MỘT CÁCH TIẾP NHẬN ĐOẠN TRÍCH " CHIẾC
LƯỢC NGÀ"
NGỮ VĂN 9
Đoạn trích "Chiếc lược ngà" của Nguyễn Quang Sáng trước
đây được trích học trong chương trình lớp 7 (trước khi thay
sách) nay được trích học trong chương trình lớp 9. Chứng
tỏ tác phẩm mang tính nghệ thuật và tính nhân văn khá sâu
sắc.
Chi tiết "mở nút" làm cho đoạn trích "Chiếc lược ngà" trở
nên hay nhất và cảm động nhất là cảnh anh Sáu từ giã bé
Thu, con gái của mình để ra chiến trường.
Đoạn trích "Chiếc lược ngà" của Nguyễn Quang Sáng trước
đây được trích học trong chương trình lớp 7 (trước khi thay
sách) nay được trích học trong chương trình lớp 9. Chứng
tỏ tác phẩm mang tính nghệ thuật và tính nhân văn khá sâu
sắc.
Chi tiết "mở nút" làm cho đoạn trích "Chiếc lược ngà" trở
nên hay nhất và cảm động nhất là cảnh anh Sáu từ giã bé
Thu, con gái của mình để ra chiến trường.
Cuộc gặp gỡ của hai cha con sau hơn 8 năm xa cách chắc
sẽ dạt dào xúc động. Nhưng thật trớ trêu là bé Thu không
nhận ra anh Sáu là cha của mình, chỉ vì vết sẹo trên gương
mặt của anh khác với bức ảnh anh chụp trước đây. Đến lúc
em nhận ra đó là cha của mình và bộc lộ tình cảm thắm
thiết thì cũng là lúc anh Sáu phải ra đi.
Nói sao hết tâm trạng hụt hẫng, đáng thương của anh Sáu
trước thái độ ứng xử đầy ngờ vực, lạnh nhạt có phần bướng
bỉnh, ương ngạnh của bé Thu, khi anh Sáu từ chiến trường
trở về thăm con, cũng là lần cuối cùng anh gặp con.
Nghe mẹ nó bảo gọi ba vào ăn cơm thì nó lại bảo: "Thì má
cứ kêu đi!". Má nó dọa đánh thì nó lại nói trổng: "Vô ăn
phải xa con Nhưng không có gì vui và hạnh phúc hơn khi
bé Thu gọi anh bằng tiếng "ba" thắm thiết đầy xúc động.
Những giọt nước mắt của anh Sáu cũng có thể giải thích
nguyên nhân vì sao khi các hoa hậu, nghệ sĩ, vận động
viên đăng quang, chúng ta thường thấy những giọt nước
mắt lăn dài trên đôi má của họ.
Những giọt nước mắt của hai cha con lúc chia tay đã nói
lên tất cả. Phải chăng đó là niềm hạnh phúc, là tình phụ tử
thiêng liêng và cũng là bi kịch thường thấy trong những
năm tháng chiến tranh?
Nhưng trước sau bé Thu vẫn là một đứa bé rất Nam Bộ với
tất cả những nét hồn nhiên thơ ngây, có cá tính mạnh mẽ,
biết xúc động, giàu lòng thương yêu Điều này cũng có thể
lý giải vì sao sau này lớn lên Thu đã nhanh chóng trở thành
một cô gái giao liên gan dạ, dũng cảm, mưu trí trước kẻ
thù.
Đoạn trích tuy ngắn gọn nhưng thể hiện diễn biến nội tâm
của hai cha con hết sức kịch tính. Điều đó phải chăng một
phần là nhờ nghệ thuật xây dựng tình huống, nghệ thuật
xây dựng tính cách nhân vật tuyệt vời của nhà văn, khắc
họa qua hành động, ngôn ngữ, suy nghĩ của nhân vật !
CẢM NHẬN VỀ ÁNH TRĂNG ( NGUYỄN DUY)
FRIDAY, 4. JANUARY 2008, 18:32:53
NGỮ VĂN 9
Trăng- hình ảnh giản dị mà quen thuộc, trong sáng và trữ
tình. Trăng đã trở thành đề tài thường xuyên xuất hiện trên
những trang thơ của các thi sĩ qua bao thời đại. Nếu như “
Tĩnh dạ tứ” cũa Lí Bạch tả cảnh đêm trăng sáng tuyệt đẹp
gợi lên nỗi niềm nhớ quê hương, “ Vọng nguyệt” của Hồ
Chí Minh thể hiện tâm hồn lạc quan, phong thái ung dung
Những sáng tác thơ của Nguyễn Duy sâu lắng và thấn đẫm
cái hồn của ca dao, dân ca Việt Nam . Thơ ông không cố
tìm ra cái mới mà lại khai thác, đi sâu vào cái nghĩa tình
muôn đời của người Việt. “Ánh trăng” là một bài thơ như
vậy.Trăng đối với nhà thơ có ý nghĩa đặïc biệt: đó là vầng
trăng tri kỉ, vầng trăng tình nghĩa và vầng trăng thức tỉnh.
Nó như một hồi chuông cảng tỉnh cho mỗi con người có lối
sống quên đi quá khứ.
Tác giả đã mở đầu bài thơ với hình ảnh trăng trong kí ức
thuổi thơ của nhà thơ và trong chiến tranh:
“Hồi nhỏ sống với đồng
với sông rồi với bể
hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỉ”
Hình ảnh vầng trăng đang được trải rộng ra trong cái không
gian êm đềm và trong sáng của thuổi thơ. Hai câu thơ với
vỏn vẹn mười chữ nhưng dường như đã diễn tả một cách
khái quát về sự vận động cả cuộc sống con người. Mỗi con
người sinh ra và lớn lên có nhiều thứ để gắn bó và liên kết.
Cánh đồng, sông và bể là nhưng nơi chốn cất giữ bao kỉ
niệm của một thời ấâu thơ mà khó có thể quên được. Cũng
chính nới đó, ta bắt gặp hình ảnh vầng trăng. Với cách gieo
vần lưng “đồng”, “sông” và điệp từ “ với” đã diễn tả tuổi
thơ được đi nhiều, tiếp xúc nhiều và được hưởng hạnh phúc
ngắm những cảnh đẹp của bãi bồi thiên nhiên cũa tác
giả.Tuổi thơ như thế không phải ai cũng có được ! Khi lớn
lên, vầng trăng đã tho tác giả vào chiến trường để “chờ giặc
tới’.Trăng luôn sát cách bên người lính, cùng họ trải
nghiệm sương gió, vượt qua những đau thương và khốc liệt
của bom đạn kẻ thù. Người lính hành quân dưới ánh trăng
làm quen dần với những thứ xa hoa nơi “ánh điện, cửa
gương”. VàØ rồi trong chính sự xa hoa đó, người lính đã
quên đi người bạn tri kỉ của mình, người bạn mà tưởng
chừng chẳng thể quên được, “người tri kỉ ấy” đi qua ngõ
nhà mình nhưng mình lại xem như không quen không biết.
Phép nhân hoá vầng trăng trong câu thơ thật sự có cái gì đó
làm rung động lòng người đoc bởi vì vầng trăng ấy chính là
một con người. Cũng chính phép nhân hoá đó làm cho
người đọc cảm thương cho một “người bạn” bị chính người
bạn thân một thời của mình lãng quên. Sự ồn ã của phố
phường, những công việc mưu sinh và những nhu cầu vật
chất thường nhật khác đã lôi kéo con gười ra khỏi những
giá trị tinh thần ấy, một phần vô tâm của con người đã lấn
át lí trí của người lính, khiến họ trở thành kẻ quay lưng với
quá khứ. Con người khi được sống đầy đủ về mặt vật chất
thì thường hay quên đi những giá trị tinh thần, quên đi cái
nền tảng cơ bản củacuộc sống, đó chình là tình cảm con
người. Nhưng rồi một tình huống bất ngờ xảy ra buộc
ngươiø lính phải đối mặt:
“Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn -đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn”
Khi đèn điện tắt, cũng là khi không còn được sống trong cái
xa hoa, đầy đủ về vật chất, người lính bỗng phải đối diện
với cái thực tại tối tăm. Trong cái “thình lình”, “đột ngột”
ấy, người lính vôi bật tung cửa sổ và bất ngờ nhận ra một
cái gì đó. Đó chẳng phải ai xa lạ mà chính là người bạn tri
kỉ năm xưa của mình đây hay sao? Con người ấy không hề
biết được rằng cái người bạn tri kỉ, tình nghĩa, người bạn đã
ấy đã phần nào làm cho người lính trở nên thanh thản hơn,
làm tâm hồn anh trong sáng lại. Một lần nữa những hình
tượng trong tuổi thơ và chiến tranh được láy lại làm sáng tỏ
những điều mà con người cảm nhận được. Cái tâm hồn ấy,
cái vẻ đẹp mộc mạc ấy không bao giờ bị mất đi, nó luôn
lặng lẽ sống trong tâm hồn mỗi con người và nó sẽ lên
tiếng khi con người bị tổn thương. Đoạn thơ hay ở chất thơ
mộc mạc, chân thành, ngôn ngữ bình dị mà thấm thía,
những hình ảnh đi vào lòng người.
Vầng trăng trong khổ thớ thứ ba đã thực sự thức tỉnh con
người:
“Trăng cứ tròn vành vạnh
kề chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình”
Khổ thơ cuối cùnh mang tính hàm súc độc đáo và đạt tới
chiều sâu tư tưởng và triết lí. “Trăng tròn vành vạnh” là vẻ
đẹp của trăng vẫn viên mãn, tròn đầy và không hề bị suy
suyển dù cho trải qua biết bao thăng trầm. Trăng chỉ im
lặng phăng phắc, trăng không nói gì cả, trăng chỉ nhìn,
nhưng cái nhìn đó đủù khiến cho con người giật mình. Ánh
trăng như một tấm gương để cho con người soi mình qua
đó, để con người nhận ra mình để thức tỉnh lương tri. Con
người có thể chối bỏ, có thể lãng quên bất cứ điều gì trong
tâm hồn anh ta . Nhưng dù gì đi nũa thì những giá trị văn
hoá tinh thần của dân tộc cũng luôn vậy bọc và che chởù
cho con người.
“Ánh trăng” đã đi vào lòng người đọc bao thế hệ như một
lời nhắc nhở đối với mỗi người: Nếu ai đã lỡ quên đi, đã lỡ
đánh mất những giá trị tinh thần qúy giá thì hãy thức tỉnh
mạnh phi thường nâng đỡ con người suốt hành trình dài và
rộng của cuộc đời. Bằng Việt cũng có riêng ông một kỉ
niệm, đó chính là những tháng năm sống bên bà, cùng bà
nhóm lên cái bếp lửa thân thương. Không chỉ thế, điều in
đậm trong tâm trí của Bằng Việt còn là tình cảm sâu đậm
của hai bà cháu. Chúng ta có thể cảm nhận điều đó qua bài
thơ “Bếp lửa” của ông.
Trong cuộc đời, ai cũng có riêng cho mình những kỉ niệm
của một thời ấu thơ hồn nhiên, trong sáng. Những kỉ niệm
ấy là những điều thiêng liêng, thân thiết nhất, nó có sức
mạnh phi thường nâng đỡ con người suốt hành trình dài và
rộng của cuộc đời. Bằng Việt cũng có riêng ông một kỉ
niệm, đó chính là những tháng năm sống bên bà, cùng bà
nhóm lên cái bếp lửa thân thương. Không chỉ thế, điều in
đậm trong tâm trí của Bằng Việt còn là tình cảm sâu đậm
của hai bà cháu. Chúng ta có thể cảm nhận điều đó qua bài
thơ “Bếp lửa” của ông.
Bằng Việt thuộc thế hệ nhà thơ trương thành trong kháng
chiến chống Mĩ. Bài thơ “ Bếp lưả” được ông sáng tác năm
1963 lúc 19 tuổi và đang đi du học ở Liên Xô. Bài thơ đã
gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà
cháu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu, trân trọng và biết
ơn của người cháu với bà, với gia đình, quê hương, đất
nước.
Tình cảm và những kỉ niệm về bà được khơi gợi từ hình
ảnh bếp lửa. Ở nơi đất khách quê người, bắt gặp hình ảnh
bếp lửa, tác giả chợt nhớ về người bà:
“ Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.”
Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!”
Chính “mùi khói” đã xua đi cái mùi tử khí trên khắp các
ngõ ngách. Cũng chính cái mùi khói ấy đã quện lại và bám
lấy tâm hồn đứa trẻ. Dù cho tháng năm có trôi qua, những
kí ức ấy cũng sẽ để lại ít nhiều ấn tượng trong lòng đứa
cháu để rồi khi nghĩ lại lại thấy “sống mũi còn cay”. Là mùi
khói làm cay mắt người người cháu hay chính là tấm lòng
của người bà làm đứa cháu không cầm được nước mắt?
“ Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm bếp
Tu hú kêu trên những cách đồng xa
Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!”
“Cháu cùng bà nhóm lửa”, nhóm lên ngọn lửa củasự sống
và của tìng yêu bà cháy bỏng của một cậu bé hồn nhiên,
trong trắng như một trang giấy.Chính hình ảnh bếp lửa quê
hương, bếp lửa của tình bà cháu đó đã gợi nên một liên
tưởng khác, một hồi ức khác trong tâm trí thi sĩ thuở nhỏ.
Đó là tiếng chim tu hú kêu. Tiếng tu hú kêu như giục giã
lúa mau chín, người nông dân mau thoát khỏi cái đói, và
dường như đó cũng là một chiếc đồng hồ của đứa cháu để
nhắc bà rằng: “Bà ơi, đến giờ bà kể chuyện cho cháu nghe
rồi đấy!”. Từ “tu hú” được điệp lại ba lấn làm cho âm điệu
cấu thơ thêm bồi hồi tha thiết, làm cho người đọc cảm thấy
như tiếng tu hú đang từ xa vọng về trong tiềm thức của tác
giả.Tiếng “tu hú” lúc mơ hà, lúc văng vẳng từ nững cánh
đồng xa lâng lâng lòng người cháu xa xứ. Tiiếng chim tu
hú khắc khoải làm cho dòng kỉ niệm của đứa cháu trải dài
mang theo suốt quãng đời còn lại của cháu. Người bà và
tình cảm mà bà dành cho cháu đã thất sự một chỗ dựa vững
chắc về cả vật chất lẫn tinh thần cho đứa cháu be ùbỏng.
Cho nên khi bây giờ nghĩ về bà, nhà thơ càng thương bà
hơn vì cháu đã đi rồi, bà sẽ ở với ai, ai sẽ người cùng bà
nhóm lửa, ai sẽ cùng bà chia sẻ những câu chuyện những
ngày ở Huế, Thi sĩ bổng tự hỏi lòng mình: “Tu hú ơi,
chẳng đến ở cùng bà?”. Một lời than thở thể hiện nỗi nhớ
mong bà sâu sắc của đứa cháu nơi xứ ngươi. Chỉ trong một
khổ thơ mà hai từ “bà”, “cháu” đã được nhắc đi nhắc lại
nhiều lấn gợi lên hình ảnh hai bà cháu sóng đôi, gắn bó,
quấn qúit không rời.
Chiến tranh, một danh từ bình thườnh nhưng sức lột tả của
nó thì khốc liệt vô cùng, nó đã gây ra đau khổ cho bao
người, bao nhà. Và hai bà cháu trong bài thơ cũng trở thành
một nạn nhân của chiến tranh: gia đình bị chia cắt, nhà bị
giặc đốt cháy rụi
“Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
Hàng xóm bốn bên trở vế lầm lụi
Đỡ đần bà dựng lại túp lếu tranh
Vẫng vững lòng bà dặn cháu đinh ninh:
“ Bố ở chiến khu bố còn việc bố
Mày viết thư chớ kể này kể nọ
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!’
Cuộc sống càng khó khăn, cảnh ngộ càng ngặt ngèo, nghị
lứccủa bà càng bền vững, tấm lòng ủa bà càng mênh mông.
Qua đó, ta thấy hiện lên một người bà cần cù, nhẫn nại và
giàu đức hi sinh. Dù cho ngôi nhà, túp lều tranh của hai bà
cháu đã bị đốt nhẵn, nơi nương thân của hai bà cháu nay đã
khong còn, bà dù có đau khổ thế nào cũng không dám nói
Nhóm lên bếp lửa ấy, người bà đã truyền cho đứa cháu một
tình yêu thương những người ruột thịt và nhắc cháu rằng
không bao giờ được quên đi những năm tháng nghĩ tình,
những năm tháng khó khăn mà hai bà cháu đã sống vơi
nhau, những năm tháng mà hai bà cháu mình cùng chia
nhau từng củ sắn, củ mì.
“Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui”
“Nồi xôi gạo mới sẻ chung vui” của bà hay là lời răng dạy
cháu luôn phải mở lòng ra với mọi người xung quanh, phải
gắn bó với xóm làng, đừng bao giờ có một lối sống ích kỉ.
“Nhóm dậy cả những tâm tinh tuổi nhỏ”.
Bà không chỉ là người chăm lo cho cháu đấy đủ về vật chất
mà c2n là người làm cho tuổi thơ của cháu thêm đẹp. th6m
huyền ảo như trong truyện. Người bà có trái tim nhân hậu,
người bà kì diệu đã nhóm dậy, khơi dậy, giáo dục và thức
tỉnh tâm hồn đứa cháu để mai này cháu khôn lớn thành
người. Người bà kì diệu như vậy ấy, rất giản dị nhưng có
một sức mạnh kì diệu tứ trái tim, ta có thể bắt gặp người bà
như vậy trong “Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh:
“Tiếng gà trưa
Mang bao nhiêu hạnh phúc
Đêm cháu về nằm mơ
Giấc ngủ hồng sắc trứng.”
Suốt dọc bài thơ, mười lấn xuất hiện hình ảnh bếp lửa là