HỌC VIỆN NGOẠI GIAO VIỆT NAM
KHOA CHÍNH TRỊ - NGOẠI GIAO VIỆT NAM
BỘ MÔN CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI
BÀI TẬP LỚN
Đề tài:
Vấn đề công nhận nền kinh tế thị trường ở Việt Nam và tác
động của nó đến quan hệ thương mại Việt – Mỹ sau bình
thường hóa quan hệ 1995
Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Minh Ngọc
Lớp: A33 1
MỤC LỤC
I. Lời mở đầu ……………………………………………………………………… 2
II. Nội dung chính ………………………………………………………………… 3
1. Vấn đề công nhận nền kinh tế thị trường ở Việt Nam ……………………3
2. Tác động của việc Mỹ phủ nhận nền kinh tế Việt Nam có tính chất thị
trường đến quan hệ thương mại hai nước ……………………………………………6
a. Vụ kiện chống bán phá giá cá tra, cá basa năm 2001 – 2002…………6
b. Khó khăn trong đàm phán song phương với Mỹ trong quá trình gia
nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) …………………………………… 9
III. Kết luận ……………………………………………………………………11
Tài liệu tham khảo …………………………………………………………… 12
Mức tự do trong hoạt động của các công ty có vốn nước ngoài.
Phạm vi sở hữu của Chính phủ với các phương tiện sản xuất.
Phạm vi kiểm soát của Chính phủ đối với các quyết định về giá cả.
Các yếu tố khác.
Trong quá trình điều tra, Bộ Thương mại Mỹ nhận thấy nền kinh tế Việt Nam
vẫn trong quá trình chuyển đổi và chưa thực sự đạt tiêu chuẩn của một nền kinh tế thị
trường . Ðồng tiền của Việt Nam chưa hoàn toàn được tự do chuyển đổi trên thị trường
vốn. Thêm vào đó là sự thiếu vắng quyền sở hữu đất tư, quá trình tư nhân hoá diễn ra
chậm chạp. Dù tại Việt Nam đang diễn ra sự phát triển nhanh chóng và đáng khích lệ
của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, Bộ thương mại Mỹ cho rằng mức độ đổi mới còn rất
4
hạn chế, đặc biệt là trong lĩnh vực ngân hàng và công nghiệp. Cụ thể, Việt Nam tại thời
điểm đó chưa cho phép các nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn và khai thác thị trường tiền
tệ - ngân hàng. Ngoài ra, các ngành công nghiệp chính yếu như luyện kim, sản xuất
máy móc, thiết bị, công nghiệp năng lượng… đều thuộc thành phần kinh tế nhà nước.
Từ đó, phía Mỹ bày tỏ sự lo ngại về việc chính phủ Việt Nam tiếp tục kiểm soát chặt
nền kinh tế trong nước.
Phản ứng trước những kết luận vừa được đưa ra, Bộ trưởng Bộ Thương mại
Việt Nam đã gửi thư cho ngài Bộ trưởng Bộ Thương mại Mỹ và trực tiếp gặp ngài Đại
sứ của nước này tại Việt Nam để phản đối quyết định trên, yêu cầu phía Mỹ xem xét lại
kết luận của mình, và đề nghị không đưa thêm ra những kết luận thiếu khách quan,
không công bằng làm ảnh hưởng đến sự phát triển quan hệ thương mại giữa hai nước
theo nội dung của Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ.
Phải khẳng định rõ, nền kinh tế Việt Nam đang vận hành theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước là một thực tế khách quan, không phụ thuộc vào sự đánh
giá của một tổ chức và cá nhân nào. Trong thực tế, cũng giống như bất kỳ quốc gia nào
có nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, Việt Nam đã và đang hoàn thiện cơ
chế, chính sách để tham gia có hiệu quả vào tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu
vực, nhằm tận dụng thời cơ, vượt qua thử thách, đối phó với những mặt trái của toàn
cầu hóa và những biến động bất thường của nền kinh tế thế giới.
với các nước còn lại, nên các kết luận của Bộ Thương mại nước này là hoàn toàn
không khách quan.
Đề cập đến của kết luận của Bộ Thương mại Mỹ trước đó vài tháng, hai nhà
kinh tế cho rằng, một khi căn cứ để phân loại các nền kinh tế đã thiếu khách quan, phủ
nhận “Việt Nam là nền kinh tế phi thị trường” là sự đánh giá mang nặng yếu tố luật
pháp và chính trị, không phản ánh đúng thực tế. Ngoài ra, kết luận đó cũng đơn thuần
6
là một dạng bảo hộ trắng trợn của Chính quyền Mỹ và vi phạm nguyên tắc của Tổ chức
Thương mại Quốc tế (WTO).
Hai nhà kinh tế đề xuất việc xem xét lại kết luận gần đây của Bộ Thương mại
Mỹ cho trường hợp Việt Nam bằng cách lập bảng so sánh tất cả các góc độ (bao gồm
sáu căn cứ trên) của Việt Nam với các nước đã được Mỹ công nhận là “nền kinh tế thị
trường” như Pháp, Nga, Kazakstan, Ấn Độ, Bangladesh.
Adam McCarty, đồng tác giả bản nghiên cứu, cho rằng nếu đánh giá một cách
công bằng, Việt Nam có thể được công nhận là nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, để
việc công nhận này có sức thuyết phục hơn, Việt Nam vẫn cần phải đẩy mạnh mở cửa
nền kinh tế, tạo ra sân chơi bình đẳng trong hoạt động đầu tư giữa các doanh nghiệp
trong và ngoài nước, và phát triển thị trường tài chính ngang tầm với khu vực.
2. Tác động của việc Mỹ phủ nhận nền kinh tế Việt Nam có tính chất thị trường đến
quan hệ thương mại Việt – Mỹ
a. Vụ kiện chống bán phá giá cá tra, cá basa năm 2001 – 2002
Việc phủ nhận nền kinh tế Việt Nam có tính chất thị trường đã gây tổn hại
nghiêm trọng đến quan hệ thương mại Việt – Mỹ, đặc biệt là về phía Việt Nam. Một ví
dụ điển hình là vụ kiện cá da trơn của Việt Nam xuất khẩu tại Mỹ những năm 2001 –
2002, ngay sau khi Hiệp định thương mại song phương giữa hai nước được ký kết, đã
gây sóng gió cho ngành thủy sản trong nước nói riêng cũng như việc xuất khẩu sang thị
trường Mỹ của nước ta nói chung. Cái cớ chủ yếu để một bộ phận những người nuôi cá
nheo Mỹ kiện chúng ta trong vụ cá da trơn là việc chính phủ Việt Nam đã bảo trợ
ngành nuôi trồng cá sa và cá ba tra, xuất phát từ góc nhìn phiến diện khi cho rằng Nhà
nước ta vẫn kiểm soát nền kinh tế.
Hiệp định thương mại Việt – Mỹ về việc mỗi bên giành cho hàng hóa có xuất xứ ở lãnh
8
thổ nước bên kia sự đối xử dành cho hành hóa nội địa tương tự. Khoản 4 của Điều này
cũng ghi rõ: “Ngoài những nghĩa vụ ghi trong Khoản 2 và 3 của Điều này sẽ không
được áp dụng theo cách khác đối với hàng nhập khẩu hoặc hành hóa nội địa nhằm tạo
ra sự bảo hộ đối với sản phẩm trong nước”. Hiệp định Thương mại song phương là cố
gắng lớn của cả hai phía trong việc bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ, đáp ứng
nguyện vọng và lợi ích của nhân dân hai nước, tạo cho giới doanh nghiệp niềm tin vào
khả năng phát triển thương mại và đầu tư giữa hai bên. Rõ ràng, việc phê chuẩn Luật
số 107-76 là việc đi ngược lại với tinh thần của Hiệp định.
Ngay cả những người trong giới kinh doanh Mỹ cũng chỉ trích gay gắt quyết
định trên. Ông Wally Steven, Chủ tịch một tập đoàn sản xuất thủy sản lớn và uy tín ở
Mỹ đã phát biểu ngày 3/12/2001 bày tỏ sự thất vọng của mình về việc tổng thống Bush
phê chuẩn Luật Ngân sách Nông nghiệp nhằm bảo hộ cho nền công nghiệp cá nheo
trong nước. Luật đã hạn chế tự do thương mại một cách không bình đẳng, trái ngược
với tinh thần khoa học và thực tiễn của thương mại thế giới, tạo một tiền lệ xấu và gây
ảnh hưởng bất lợi cho công nghiệp cá nheo của nước Mỹ bằng cách ru ngủ ngành này
với ảo tưởng về sự bảo hộ giá và bảo hộ thị trường. Thực tế cho thấy, trong thời buổi
toàn cầu hóa ngày nay, để đối phó với các nước đang phát triển, nhiều khi những nền
kinh tế mạnh, như Mỹ cũng phải dùng đến chính sách bảo hộ đã quá lỗi thời, dù họ là
những người luôn lớn tiếng ủng hộ tự do cạnh tranh. Trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế, Việt Nam đã chủ trương tự do hóa thương mại và chấp nhận sự cạnh tranh
ngày càng trở nên gay gắt, nhận thức việc đó chính là động lực cho sự phát triển của
nền kinh tế toàn thế giới, mang lại lợi ích đông đảo cho người tiêu dùng. Tuy nhiên,
điều đó không đồng nghĩa với việc chấp nhận kiểu cạnh tranh không công bằng, những
hành động bất chấp luật lệ và các công ước quốc tế của một số người, bất chấp quyền
lợi của người tiêu dùng ngay trong chính nước mình.
Vụ việc cá tra, cá basa là vụ kiện kéo dài, gây tổn thất cho ngành nuôi trồng
thủy sản của Việt Nam, cũng như mối quan hệ thương mại vừa bắt đầu được hình
9
từ ngày đầu thực thi BTA, Việt Nam đã lập tức được trao quyền tiếp cận thị trường
Mỹ; trong khi đó, quyền tiếp cận thị trường Việt Nam dành cho Mỹ theo quy định
trong BTA lại có hiệu lực dần dần trong một thời gian dài. Các công ty của Mỹ cho
rằng BTA đã không đi xa đến mức cần thiết trong một số lĩnh vực, nhất là lĩnh vực
dịch vụ. Điều này có nghĩa là Mỹ phải xử lý một số vấn đề về tiếp cận thị trường liên
quan đến một số lĩnh vực mà BTA đã không bao hàm.
Về phía Việt Nam, Đại sứ Ngô Quang Xuân, Trưởng Phái đoàn Đại diện Việt
Nam tại Geneva cho rằng yêu cầu của phái Mỹ là quá cao về điều này thì Việt Nam rất
khó đáp ứng ngay, phải có thời gian nhất định. Cần phải hiểu rằng, nền kinh tế Việt
Nam là một nền kinh tế đang chuyển đổi, có một số điểm còn tương đối nhạy cảm. Rất
khó để có thể mở cửa toàn bộ thị trường cho mọi thành viên WTO. Để đáp ứng được
hết các yêu cầu của Mỹ, Đại sức cho rằng Việt Nam phải trở thành một nước phát triển
rất cao, điều mà một một nước còn kém phát triển như Việt Nam cần phải trải qua hàng
chục năm cải cách, đổi mới mới có thể đạt được.
11
III. Kết luận
Không thể có một quan hệ thương mại Việt – Mỹ được “bình thường hóa” hoàn
toàn khi quá khứ chiến tranh vẫn còn cách chưa đủ xa, cũng như khi tham vọng về
chính trị của một đế quốc như Mỹ đối với Việt Nam chưa hoàn toàn dừng lại. Tính đến
thời điểm hiện tại, Mỹ vẫn phủ nhận tính chất thị trường của nền kinh tế Việt Nam, và
chúng ta vẫn phải đối mặt hết lần này đến lần khác các vụ kiện cáo liên quan đến
chống bán phá giá của các hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ, mới đây nhất là
kiện chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với túi nhựa PE. Tuy nhiên, không thể phủ
nhận những nỗ lực từ cả hai phía khi cuối năm 2006 Việt Nam đã chính thức gia nhập
tổ chức thương mại thế giới WTO sau khi kết thúc đàm phán song phương với Mỹ -
đối tác khó khăn nhất cũng như việc tổng thống Mỹ G. Bush đặt bút ký và chính thức
ban hành đạo luật thiết lập quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) với Việt
Nam vào thời điểm đó. Do đó, chúng ta có cơ sở để đặt niềm tin vào việc quan hệ
thương mại Việt Mỹ ngày càng được cải thiện và việc Mỹ sớm công nhận nền kinh tế
thị trường ở Việt Nam dựa trên điều kiện thực tế là nước ta đang thực hiện những cải