tổng quan về hiệp hội các quốc gia đông nam á - Pdf 22


1 Tiểu luận
TỔNG QUAN VỀ HIỆP HỘI CÁC
QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á

3I . TỔNG QUAN VỀ HIỆP HỘI CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á
(Association of Southeast Asia Nations viết tắt là ASEAN)
Tháng 8 năm 1967, ASEAN ra đời bao gồm năm nước thành viên là
Indonesia, Malaixia, Philippin, Xingapore và Thái Lan. Thực tế cho thấy các
nước Đông Nam Á khi đó phải đối mặt với tình huống rất khó khăn và phức tạp
do chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam và Đông Dương. Jusuf Wanandi,
học giả thuộc trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế ở Giacacta,
Indonesia nhận xét: “Sự ra đời của ASEAN cũng có thể xem là phản ứng đối
với cuộc chiến tranh Việt Nam chưa có hồi kết, và là nhu cầu của các quốc gia
Đông Nam Á không cộng sản cùng nhau đối mặt với khả năng rút quân của Mỹ
khỏi khu vực”
1
. Nguyên Bộ trưởng Thương mại, thượng nghị sĩ Thái Lan
Narongchai Akrasanee ghi nhận: “Chính phủ các quốc gia thành viên thành lập
Hiệp hội này nhằm mục đích chống cộng, họ tin tưởng tổ chức này có thể ngăn
cản được làn sóng cộng sản”
2
.
Mục tiêu hoạt động của tổ chức này là giữ vững hòa bình, an ninh, ổn
định khu vực, xây dựng một cộng đồng hòa hợp, hợp tác để cùng nhau phát
triển kinh tế-xã hội. Dựa trên nguyên tắc bình đẳng, nhất trí, tôn trọng độc lập
chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và các điều khoản
ký kết trong Hiệp ước Bali năm 1976.
Mối quan hệ Việt Nam – ASEAN trong thời kỳ 1967 – 1995 đã trải qua

ước hữu nghị và hợp tác với Liên Xô mở đường cho Liên Xô có chỗ đứng ở
Đông Nam Á. Vì vậy, mặc dù đã bình thường hóa quan hệ với nước ta trên cơ
sở chính sách bốn điểm, các nước ASEAN vẫn không thật sự yên tâm với ý đồ
lâu dài của ta.
Trong một thời kỳ khá dài (1967 – 1987) “Việt Nam đã xem ASEAN là
một khối quân sự chính trị được lập ra thay thế SEATO chống Việt Nam,
Trung Quốc và các lực lượng cách mạng ở Đông Nam Á”. Cách đánh giá như
vậy đã khiến nước ta không thấy được mặt tích cực trong chính sách đối ngoại
của ASEAN, ngay từ khi tổ chức này được thành lập vào tháng 8 năm 1967.
Việc xem ASEAN là một tổ chức thân Mỹ, hoàn toàn thù địch với Việt Nam,
Lào, Campuchia đã làm cho hố ngăn cách giữa Việt Nam và các nước láng
giềng Đông Nam Á ngày càng rộng, càng sâu thêm”.
33
Thu Mỹ. Tư duy chính trị quốc tế mới của Việt Nam và tác động của nó tới
quan hệ giữa nước ta và các nước ASEAN. Trong: Quan hệ Việt Nam –
ASEAN. Viện Châu Á và Thái Bình Dương, H.1992. Trang 23.

5
Cách nhìn nhận đánh giá như vậy về ASEAN không chỉ ghi rõ dấu ấn
của thời kỳ chiến tranh lạnh trong khuôn khổ trật tự thế giới hai cực Yanta
đang còn bao trùm thế giới, mà còn cho thấy rõ vấn đề đã bị “khúc xạ” như thế
nào qua lăng kính ý thức hệ: điều đó đã làm cho chúng ta không thấy được các
nhân tố tích cực – thường là tinh thần yêu nước và bảo vệ dân tộc của các nước
Đông Nam Á nói chung.

Vấn đề Campuchia:
Bản thân ASEAN cũng gia tăng hợp tác với nhau, kể cả trên các lĩnh

tác động xấu đến tâm lý, tư tưởng của một số cán bộ, đảng viên và một bộ phận
nhân dân. Xuất hiện những biểu hiện dao động, hoài nghi với chủ nghĩa xã hội
như: Liệu chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác – Leenin có thích hợp với Việt Nam
không, nhất nguyên hay đa nguyên chính trị? Liên Xô và hệ thống xã hội chủ
nghĩa tan rã, số phận tương lai của Việt Nam ra sao? Tất cả các yếu tố đó đã
làm cho tiến trình hội nhập khu vực của nước ta chậm lại. Đặt ra cho Đảng và
Nhà nước những nhiệm vụ lịch sử mới nhằm tìm ra giải pháp để đưa nước ta
khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội đồng thời ngăn chặn ảnh hưởng xấu do
việc chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu sụp đổ và Liên Xô tan rã để từ đó khẳng định
đường lối phát triển mới và hình thành những nét cơ bản về con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội ở nước ta, một trong tiến trình đó là thúc đẩy quá trình hội
nhập quốc tế và khu vực.

II . NGUYÊN NHÂN THÚC ĐẨY

Bối cảnh thế giới và khu vực
Bên cạnh những nguyên nhân hạn chế sự có mặt chính thức của Việt
Nam trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, thì những yếu tố như đường lối
chính sách, bản chất dân tộc và sự chuyển biến mạnh mẽ của tình hình thế giới
và khu vực đã giúp cho Việt Nam có một chỗ đứng vững vàng trong thời gian
hơn 13 năm vừa qua.
Chiến tranh lạnh kết thúc, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên xô và các
nước Đông Âu sụp đổ đã làm cho Việt Nam không còn chỗ dựa vững chắc, đòi
hỏi đất nước này phải liên minh với các tổ chức thế giới và khu vực để tồn tại,
xây dựng và phát triển. Hơn nữa, những thành tựu của cách mạng khoa học

7
công nghệ hiện đại được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực cuộc sống con
người, đưa tới những thay đổi sâu sắc, to lớn về công cụ sản xuất, vật liệu,
phương thức lao động, quản lý sản xuất và cả trong đời sống con người mở ra

điểm đúng về những vấn đề liên quan tới vị trí địa- chính trị , địa –lịch sử và
văn hoá của nước nhà , khi mà xu thế khu vực hoá , toàn cầu hoá cũng như tính
tương thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng trở nên mạnh mẽ.
Chính sách đối ngoại của Việt Nam

Có thể nói năm 1986 là thời điểm khởi đầu cho quá trình hòa giải ở
Đông Nam Á. Trong đường lối đổi mới do Đại hội VI đề ra, Đảng ta khẳng
định nhiệm vụ của công tác đối ngoại là: “Ra sức kết hợp sức mạnh cảu dân tộc
với sức mạnh của thời đại, phấn đấu giữ vững hòa bình ở Đông Nam Á và trên
thế giới” với mục tiêu “tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội bà bảo vệ Tổ quốc, đồng thời tích cực góp phần vào
cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân
chủ và chủ nghĩa xã hội”. Về quan hệ trong khu vực, Đảng tuyên bố: “Chúng ta
mong muốn và sẵn sàng cùng các nước trong khu vực thương lượng để giải
quyết các vấn đề ở Đông Nam Á, thiết lập quan hệ cùng tồn tại hòa bình, xây
dựng Đông Nam Á thành khu vực hòa bình, ổn định và hợp tác”.
Tháng 5/1988 Hội nghị Bộ Chính trị lần thứ 13 đã ra nghị quyết về đổi
mới tư duy trong công tác đối ngoại nhằm củng cố và giữ vững hòa bình để tập
trung xây dựng và phát triển kinh tế, phải phá bỏ sự bao vây cô lập để tạo điều
kiện giữ vững độc lập và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Giải pháp cụ
thể tập trung vào ba việc lớn là rút toàn bộ quân tình nguyện Việt Nam ra khỏi
Campuchia, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và cải thiện quan hệ với
Mỹ. Lập trường của Việt Nam phù hợp với xu thế của thế giới và nguyện vọng
chung của các nước Đông Nam Á nên đạt được sự hưởng ứng thuận lợi từ phía
các nước ASEAN.
Với sự vận dụng linh hoạt và có nguyên tắc đường lối đổi mới, chúng ta
đã cải thiện cơ bản quan hệ trong khu vực cũng như trên phạm vi thế giới. Nhờ
đó, ta có thể vượt qua nhiều khó khăn trước những biến động của tình hình chủ
nghĩa xã hội ở châu Âu, phá vỡ tình trạng bị cô lập hồi đầu những năm 1980 và
hội nhập một cách cẩn trọng vào khu vực và thế giới. Những thành tựu này tạo

gia nhập ASEAN năm 1995. Lần đầu tiên trong lịch sử, nước ta có quan hệ với
10

tất cả các nước lớn. Đến nay ta đã có quan hệ ngoại giao với 167 nước trong
tổng số 200 nước trên thế giới

.
Sau hiệp định Pari về Campuchia được ký kết năm 1993 và bầu cử ở
Campuchia phù hợp với tình hình mới. Đã có nhiều biện pháp tích cực nhằm
tăng cường và đổi mới quan hệ hợp tác toàn diện, đoàn kết đặc biệt Việt Nam –
Lào, quan tâm việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác và giải quyết tốt vấn
đề biên giới giữa hai nước.
Với các nước ASEAN, ta đã bình thường hóa hoàn toàn quan hệ, chuyển
từ nghi kỵ, đối đầu sang hữu nghị và hợp tác, góp phần tạo môi trường khu vực
thuận lợi cho công cuộc xây dựng đất nước, mở rộng thị trường, thu hút đầu tư,
có thêm đối tác, nâng cao vị thế của Việt Nam ở khu vực và thúc đẩy các mối
quan hệ khác. Xác lập được quan hệ ổn định với các nước lớn. Tất cả các nước
đều coi trọng vai trò của Việt Nam ở Đông Nam Á.
Giải quyết hòa bình các vấn đề biên giới, lãnh thổ, biển, đảo với các
nước liên quan, giữ vững môi trường hòa bình. Đã đàm phán thành công với
Malaixia về giải pháp “gác tranh chấp, cùng khai thác” ở vùng chồng lấn giữa
ta và họ. Sau đó đạt được thỏa thuận về vùng chồng lấn với Indonesia, Thái
Lan trên cơ sở bình đẳng, hai bên đều có lợi; thu hẹp diện tranh chấp vùng biển
giữa ta và các nước ASEAN.

đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, mở rộng hơn nữa quan hệ hữu nghị hợp
tác với tất cả các nước theo khẩu hiệu: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các
nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”.

Thời điểm Việt Nam gia nhập ASEAN năm 1995 chứ không phải là thời
giai trước đó vẫn đang là một đề tài được nhiều học giả quan tâm và nghiên
cứu. Nhưng dù nhìn từ góc độ nào đi chăng nữa thì vẫn có hai yếu tố thúc đẩy
và hạn chế tiến trình hội nhập này. Tuy nhiên, trong các yếu tố mà bài viết đề
cập thì cũng khó mà phân định rõ ràng yếu tố này hoàn toàn là thúc đẩy hay
hạn chế, ví dụ như: sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và
sự tan rã của Liên Xô vừa là nhân tố đòi hỏi Việt Nam phải thay đổi chính sách
12

đối ngoại để phù hợp với tình hình thế giới mặt khác lại đòi hỏi Việt Nam điều
chỉnh chính sách đối nội để khắc phục tư tưởng chủ quan của một số bộ phận
dân chúng để đi đúng hướng và mục tiêu là xây dựng đất nước theo con đường
xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Nhà nước ta đã chọn. Với từng bước thay đổi tư duy trong chính sách đối nội cũng như đối
ngoại, trong thời gian qua đất nước ta đã từng bước phát triển phồn vinh, đem
lại cuộc sống no ấm cho các tầng lớp nhân dân. Việc gia nhập ASEAN tạo điều
kiện cho đất nước ta hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, tham gia vào
nhiều hơn các tổ chức khu vực và quốc tế, tạo điều kiện môi trường đầu tư
thuận lợi, an toàn hơn nữa để các đối tác đầu tư vào đất nước ta làm cho đất
nước ta ngày thêm giàu mạnh.


4 . Quan hệ Việt Nam – ASEAN: Mấy bài học lịch sử từ nhận thức và
hành động của Việt Nam, Lê Văn Quang, tập san khoa học xã hội và nhân văn,
số 4/1997.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status