 7.008 tỷ đồng
trên tổng số 31.700 tỷ đồng gọi thầu như vậy tỷ lệ vốn huy động được chỉ bằng 22.1%
kế hoạch và bằng 36.9% tổng huy động vốn năm 2007.
Năm 2009, tỷ lệ đấu thầu thành công thấp. Theo báo cáo của Ngân hàng Đầu tư
& Phát triển Việt Nam, chỉ có khoảng 5.000 tỷ đồng trái phiếu huy động được trên tổ số
71.400 tỷ đồng đưa ra gọi thầu. Ngày 11/08/2009, 3000 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ do
Ngân hàng Chính sách xã hội phát hành, có 4 thành viên tham gia đấu thầu, tổng số tiền
đăng ký là 185 tỷ đồng, lãi suất đăng ký thấp nhất là 9,50%/năm; lãi suất đăng ký cao
đồng, chưa tới 20% khối lượng dự kiến phát hành tối thiểu là 85.000 tỷ đồng.
Cùng với việc triển khai phương thức đấu thấu TPCP qua TTGDCK, BTC đã
thực hiện việc phát hành TPCP theo phương thức bảo lãnh phát hành kể từ tháng
09/2000.
Tính đến hết năm 2010, TPCP do KBNN phát hành theo phương thức bảo lãnh
phát hành đạt giá trị khoảng 70 nghìn tỷ và TPCP do NHPT Việt Nam phát hành qua
bảo lãnh đạt giá trị khoảng 80 nghìn tỷ. Về thành viên tham gia, có 46 thành viên bảo
lãnh phát hành TPCP, trong đó có 24 thành viên là NHTM. Với lợi thế về đặc trưng của
phương thức bảo lãnh phát hành, lãi suất trái phiếu được hình thành trên cơ sở thỏa
thuận giữa tổ chức phát hành và tổ chức bảo lãnh phát hành, thành viên bảo lãnh chủ
động trong việc quyết định đầu tư. Vì vậy kết quả phát hành thường đạt 100% và thu
hút các nhà đầu tư lớn tham gia bảo lãnh phát hành.
• Những kết quả và tồn tại của thị trường TPCP ở Việt Nam
11
Nhìn chung, thị trường TPCP đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm. Phát hành
TPCP đã trở thành kênh huy động vốn hiệu quả. Giá trị TPCP huy động được đã tăng
qua các năm, số lượng, kỳ hạn TPCP đã được đa dạng hơn.
Thị trường TPCP đã có những thành công nhất định, tuy nhiên vẫn còn một số
tồn tại:
- Hiệu quả của các đợt phát hành TPCP bằng phương thức đấu thầu qua TTCK
chưa cao do áp dụng cơ chế lãi suất trần, dẫn đến tỷ lệ trúng thầu thấp thậm chí có
những đợt đầu thầu khối lượng trúng thầu bằng không.
- Trong bối cảnh lãi suất thị trường diễn biến tăng dần nhưng lãi suất đấu thầu
TPCP áp dụng lãi suất trần, hoạt động đấu thầu và giao dịch thứ cấp thiếu tính cạnh
tranh, không hấp dẫn, cũng làm cho TPCP có tính thanh khoản thấp.
- Các đợt phát hành TPCP theo các phương thức bán lẻ qua KBNN, đấu thầu qua
TTCK và bảo lãnh phát hành được tổ chức đan xen nhau tạo sự cạnh tranh mạnh mẽ
cho TTCK. Mặt khác, phát hành trực tiếp qua KBNN với lãi suất quy định sẵn, còn đối
với phương thức bảo lãnh phát hành thì lãi suất hình thành theo nhu cầu vốn sử dụng
chứ không chịu sự chi phối tác động của thị trường, do đó lãi suất theo hai phương thức
Lãi
suất
(%)
Giá trị
Lãi suất
(%)
Giá trị
Lãi suất
(%)
Giá trị
Lãi suất
( %)
2006 200 8.52 1.800 9 2.000
2007 1.600 8,5-8,7 400 9 2.000
2008 1.185 9-9,05 965 9,55 2.150
2009 850 8,8-9,05 525 9,15-9,25 625 9,25-9,55 2.000
2010 466 8,5 466
Tổng 200 5.716 925 1.590 8.431
Nguồn: Quỹ đầu tư phát triển đô thị TP.HCM
Mặc dù đã có những bước đầu thành công nhưng nhìn chung thị trường TPCQĐP
vẫn còn nhiều khó khăn:
- Các địa phương vẫn còn lệ thuộc và dựa vào nguồn trợ cấp ngân sách trung
ương, chưa chủ động đa dạng hóa các hình thức huy động vốn đầu tư.
- TPCQĐP chủ yếu cũng do các định chế tài chính nắm giữ nên hoạt động giao
dịch hầu hết được thực hiện trên TTCK theo phương thức mua bán có kỳ hạn. Thời
gian qua, các giao dịch trái phiếu Đô thị TP.HCM, Hà Nội,… chủ yếu diễn ra giữa các
công ty chứng khoán với các NHTM, các Quỹ đầu tư và một số công ty bảo hiểm.
- Tuy nền kinh tế được đánh giá tăng trưởng trong thời gian qua nhưng chỉ tập trung ở
hai trung tâm kinh tế lớn là TP.HCM và Hà Nội, các địa phương khác tốc độ tăng trưởng vẫn
còn chậm, thậm chí phần lớn địa phương vẫn trong trình trạng bội chi ngân sách. Do đó, mức
phát
hành
(tỷ đồng)
Thời
hạn
(năm)
Lãi suất
(%/năm)
Năm
phát
hành
I Trái phiếu doanh nghiệp đang niêm yết tại TTGDCK
1 NH Đầu tư và Phát triển TPHCM 2.205 10-15 9,8-10,2 2006
2 NH Ngoại Thương VN 1.375 7 6 2005
3 Tập đoàn Điện Lực VN 6.000 5 9,6 2006
4 TCT Tài Chính Dầu khí VN 365 5 9,5 2006
II Trái phiếu doanh nghiệp khác
14
1 TCT Sông Đà 260 10 5 2006
2 NHTM Á châu -
- TP chuyển đổi 550 5 8 2006
- TP thông thường 2.200 5 8,6 2007
3 Công ty Chứng khoán SG (SSI) 500
16-
24tháng
9,8-10,2 2006
4 NHNN và PT VN 3.000 10-15 9,8-10,2 2006
5 NH PT Nhà ĐBS Cửu Long 150 2 9,2 2006
6 TCT Lắp Máy VN Lilama 500 5 9,6 2007
1.000 10 9,2 2007
máy xi măng Cẩm Phả với mức giá ưu đãi. Trái phiếu EVN thường có kỳ hạn từ 5 đến
10 năm, đầu tư vào các công trình thủy điện, cải tạo mạng lưới điện quốc gia.
15
Lãi suất TPDN, về cơ bản đều cao hơn lãi suất đấu thầu TPCP. Trong năm 2009
có nhiều đợt phát hành thành công, trong đó chủ yếu là hình thức phát hành trái phiếu
với lãi suất thả nổi. Theo báo cáo của Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam có
khoảng 20 nghìn tỷ đồng giá trị trái phiếu có lãi suất thả nổi được bán ra, có thể kể ra
một vài ví dụ điển hình về việc phát hành TPDN.
- CT CP Vincom phát hành thành công 100 triệu USD trái phiếu chuyển đổi
quốc tế và đã niêm yết trái phiếu này tại Sàn GDCK Singapore, trở thành doanh nghiệp
Việt Nam đầu tiên phát hành và niêm yết trái phiếu ở thị trường vốn quốc tế. Trái phiếu
chuyển đổi Vincom có kỳ hạn 5 năm được phát hành bằng đồng USD, lãi suất 6%/năm,
thanh toán 6 tháng một lần vào cuối kỳ. Trái phiếu này có thể được chuyển đổi thành cổ
phần phổ thông của Vincom. Một yếu tố quan trọng của đợt phát hành đó là đơn vị
đứng ra bảo lãnh cho Vincom là Credit Suisse.
- CT CP Địa ốc Sài Gòn Thương tín (Sacomreal): Sacomreal là đơn vị đầu tiên
tại TP.HCM huy động vốn bằng cách phát hành trái phiếu dự án. Ban đầu, Sacomreal
phát hành trái phiếu cho dự án Phú Lợi 1 và thu hút được khá nhiều khách hàng. Sau
đó, để triển khai dự án Belleza (Phú Mỹ), Sacomreal phát hành một đợt trái phiếu với
tổng giá trị 750 tỷ đồng. Mỗi trái phiếu có mệnh giá 1,5 tỷ đồng, trái chủ được tặng 1
quyền mua căn hộ và được giảm giá 8% khi mua căn hộ.
Ngoài ra, một số doanh nghiệp niêm yết như Hoà Phát, FPT, Hoàng Anh Gia Lai
cũng đã huy động một lượng vốn khá lớn thông qua hình thức phát hành trái phiếu.
Theo thống kê của BIDV, chỉ tính riêng ba đợt phát hành của Hoà Phát, Hoàng Anh Gia
Lai, FPT, thì lượng vốn huy động đã lên đến 4,3 nghìn tỷ đồng, chiếm hơn 15% tổng
khối lượng trái phiếu doanh nghiệp phát hành trong năm 2010.
Tuy nhiên, đó chỉ là một số rất nhỏ các doanh nghiệp trong số các doanh nghiệp
đã niêm yết có thể huy động theo phương thức này. Chủ thể phát hành TPDN thường là
những doanh nghiệp đầu ngành, có uy tín hoặc các DNNN đã cổ phần hóa. Ngoài ra
còn có các NHTM cũng phát hành trái phiếu.
Công ty định mức tín nhiệm rất quan trọng đối với sự phát triển thị trường vốn
của mọi nền kinh tế. Công ty định mức tín nhiệm là loại hình phù hợp nhất cho thị
trường vốn Việt Nam và cũng phù hợp nhất với các nước phát triển.
Hiện cả nước mới chỉ có một số đơn vị hoạt động trong lĩnh vực có liên quan tới
Định mức tín nhiệm như: Công ty Cổ phần tín nhiệm và xếp hạng Doanh nghiệp
(CRV), Công ty Thông tin tín nhiệm và xếp hạng DN (C&R), Công ty Cổ phần báo cáo
đánh giá Việt Nam (Vietnam Report), Trung tâm Thông tin tín dụng (CIC- thuộc Ngân
hàng Nhà nước) và Trung tâm Đánh giá tín nhiệm Doanh nghiệp (CRVC-thuộc Công ty
Phần mềm và truyền thông Vietnamnet). Nhưng thực tế, các đơn vị này vẫn chưa phải
là tổ chức đánh giá định mức tín nhiệm theo đúng nghĩa, bởi lẽ hoạt động chính vẫn chỉ
17
là cung cấp thông tin có liên quan tới các doanh nghiệp mà chưa thực hiện nghiệp vụ
đánh giá định mức tín nhiệm theo chuẩn mực quốc tế.
2.2.3. Thiếu đội ngũ các nhà tạo lập thị trường
Các nhà tạo lập thị trường trái phiếu đóng vai trò là người môi giới và tự doanh
trái phiếu và họ thu lợi nhuận từ các hoạt động này. Họ sẵn sàng thực hiện giao dịch
mua và bán chứng khoán với các mức giá và số lượng đã niêm yết. Nhà tạo lập thị
trường- nhân tố thúc đẩy giao dịch trái phiếu, tăng tính thanh khoản cho thị trường.
Nhưng hiện nay chúng ta chưa thiết lập được hệ thống các nhà tạo lập thị trường.
Hiện tại, các trung gian tài chính trên thị trường trái phiếu Việt Nam là các công
ty chứng khoán với các nghiệp vụ chủ yếu như môi giới, lưu ký chứng khoán, bảo lãnh
phát hành và quản lý danh mục đầu tư. Tuy nhiên, các trung gian tài chính chưa thực
hiện nghiệp vụ thực sự của các nhà tạo lập thị trường, đó là việc yết giá, số lượng mua
và bán trái phiếu. Khi nhà đầu tư có nhu cầu bán trái phiếu thì lại gặp khó khăn do thiếu
các nhà tạo lập thị trường sẵn sàng mua trái phiếu với mức giá hợp lý, điều này đã làm
cho trái phiếu kém tính thanh khoản. Thêm vào đó, việc thiếu các công cụ phái sinh
trên thị trường trái phiếu như hoán đổi, quyền lựa chọn, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng
tương lai khiến cho Việt Nam chưa có các nhà tạo lập thị trường theo đúng nghĩa.
2.2.4. Chưa xác định được mức lãi suất chuẩn
Lãi suất TPCP ở Việt Nam chưa thực sự trở thành chuẩn mực để các tổ chức tài
trong việc hoạch định kế hoạch đầu tư dài hạn.
Đối với các doanh nghiệp phát hành trái phiếu vẫn còn tâm lý e ngại việc công
khai thông tin, chỉ thực hiện việc này theo hình thức đối phó, chưa thật sự minh bạch.
Ngoài ra, các thông tin về tình hình và hiệu quả sử dụng vốn huy động từ trái phiếu ra
công chúng chưa được đầy đủ.
2.2.8. Hệ thống pháp lý chưa hoàn chỉnh
Hệ thống pháp lý bước đầu hình thành và đang hoàn thiện. Hệ thống văn bản
pháp luật điều chỉnh hoạt động của thị trường chưa đồng bộ, cơ chế hoạt động chưa thật
hoàn chỉnh. Các nguyên tắc quản lý và chuẩn mực quốc tế về tính minh bạch, kế toán,
kiểm toán tuy đã được áp dụng nhưng còn ở phạm vi hẹp. Thể chế pháp luật còn thiếu
các qui định cần thiết cho thị trường phi tập trung (OTC), hoạt động định mức tín
nhiệm, các công cụ phái sinh, nên chưa tạo được hành lang pháp lý nhằm giúp nhà đầu
tư có thể bảo vệ rủi ro cho mình.
PHẦN III: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU
VIỆT NAM
3.1. Định hướng phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam thời gian tới
Mục tiêu của Đảng và Nhà nước đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước
công nghiệp theo hướng hiện đại. Để đạt được các mục tiêu đã đề ra đòi hỏi phải huy
động từ nhiều nguồn lực, trong đó nguồn vốn đóng vai trò rất quan trọng. Nhận thức
được tầm quan trọng của nguồn vốn đối với sự phát triển của nền kinh tế, cần phát triển
19
kênh dẫn vốn nhanh cho nền kinh tế đó là thị trường chứng khoán nói chung và thị
trường trái phiếu nói riêng. Hướng đến tầm nhìn năm 2020, thị trường trái phiếu phát
triển cả về quy mô và chất lượng hoạt động đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển,
đồng thời góp phần phát triển thị trường vốn Việt Nam sánh vai với các nước trong khu
vực và quốc tế.
3.1.1. Quan điểm phát triển
Phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam là một bộ phận trong sự phát triển
thống nhất của thị trường tài chính, trên cơ sở phối hợp đồng bộ với các thị trường bộ
phận khác nhằm đảm bảo hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tế và định hướng phát
sự đa dạng hóa các chủ thể tham gia và hàng hóa giao dịch để tạo nền tảng cho phát
triển lâu dài của thị trường vốn nói chung và thị trường cổ phiếu nói riêng.
3.2.1 Giải pháp ngắn hạn
Thứ nhất, cần cụ thể hoá các tiêu chuẩn phê duyệt trái phiếu
Bộ Tài chính và Ngân hàng nước (NHNN) cần phải cụ thể hoá các tiêu chuẩn
phê duyệt phát hành trái phiếu công ty, trái phiếu chính quyền địa phương và trái phiếu
của các tổ chức tín dụng.
Cần có những biện pháp và hệ thống đánh giá chuẩn hơn để xác định lãi suất
phát hành hợp lý, qua đó giảm gánh nặng nợ vay. Ttăng khối lượng phát hành thay vì
phát hành nhiều đợt với số lượng nhỏ nhằm giảm chi phí phát hành và thu hút nhiều
hơn các nhà đầu tư có tổ chức tham gia.
Thể chế pháp luật và chính sách kinh tế vĩ mô cần được cải thiện hơn nữa nhằm
nâng mức xếp hạng, đủ điều kiện để đạt được tiêu chuẩn đầu tư của các nguồn quỹ lớn
trên thế giới.
Bộ Tài chính nên tiến hành ban hành mẫu Bản cáo bạch chung cho các công ty
muốn phát hành trái phiếu và công bố thông tin về kế hoạch ngân sách trung hạn của
chính quyền địa phương.
Thứ hai, thành lập sàn giao dịch trái phiếu
Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh nên tham khảo ý kiến
của các nhà làm luật và các tổ chức tham gia thị trường chứng khoán để thành lập một
sàn giao dịch trái phiếu giữa các nhà môi giới. Sàn giao dịch trái phiếu này phải tạo
được môi trường giao dịch có hiệu quả cho các nhà tạo lập thị trường, vì trái phiếu
không thể áp dụng một phương thức giao dịch giống như giao dịch cổ phiếu. Đồng thời,
phải hỗ trợ pháp lý cho các doanh nghiệp phát hành. Bên cạnh đó, thủ tục chuyển
nhượng cũng phải đơn giản, nhanh chóng.
21
Đối với trung tâm lưu ký chứng khoán, cần nâng cao năng lực của các trung tâm
này hoặc góp phần phát triển một trung tâm lưu ký chung trong khu vực, tạo điều kiện
giao dịch thuận tiện và dễ dàng hơn cho các nhà đầu tư.
Thứ ba, chính sách đa dạng hóa các chủ thể phát hành trái phiếu