NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM LỰA CHỌN GIẢI PHÁP TIÊU NĂNG HỢP LÝ CHO TRÀN XẢ LŨ SÔNG RAY - Pdf 22

1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM LỰA CHỌN GIẢI
PHÁP TIÊU NĂNG HỢP LÝ CHO TRÀN XẢ LŨ
SÔNG RAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
HÀ NỘI
2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 4
II.MỤC TIÊU, PHƯƠNG PHÁP VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5
III.NỘI DUNG CỦA LUẬN VĂN GỒM: 6
CHƯƠNG 1 7
TỔNG QUAN CHUNG VỀ TIÊU NĂNG SAU TRÀN XẢ LŨ 7
1.1 TỔNG QUAN VỀ HỒ CHỨA 7
1.2TỔNG QUAN VỀ TRÀN XẢ LŨ 11
1.3 NHỮNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ TIÊU NĂNG SAU TRÀN XẢ
LŨ 14
1.4 CÁC VẤN ĐỀ CẦN ĐẶT RA 17
CHƯƠNG II 21
CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM MÔ HÌNH THỦY LỰC
CHO TRÀN XẢ LŨ SÔNG RAY 21
2.1 LÝ LUẬN VỀ TIÊU NĂNG SAU TRÀN 21
2.2 NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH THỦY LỰC 45
2.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIẢI PHÁP TIÊU NĂNG CHO
TRÀN XẢ LŨ 52
2.4 LẬP PHƯƠNG TRÌNH XÁC ĐỊNH SÊRY THÍ NGHIỆM NGHIÊN
CỨU TIÊU NĂNG CHO TRÀN XẢ LŨ 54

mùa lũ, khống chế mực nước thượng lưu không cho vượt quá mức nước cho
phép tương ứng với tần suất xả lũ thiết kế. Để đảm bảo cho tràn xả lũ làm
việc bình thường là rất quan trọng, không những đảm bảo an toàn cho bản
thân của công trình đầu mối mà còn cho cả lưu vực hạ lưu.
Do đó, trong thiết kế, việc bố trí công trình xả lũ, thì vấn đề về lựa chọn
giải pháp tiêu năng hợp lý sau công trình phải được quan tâm nhất. Việc tính
toán cho các công trình cụ thể phụ thuôc nhiều vào các yếu tố: điều kiện địa
hình, địa chất, điều kiện thủy văn, điều kiện dòng chảy…nên phải có các biện
pháp thích hợp tương ứng. Vì thế, để hoàn thiện phương án thiết kế, thường
thông qua nghiên cứu thực nghiệm trên mô hình thủy lực nhằm so sánh, lựa
chọn và tối ưu hóa các thông số kỹ thuật đáp ứng yêu cầu về thoát lũ, tiêu
năng hạ lưu tràn để tìm được chế độ nối tiếp thượng hạ lưu hợp lý, và chọn
được kích thước hình học và kết cấu phù hợp đảm bảo điều kiện kinh tế, kỹ
thuật.
Như vậy, vấn đề nghiên cứu thực nghiệm lựa chọn giải pháp tiêu năng
hợp lý cho tràn xả lũ vừa có ý nghĩa thực tiễn, vừa có ý nghĩa khoa học đối
với quá trình thiết kế và thẩm định trong xây dựng công trình thủy lợi.
Với những lý do trên, việc lựa chọn đề tài: ‘‘Nghiên cứu thực nghiệm
lựa chọn giải pháp tiêu năng hợp lý cho tràn xả lũ sông Ray’’ nhằm tìm ra
được hình thức tiêu năng phòng xói hợp lý cho một công trình cụ thể là tràn
5
xả lũ sông Ray tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Từ kết quả nghiên cứu công trình cụ
thể này, có thể rút ra được những kết luận chung cho những công trình có
điều kiện tương tự.
II. MỤC TIÊU, PHƯƠNG PHÁP VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu cơ bản của nghiên cứu là tìm được giải pháp tiêu năng hợp lý
cho tràn xả lũ thông qua công trình cụ thể là tràn xả lũ sông Ray tỉnh Bà Rịa -
Vũng Tàu. Sau đó, khái quát kết quả nghiên cứu nhằm rút ra kết luận chung
để có thể áp dụng cho những công trình có hình thức và điều kiện tương tự.

Phụ lục
7
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CHUNG VỀ TIÊU NĂNG SAU TRÀN XẢ LŨ
1.1 TỔNG QUAN VỀ HỒ CHỨA
Hồ chứa nước là loại công trình có khả năng sử dụng hiệu ích tổng hợp
tài nguyên nước phục vụ cho các mục tiêu khai thác tưới tiêu, phát điện, cắt lũ
hạ du, Do vậy mà từ xa xưa con người đã biết trữ nước để dùng cho sinh
hoạt và nông nghiệp và đã xây dựng một số công trình như: Bái Thượng
(Thanh Hoá), Đô lương (Nghệ An)…và trên thế giới hồ chứa được xây dựng,
phát triển đa dạng và phong phú. Hiện thế giới có 45.000 hồ có dung tích từ 1
triệu m
3
. Trung Quốc có 22.000 hồ; Mỹ có 6.575 hồ; Ấn Độ có 4.291 hồ;
Nhật Bản có 2.675 hồ; Tây Ban Nha có 1.196 hồ.
Trong thế kỷ 20, hồ chứa được coi là một trong những công trình hiệu
quả nhất đối với việc sử dụng và quản lý tài nguyên nước, nó đã thực sự đóng
vai trò quan trọng trong việc trợ giúp nguồn nước cho cộng đồng và phát triển
kinh tế, sản xuất lương thực, cung cấp điện năng, phòng chống lũ lụt góp phần
giảm nhẹ thiên tai, đáp ứng một nhu cầu rất lớn nước tưới và dùng trong sinh
hoạt.
Hồ chứa gồm các hạng mục chính như: đập, công trình lấy nước, tràn xả
lũ, ngoài ra còn có một số công trình phục vụ cho mục đích chuyên môn. Và
tuỳ theo nhiệm vụ cụ thể của công trình: chống lũ, phát điện, cung cấp nước
cho dân cư, công nông nghiệp, thau chua rửa mặn, giao thông thủy, nuôi trồng
thủy sản mà dung tích trữ của hồ chứa có thể từ vài chục ngàn cho đến hàng
ngàn triệu mét khối nước. Hạ lưu hồ chứa thường là những khu dân cư hoặc
nhiều cơ sở hạ tầng quan trọng như đường bộ, đường sắt, trường học, bệnh
viện
Ở Châu Á, mục tiêu sử dụng hồ chứa bao gồm: tưới 63%, thủy điện 7%,

với sản xuất và đời sống của nhân dân các địa phương.
Trong mùa mưa lũ, các hồ chứa, một mặt có tác dụng hạn chế, giảm nhẹ
mức độ úng lụt cho vùng hạ du, mặt khác lại là điểm xung yếu, luôn tiềm ẩn
nguy cơ gây ra lũ lụt lớn. Do đó cần triển khai đồng bộ các giải pháp bảo vệ
công trình cụ thể cho từng hồ chứa, phương án bảo vệ an toàn cho người dân
sinh sống trong khu vực vùng hồ, đặc biệt là dân cư sau hạ lưu hồ chứa để chủ
động đối phó với trường hợp xả lũ khẩn cấp hoặc có sự cố vỡ đập, hạn chế
9
thấp nhất về mặt tài sản và đảm bảo an toàn tính mạng cho nhân dân. Việc
bảo đảm an toàn các hồ chứa nước phải luôn luôn được coi là nhiệm vụ hàng
đầu trong công tác quản lý - khai thác công trình thuỷ lợi.
Một vài hình ảnh về hồ chứa:

Hồ Núi Ngang (Quảng Ngãi)
Hồ Dầu Tiếng (Tây Ninh)

Hồ Phú Ninh (Quảng Nam)
10
Bảng 1-1: Bảng thống kê một số hồ chứa ở Việt Nam
TT
Công trình - Tỉnh
F
LV
(km
2
) W
h
(10
6
m

19 Biển Hồ - Gia Lai 38,0 41,5 28,0 2.300
20 Đăk Uy - Đăk Lăk 82,8 26,3 23,0 3.500
21 Tuyền Lâm-Lâm Đồng 32,8 10,6 9,6 1.832
22 Sông Mây - Đồng Nai 41,0 15,0 14,8 1.300
23 Suối Giai -Bình Dương 32,0 21,3 12,8 1.670
24 Dầu Tiếng - Tây Ninh 2.700,0 1.580,0 111,8 172.000
Với những hồ chứa đã xây dựng ở Việt Nam thì nó là một biện pháp công
trình chủ yếu để sử dụng nguồn nước và phòng chống thiên tai do nguồn nước
gây ra. Hiện nay các vấn đề được đặt ra đối với hồ chứa là:
(1) Cần ưu tiên cho những vùng miền thật sự cần thiết như Tây Nguyên,
Nam Trung Bộ, vùng núi phía Bắc và phải đầu tư đồng bộ, phục vụ đa mục
tiêu, có sự tham gia của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực;
(2) Về khảo sát, thiết kế: cần thiết lập trên cơ sở khoa học một cách thực tế
có căn cứ về đời sống dân cư, cơ cấu kinh tế, vấn đề xã hội…nhằm cung cấp
11
cho ngành thủy lợi tìm mọi cách đáp ứng yêu cầu dùng nước. Bên cạnh đó
cần tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật, những thay đổi của thực tế, tính
kế thừa, tính hiện thực của mỗi tiêu chuẩn phục vụ cho việc thiết kế công
trình thủy lợi;
(3) Vấn đề công nghệ hồ chứa còn nhiều hạn chế về máy móc, thiết bị,
công nghệ, đội ngũ thi công, tài liệu kỹ thuật mới ít được cập nhật vận dụng,
không tuân thủ quy trình thi công, giám sát…làm ảnh hưởng lớn đến độ bền
của công trình;
(4) Việc sử dụng và quản lý hồ chứa còn hờn hợt, chưa có cơ chế, quy định
quản lý thống nhất, hợp lý trên phạm vi toàn quốc;
(5) Vấn đề sử dụng và quản lý hồ chứa hiện nay thì yêu cầu hiện đại hóa,
tự động hóa còn mới mẻ, mới áp dụng từng phần (chỉ ở hồ lớn). Các hồ vẫn
còn các thiết bị cũ, lạc hậu, đội ngũ kỹ thuật và công nhân lành nghề đáp ứng
cho yêu cầu này chưa cao;
(6) Về việc chống lũ, bão và hạn hán thực tế ở các hồ chứa đã được thực

Loại tràn này thường được áp dụng cho các hồ chứa nước vừa và nhỏ.
Ưu điểm của loại tràn này là dễ quản lý, vận hành đơn giản, thuận tiện, nhưng
nhược điểm là không điều tiết được mực nước hồ chứa theo yêu cầu phòng lũ
dẫn đến dễ mất an toàn công trình.
Nhìn chung, đa phần tràn xả lũ đã xây dựng là tràn không có cửa van
chiếm 95% (tính theo số lượng) và 5% là tràn có cửa van với hình thức kết
cấu tràn xả lũ gồm:
- Đầu tràn: có hình dáng khá phong phú, khoảng 80% là ngưỡng tràn
đỉnh rộng còn lại là loại ngưỡng thuộc loại thực dụng.
13
- Thân tràn: là bộ phận tiếp sau đầu tràn, nối tiếp sau tràn là dốc nước
hoặc bậc nước đơn điệu (với tràn hở). Thân tràn phổ biến nhất là dạng dốc
nước, tuỳ thuộc vào phương án nối tiếp với hạ lưu mà thân dốc dài ngắn khác
nhau. Trước đây một số thiết kế dốc nước thường sử dụng biện pháp tạo nhám
trên thân dốc để giảm vận tốc dòng chảy (Yên Lập - Quảng Ninh, Đồng Mô -
Hà Tây), gần đây ít dùng biện pháp này mà có xu hướng thiết kế với độ dốc
và chiều dài thích hợp.
- Hình thức tiêu năng: thường sử dụng 3 dạng là tiêu năng đáy bằng bể,
bể tường kết hợp; tiêu năng phóng xa và tiêu năng chảy mặt bằng bậc thụt.
- Nối tiếp sau tiêu năng: thường dòng chảy vẫn còn động năng khá lớn
có thể gây xói lòng dẫn, do đó để bảo vệ hạ lưu cần có một đoạn gia cố để
đảm bảo dòng chảy chuyển tiếp ổn định đến lòng dẫn tự nhiên
Hiện nay, hình thức cửa van, phai, thiết bị đóng mở cửa van, phai quá
đơn điệu. Do đó, cần đổi mới hình thức kết cấu, thiết bị, áp dụng những loại
tràn xả lũ mới và kết hợp nhiều hình thức tháo, nhiều tầng khác nhau; sử dụng
vật liệu mới để tăng lưu tốc cho phép, chống han, rò rỉ; sử dụng thiết bị quan
trắc đồng bộ ở mọi bộ phận trong thân đập tràn; đầu tư máy móc thiết bị và
đào tạo người sử dụng thiết bị cơ khí đóng mở hiện đại để tăng kích thước cửa
van (nhằm giảm số cửa van); áp dụng nhiều hình thức cửa van mới. Các công
trình nối tiếp sau ngưỡng tràn, hình thức tiêu năng hạ lưu…cũng cần tiến

đảm bảo điều kiện nối tiếp an toàn hạ lưu, nhưng sau 16 năm khai thác thì
toàn bộ tấm đáy bể tiêu năng bị bẻ gãy và cuốn trôi nhiều khối đá nền tạo nên
hố xói có chiều sâu 6.7m.
Ở nước ta, trong thời gian gần đây cũng có một số trường hợp tràn gặp
sự cố như: Đập tràn Thác Bà với 3 khoang có cửa van điều tiết, hình thức tiêu
15
năng đáy, sân tiêu năng ở cuối có bố trí 7 mố tiêu năng. Trong quá trình xây
dựng và khai thác sân sau đã bị xói nghiêm trọng và lan vào đến chân bể tiêu
năng, nguyên nhân là do sân bể tiêu năng không đủ dài để tạo nước nhảy
trong mỗi trường hợp. Với đập tràn Nam Thạch Hãn là loại đường tràn dọc
ngưỡng đỉnh rộng, trong quá trình vừa xây dựng vừa xả nước thì làm cho hạ
lưu bị xói lở nghiêm trọng do xác định sai mực nước và điều kiện nối tiếp đã
tính trong thiết kế khác hẳn với thực tế.
Với những công trình tràn đã nêu ở trên, nhìn chung, khi tiến hành xây
dựng một đập tràn thì ta phải chú ý đến hình thức, kích thước, kết cấu bể tiêu
năng sao cho hợp lý để có thể giảm thiểu mức độ xói lở ở hạ lưu gây nguy hại
đến công trình chung. Do đó, nghiên cứu các đặc trưng của đập tràn và bể tiêu
năng là những ví dụ điển hình về sử dụng mô hình để nghiên cứu các công
trình thủy lợi. Khả năng tháo, quy trình vận hành cửa van, xói hạ lưu…là
những việc cần làm khi nghiên cứu mô hình đập tràn. Sau đây là kết quả một
vài thí nghiệm về thực nghiệm mô hình thủy lực đã nghiên cứu:
 Công trình tràn của nhà máy thủy điện Hương Điền: là loại tràn có 4
cửa van cung điều tiết, mặt cắt dạng Ofitxerop, tiêu năng bằng mũi phun và
qua thí nghiệm cho thấy: vận tốc trên mũi phun, chiều dài dòng phun và vận
tốc hố xói cũng giảm ít so với phương án thiết kế. Qua thí nghiệm với các
phương án thay đổi hình dạng mũi phun để so sánh đối chứng với phương án
thiết kế cho thấy các đặc tính về mặt thủy lực khu vực hố xói, chiều dài dòng
phun thay đổi không đáng kể nhưng hố xói có thể xói hơn vì thế sau mỗi trận
lũ cần kiểm tra diễn biến xói lở hạ lưu để có giải pháp bảo vệ phù hợp.
 Hồ chứa nước Krông Buk Hạ có công trình tràn là hình thức tràn mặt

1.4.1 VẤN ĐỀ XÓI SAU TRÀN XẢ LŨ
Việc xây dựng công trình thủy lợi trên sông đã phá hủy trạng thái cân
bằng của lòng dẫn và có thể dẫn đến xói ở hạ lưu. Xói xuất hiện ở ngay chân
công trình, nơi có lưu tốc rất lớn lại phân bố không đều, nơi có mạch động lưu
tốc và áp lực rất lớn. Đất được một phần bị cuốn lốc vào trong các xoáy nước,
phần khác được mang về hạ lưu rồi lắng đọng tạo thành các bãi bồi.
 Quá trình xói có thể chia thành ba giai đoạn:
(1) Giai đoạn đầu: Xói trong khoảng thời gian tương đối ngắn, hố xói
được tạo nên rất nhanh (các kích thước hình học của hố xói tăng rất nhanh
theo thời gian).
(2) Giai đoạn hai: Tiếp theo giai đoạn đầu, xói trong giai đoạn này diễn
ra từ từ. Sự phá hủy lòng dẫn diễn ra tương đối chậm. Thời gian của giai đoạn
này là rất lớn.
(3) Giai đoạn ba: Sự mở rộng của xói đến một chiều dài nhất định ở hạ
lưu dẫn đến giảm cao trình đáy của long dẫn. Giai đoạn này kéo dài bao lâu
tùy vào độ dốc của lòng dẫn.
 Những nguyên nhân dẫn đến xói cục bộ ngay sau chân công trình:
(1) Do không tiêu hao hết năng lượng thừa của dòng nước ở hạ lưu.
(2) Việc co hẹp lòng đẫn (do xây dựng công trình) đã dẫn đến việc tăng
lên một cách đáng kể lưu lượng đơn vị và lưu tốc dòng chảy sau công trình
trong sự so sánh với lưu lượng, lưu tốc trong những điều kiện tự nhiên. Ở hạ
lưu công trình xuất hiện dòng chảy với mạch động rất lớn của lưu tốc và áp
lực. Chính mạch động này làm tăng khả năng xói của dòng chảy lên nhiều
lần.
(3) Do hình thức, khích thước, và vật liệu không hợp lý ở nhiều bộ phận
kết cấu công trìnhtạo những hiện tượng thủy lực có lợi cho sự xuất hiện xói.
18
(4) Sử dụng công trình không theo quy trình cá biệt lại không có quy
trình. Không kịp thời bảo dưỡng, tu sửa nhỏ công trình.
(5) Dòng chảy qua công trình vượt qua sức chịu theo thiết kế của nó.

- Xói trên nền đất và nền đá.
- Xói có bãi bồi và xói không có bãi bồi.
- Xói không bồi hoàn và xói có bồi hoàn trở lại.
- Xói có dự báo trước và xói không có dự báo trước.
Việc nghiên cứu về xói để có biện pháp không cho xói xuất hiện hoặc
khắc phục hố xói không có dự báo trước; Lựa chọn các kích thước, hình thức
thích hợp khi chủ động cho xói xuất hiện
1.4.2 VẤN ĐỀ VỀ TÍNH TOÁN THỦY LỰC TIÊU NĂNG PHÒNG
XÓI SAU TRÀN XẢ LŨ
Dòng chảy qua tràn chịu ảnh hưởng của điều kiện biên thay đổi. Nên sự
tương tác của dòng chảy đối với tràn cũng như với các công trình khác sẽ tạo
ra các hiện tượng thủy lực phức tạp. Vì vậy tính toán thủy lực trong thiết kế
tràn là vấn đề quan trọng, bao gồm các tính toán sau:
- Tính khả năng tháo để quyết định hình dạng và kích thước cửa tháo.
- Tính toán tiêu năng để quyết định các kết cấu tiêu năng và kết cấu
bảo vệ lòng dẫn.
- Phân tích các yếu tố thủy động lực của dòng chảy để xác định các tải
trọng của dòng chảy tác động lên kết cấu cũng như làm căn cứ để sửa đổi kết
cấu tác động lại dòng chảy nhằm hạn chế những bất lợi do dòng chảy gây ra.
- Phân tích những tác động đặc biệt của dòng chảy lên công trình như
các hiện tượng khí thực, hiện tượng xói lòng dẫn…
20
Về bản chất thủy lực nối tiếp thượng và hạ lưu đập tràn có tính chất
không gian, nhưng khi thiết kế thì tính theo bài toán phẳng cho nên sẽ có
nhiều sai số về tính toán thủy lực dẫn đến việc lựa chọn kích thước, kết cấu
tiêu năng đôi khi không phù hợp.
Việc tính toán thủy lực lựa chọn hình thức kết cấu hợp lý cho việc tiêu
năng sau tràn, phòng xói khi xét đến chế độ vận hành tràn xả lũ làm việc với
nhiều cấp lưu lượng, mực nước, các chế độ vận hành với độ mở cửa van khác
nhau theo các trật tự khác nhau là rất phức tạp vì nó chịu ảnh hưởng của nhiều

nay áp dụng nhiều phương pháp khác nhau như:
22
- Phương pháp lý luận: Phương pháp này thường dẫn tới áp dụng các
công thức lý luận kết hợp với các hệ số hiệu chỉnh.
- Phương pháp thực nghiệm mô hình: Mô hình thí nghiệm mô phỏng
được công trình thực kể cả trong điều kiện phức tạp, tuy nhiên hiện tượng
sóng vỗ thì chưa thể hiện được chính xác.
Từ thực nghiệm mô hình thủy lực xây dựng các công thức thực nghiệm.
Các công thức này có phạm vi ứng dụng nhất định và có kết quả rất gần với
thực tế. Ngoài ra, phương pháp này còn dùng để kiểm chứng các kết quả có
được từ phương pháp lý luận.
- Nghiên cứu trên nguyên hình: Chính là mô hình có tỷ lệ 1:1 và mọi
điều kiện tương tự được đảm bảo. Nhưng dòng chảy trong thực tế lại diễn ra
theo một quá trình ngoài ý chủ quan của con người.
Khi nghiên cứu về tiêu năng có thể áp dụng độc lập các phương pháp
hoặc sử dụng cả ba phương pháp kết hợp với nhau.
2.1.4 NỐI TIẾP DÒNG CHẢY HẠ LƯU CÔNG TRÌNH TRÀN
2.1.4.1 Khái niệm về nước nhảy:
Hiện tượng thủy lực nảy sinh trong quá trình dòng chảy chuyển từ trạng
thái chảy xiết sang chảy êm gọi là nước nhảy. Tại đó, đường mặt nước mất
liên tục, độ sâu dòng chảy tăng từ độ sâu nhỏ hơn độ sâu phân giới sang độ
sâu lớn hơn độ sâu phân giới.
Nước nhảy gồm có khu luồng chính và khu nước xoáy
23
h
,
k
h
,,
1

h
.
• Nước nhảy dâng
• Nước nhảy mặt
• Nước nhảy sóng khi:
2
'
"
<
h
h
- Theo vị trí nước nhảy:
• Nước nhảy phóng xa khi : h
c
” > h
h
.
• Nước nhảy tại chỗ khi : h
c
” = h
h
.
• Nước nhảy ngập khi : h
c
” < h
h
.
- Theo trị số Froude trước nước nhảy:
• Nước nhảy sóng khi : F
r

c
<h
k
, do vậy nối tiếp chảy đáy bắt buộc phải qua nước nhảy.
Gọi h’ là độ sâu liên hiệp với h
h
v à h” là độ sâu liên hiệp với h
c
, nếu:
h
c
”>h
h
(hay h
h

>h
c
): nối tiếp bằng nước nhảy phóng xa (hình 2-3). Năng
lượng thừa được tiêu hao bằng tổn thất dọc đường ở đoạn nước dâng và một
phần được tiêu hao bằng nước nhảy.
h
c
”=h
h
(h
h
’=h
c
): nối tiếp bằng nước nhảy tại chỗ (hình 2-4). Năng lượng

C
C
h
c
Hỡnh 2-4
h
c
C
C
hh
Hỡnh 2-5
ẹửụứng nửụực haù b2
hh
C
C
h
c
i>ik
k
k
N
N
Hỡnh 2-6
i>ik
h
c
C
C
hh
Hỡnh 2-7

c
< h
h
: cú ng nc dõng c
2
ni tip vi dũng u trong kờnh dn
(hỡnh 2-8).
b) Hỡnh thc ni tip trng thỏi chy mt:
Trng thỏi chy mt l trng thỏi m lu tc ln nht ca dũng chy
khụng xut hin gn mt thoỏng (hỡnh 2-9)
U
max
h
h
E
O
Hỡnh 2-9: Ni tip chy mt

Trích đoạn CÁC THIẾT BỊ VÀ KỸ THUẬT ĐO ĐẠC THU THẬP SỐ LIỆU LỰA CHỌN GIẢI PHÁP TIÊU NĂNG HỢP LÝ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status