1
GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
1. Đặt vấn đề Tổn thương khí phế quản ( KPQ) do chấn thương là cấp
cứu ưu tiên hàng đầu ở bệnh nhân đa thương theo phân loại A (airway),
B, C nói chung, và là một trong những cấp cứu ngoại khoa nặng nói
riêng. Theo một số cơng trình của các tác giả trên thế giới bệnh chiếm
tỷ lệ thấp: Bertelsen 2,8 %, Kemmerer 1%, De La Roch 1,8 % và
thường nằm trong bệnh cảnh đa chấn thương như: chấn thương sọ não,
chấn thương bụng, gãy xương chậu, gãy xương đùi, dập phổi…do đó sẽ
làm tăng nguy cơ bỏ sót và mức độ nặng cho bệnh nhân. Nhưng ngày
nay, với thực trạng phát triển kinh tế và giao thông của thành phố Hồ
Chí Minh cùng với các tỉnh lân cận, tỷ lệ tổn thương khí phế quản do
chấn thương có khuynh hướng gia tăng nhiều hơn, đặc biệt gặp ở
những bệnh nhân tuổi còn rất trẻ. Nguyên nhân chủ yếu vẫn là do tai
nạn giao thông, tai nạn lao động và tai nạn xã hội. Có hai nguyên
nhân chính gây nên tổn thương KPQ: vết thương xuyên thấu và chấn
thương kín trực tiếp vào vùng cổ và ngực. Vết thương xuyên thấu do
vật sắc nhọn gây nên như: dao, cây nhọn, thanh kim loại, hoặc do thầy
thuốc khi soi khí phế quản , thường gặp ở khí quản đoạn cổ chiếm tỷ
lệ 70 % đối với loại vết thương xuyên thấu KPQ và có tỷ lệ tử vong
6- 18 %. Tổn thương có thể rách đơn thuần khí phế quản hoặc xuyên
thấu vào các cơ quan lân cận như: thực quản, tuyến giáp, bó mạch
cảnh, thần kinh quặt ngược… Ngược lại, chấn thương kín thường gây
nên tổn thương KPQ ở vùng sụn số 1, 2 hoặc sụn nhẫn nếu ở khí quản
cổ và tổn thương khí phế quản xảy ra cách carina khoảng 2,5 cen-ti-
met nếu ở trong ngực. Theo Riyad Karmy- Jones và Douglas E. Wood
(2008) loại tổn thương KPQ trong ngực do chấn thương kín gây nên có
tỷ lệ chết trước nhập viện trên. Khi tổn thương khí phế quản xảy ra, sẽ
có những hiện tượng: lưu lượng oxy mất qua vết thương KPQ, dịch
máu chảy vào trong lòng KPQ, khơng khí từ trong lòng KPQ đi vào
xoang màng phổi, trung thất, mơ dưới da… gây nên tràn khí màng phổi,
ngoại Lồng ngực-Tim mạch. Nếu không xử trí kòp thời biến chứng có
thể gây tử vong (do hẹp tắc KPQ cấp tính) hoặc sẹo hẹp KPQ (làm
xẹp phổi mạn tính hoặc mở KQ ra da vónh viễn). Vì thế, chẩn đoán và
phẫu thuật sớm đồng thời khâu nối phục hồi KPQ đúng kỹ thuật sẽ
tránh được các biến chứng nêu trên.
3. Những đóng góp mới của luận án
Luận án đã tổng kết 132 trường hợp chấn thương KPQ. Cơ chế chấn
thương gồm vết thương xuyên thấu và chấn thương kín trực tiếp vào
vùng cổ hoặc ngực. Các triệu chứng lâm sàng gợi ý nhận biết sớm:
Dấu hiệu phì phò qua vết thương cổ, nói khó hoặc thay đổi giọng nói,
3
tràn khí dưới da tiến triển, tràn khí màng phổi (TKMP) lượng nhiều và
sau khi đặt dẫn lưu màng phổi bọt khí ra liên tục kèm X quang phổi
biểu hiện phổi không nở. Nội soi KPQ là phương tiện chẩn đoán xác
đònh. Luận án đã đưa ra chẩn đoán và phẫu thuật sớm đồng thời khâu
nối KPQ đúng kỹ thuật sẽ tránh tử vong hoặc sẹo hẹp KPQ.
4. Bố cục luận án:
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Lòch sử Vào khoảng giữa thập niên 1500, Pare là người đầu tiên
đã khâu nối hai trường hợp vết thương xuyên thấu KPQ. Năm 1848,
Webb đã mô tả một trường hợp tổn thương khí phế quản đầu tiên của
người đi bộ bò xe ngựa chẹt, mà bệnh nhân vẫn còn sống sót. Năm
1873 Seuvre phát hiện một trường hợp đã tử vong do tai nạn giao
thông mà có rách phế quản chính. Năm 1927, Krinitzki đã báo cáo một
trường hợp rách phế quản chính phải ở phụ nữ 30 tuổi do thùng rượu đè trúng
ngực. Nhưng Krinitzki thấy không phải bất cứ trường hợp tổn thương khí phế
quản nào cũng gây tử vong. Ông còn khẳng đònh vết rách khí phế quản có
khả năng tự lành vết thương. Năm 1931, Nissen mô tả tổn thương sẹo hẹp
phế quản chính ở vò trí bò rách và gây xẹp phổi mạn tính. Sau đó ông đã mổ
Howitz (1972) đã mổ tử thi 1178 bệnh nhân tử vong do đa chấn
thương, có 33 bệnh nhân tổn thương khí phế quản tỷ lệ khoảng 2.8%.
Trong đó 80% tử vong ngay lúc xảy ra tai nạn hoặc trong 2 giờ sau
nhập viện. Kemmere và các cộng sự (1961) đã phát hiện trong 585
trường hợp tử vong do tai nạn giao thông có 5 trường hợp rách khí phế
quản tương đương tỷ lệ 1%, trong đó 4 trường hợp chết vài giờ sau đó,
1 trường hợp sau khi nối khí phế quản gây hẹp khí quản và tử vong
sau đó. De La Roch và Kayler (1986) báo cáo đã thống kê được 6
bệnh nhân có tổn thương khí phế quản trong 327 bệnh nhân đa chấn
thương đã bình phục xuất viện tỷ lệ 1.8%. Ngược lại, ở một nghiên
cứu khác. Theo Angood và các cộng sự cho biết đã tìm thấy 9 bệnh
nhân có tổn thương KPQ ở 2.000 bệnh nhân đa chấn thương, tỷ lệ
khoảng 1%. Nhìn chung tỷ lệ tổn thương khí phế quản do chấn thương
kín khoảng từ 0.5-2%. Theo Lynn (1972) hơn 80% vò trí tổn thương
khí phế quản cách carina bán kính 2,5cm nguyên nhân do chấn thương
kín, trong đó 22% rách khí quản đoạn ngực, 27% rách phế quản chính
bên phải, 17% rách phế quản chính bên trái. 8% rách phức tạp khí
quản đoạn ngực kèm phế quản chính và 16% rách phế quản thùy.
1.3. Cấu trúc và vò trí Khí phế quản là một ống dẫn khí nằm ở cổ và
ngực. Có thành phần chính được cấu tạo bởi sụn sợi. Thứ tự từ trong ra
5
ngoài có các lớp: lớp niêm mạc, dưới niêm, sụn và bao mô liên kết.
Khí quản có dạng hình ống dài khoảng 12- 15 cm, bao gồm từ 16 đến
20 vòng sụn khí quản, đường kính khí quản ở người lớn khoảng 1.5-
2.5 cm. Khí quản bắt đầu từ vòng sụn số 1 tiếp nối với sụn nhẫn, được
cố đònh bằng dây chằng nhẫn khí quản và tận cùng ở chỗ chia thành
hai phế quản chính. Vòng sụn đầu tiên to và rộng hơn các vòng sụn
trung tâm, vòng sụn cuối cùng ở carina cũng rộng và dày hơn các vòng
sụn khác. Giữa các vòng sụn được nối bởi cơ trơn bao gồm hai lớp: lớp
đó xử trí tổn thương KPQ. Những tổn thương khác sẽ xử trí sau cùng.
1.5.1. Nguyên tắc của phương pháp gây mê
Vết thương khí quản cổ lớn có thể đặt tạm ống nội khí quản vào đầu xa khí
quản qua vết thương. Sau khi cho bệnh nhân mê, dưới sự kiểm soát của
phẫu thuật viên, bác só gây mê có thể đặt lại ống nội khí quản qua đường
miệng hoặc đường mũi. Khi xác đònh vò trí vết thương khí quản, cần đặt ống
nội khí quản sao cho bóng ở đầu ống NKQ nằm ở dưới vết thương. Tổn
thương phế quản chính hoặc phế quản thùy, đặt ống nội khí quản carlene
qua phế quản chính của phổi còn lại.
1.5.2. Phương pháp mổ
Mở cổ đường ngang trên hõm ức khoảng 1- 2 cm nếu tổn thương KQ cổ
Mở ngực phải qua liên sườn 4 hoặc 5 đường sau bên với tổn thương KQ ngực
hoặc PQ phải. Mở ngực trái ở liên sườn 4 hoặc 5 khi tổn thương PQ trái.
Mở xương ức có thể sử dụng máy tim phổi nhân tạo nếu tổn thương
mạch máu lớn hoặc tổn thương tim.
Khâu nối KPQ qua vòng sụn mỗi mũi khâu cách nhau 2- 4mm, miệng
nối không quá căng. Chỉ khâu miệng nối khí phế quản viscryl, PDS.
Tránh bóc tách KPQ quá nhiều sẽ gây nguy cơ thiếu máu nuôi miệng
nối, từ đó đưa đến sự lành sẹo vết mổ không tốt.
1.5.3. Hậu phẫu
Trợ giúp thở cho bệnh nhân bằng máy thở vài ngày, kết hợp với tập
thở và tập vật lý trò liệu, cai máy thở sớm.
Theo dõi ống dẫn lưu màng phổi đánh giá lượng khí máu thoát ra bình
DLMP. Kháng sinh phổ rộng, giảm đau
Chương 2 ĐỐI TƯNGVÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯNG NGHIÊN CỨU
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh
Nghiên cứu từ 01-01-2002 đến 31-12-2010.
7
cáo. Xem xét trong hồn cảnh hiện tại về trang thiết bị kỹ thuật, con
người, hệ thống y tế, đặc điểm tổn thương khí phế quản, chúng tơi ước
tính p= 9%, d = sai số cho phép ( allowable error) từ 0,05- 0,1. Ở đây
chúng tơi chọn d= 0.05. Như vậy:
65
05,0
91,009,096,1
2
xx
n
Mẫu nghiên cứu chúng tơi thu thập được 132 bệnh nhân.
2.3. CÁCH THỨC TIẾN HÀNH
Ghi nhận, đánh giá và phân tích các triệu chứng lâm sàng, cận lâm
sàng, hình ảnh học, nội soi KPQ, chỉ đònh phẫu thuật. kỹ thuật khâu
nối KPQ, theo dõi và đánh giá bệnh nhân sau mổ.
2.3.1. Triệu chứng
2.3.1.1. Lâm sàng
Tuổi, giới, cơ chế chấn thương. Tổng trạng chung: tri giác, sinh hiệu, da
niêm, các dấu hiệu khó thở
8
Các triệu chứng gợi ý có chấn thương KPQ: phì phò qua vết thương, TKMP,
TKDD, TK trung thất, bọt khí tiếp tục thoát ra ống dẫn lưu màng phổi, triệu
chứng tràn khí dưới da không giảm, mà còn tăng thêm.
2.3.1.2. Cận lâm sàng
Khí máu động mạch: Để đánh giá mức độ giảm PaO2 máu…
X quang ngực thẳng và X quang cổ thẳng nghiêng:Tràn khí khoang
vùng cổ sâu, TK dưới da và trung thất TKMP lượng nhiều dạng phổi
rơi. Hình ảnh phổi không nở sau khi đặt dẫn lưu màng phổi
phế quản chính hoặc PQ thùy bên phải, mở ngực phải qua liên sườn
IV hoặc V đường sau bên. Tổn thương PQ chính hoặc PQ thùy phổi
trái, mở ngực trái qua liên sườn IV hoặc V đường sau bên. Tổn thương
khí phế quản có kèm theo tổn thương trung thất như: mạch máu lớn,
tim, cần thực hiện dùng chạy máy tim phổi nhân tạo, mở xương ức và
có thể mở ngực phối hợp.
Phương pháp khâu nối khí phế quản
Cắt lọc gọn miệng nối KPQ trước khi khâu. Hai miệng nối khí phế
quản không được quá căng. Lớp niêm mạc của hai miệng nối khí phế
quản phải tiếp xúc với nhau.
Khâu kim qua vòng sụn mỗi đầu KPQ, mỗi mũi khâu cách nhau khoảng 2-
4 mm, nơ buộc ở ngoài lòng KPQ. Mũi khâu xuyên qua các lớp của thành
KPQ, nhưng không xuyên qua lớp niêm mạc
Chỉ dùng trong phẫu thuật là prolen, vicryl hoặc PDS loại 3.0â và 4.0â.
Trong lúc mổ cần phối hợp chặt chẽ với bác só gây mê:
Với vết thương xuyên thấu hai thành khí quản từ trước ra sau. Tạm
thời rút ống NKQ lên qua vết thương trong vài giây mỗi lần, thực hiện
từng mũi khâu của vết thương thành sau khí quản trước, sau đó mới
khâu vết thương thành trước, hoặc đặt ống nội khí quản nhỏ so với
khẩu kính khí quản để vén ống nội khí quản về một bên để thực hiện
khâu vết thương ở thành sau KQ.
Những tổn thương KPQ trong lồng ngực, nếu đứt lìa phế quản chính
hoặc PQ thùy, cắt lọc nối tận- tận trực tiếp hai đầu. Nếu tổn thương ở
vò trí ngã ba chỗ chia phế quản thùy trên và trung gian, cắt lọc nối phế
quản chính vào phế quản trung gian, cắm lại phế quản thùy trên vào
phế quản chính.
Kiểm tra sau khâu nối khí phế quản
Kết hợp với Bác sĩ gây mê bóp móng, khi cho nươc muối sinh lý vào
lồng ngực hoặc nội soi KPQ trên bàn mỗ.
2.3.4. Điều trò và theo dõi sau phẫu thuật
bình thường
Đã tử vong
hoặc suy HH
X-quang
Phổi nở tốt
Phổi xẹp một phần
khơng đáng kể
Xẹp tồn bộ
một bên phổi
Nội soi
Miệng nối thơng
thống
Hẹp một phần trong
lòng KPQ
Bít tắc KPQ
Giai đoạn II : Hẹn kiểm tra tái khám theo dõi bệnh nhân từ 1 năm đến 6 năm ở
những bệnh nhân đã phẫu thuật.
KẾT QUẢ
TỐT
TRUNG BÌNH
XẤU
Lâm sàng
Sinh hoạt cá nhân
bình thường
Sinh hoạt cá nhân
bình thường
Khó thở, viêm
phổi tái phát,
mở KQ ra da
Tổng số
(n= 132)
Số ca
Tỉ lệ %
Số ca
Tỉ lệ %
Số ca
Tỉ lệ %
< 6 giờ
21
37,5
40
52,6
61
46,2
6 -24 giờ
33
58,9
29
38,2
62
47
> 24 giờ
2
3,6
7
9,2
9
6,8
Tổng số
+ KPQ trong ngực)
46/ 56
83,9
76/76
100
122/132
92,4
Ho, khạc ra máu ( KQ cổ
+ KPQ trong ngực)
33/ 56
58,9
55/76
72,4
88/132
66,7%
Thay đổi giọng nói (KQ cổ)
48/ 52
92,3
40/40
100
88/92
95,7
Tiếng thở rít ( KQ cổ)
12/ 52
23,1
28/40
70
40/92
43,5
Dấu phì phò qua vết
26/ 92
28,3
TKMP/ KPQ ngực
4/ 4
100
36/ 36
100
40/ 40
100
TKMP/ Tổng số
14/ 56
25
52/ 76
68,4
66/132
50
3.1.6. Tràn khí dưới da (TKDD) và tiến triển của TKDD .
Bảng 3.4a: Tỷ lệ tràn khí dưới da
Cơ chế
Lâm sàng
VT Xun thấu
(n= 56)
CT Kín
(n= 76)
Tổng số
Số ca
Tỉ lệ %
Số ca
CT Kín
( n= 76)
Tổng số
Số ca
Tỉ lệ %
Số ca
Tỉ lệ %
Số ca
Tỉ lệ
%
TKDD tiến triển / KQ cổ
29/ 52
55,8
40/ 40
100
69/ 92
75
TKDD tiến triển / KPQ
ngực
3/ 4
75
36/ 36
100
39/ 40
97,5
TKDD tiến triển / Tổng
số
32/ 56
57,1
76/ 76
23
63,9
Hình ảnh phế quản chính “cắt cụt”
15
41,7
3.2.3. Nội soi khí phế quản.
3.2.3.1. Hình ảnh hẹp hoặc bít tắc trong lòng KPQ.
Bảng 3.6: Mối liên quan giữa hình ảnh hẹp hoặc bít tắc lòng KPQ
và cơ chế chấn thương.
Cơ chế
Nội soi
VT Xun thấu
( n= 56)
CT Kín
( n= 76)
Số ca
Tỉ lệ %
Số ca
Tỉ lệ %
OR=21,8
χ2= 54,3
p<0,001
Có hẹp, bít tắc
13
23,2
66
86,8
10
13,2
Khơng rách bầm dập
33
58,9
66
86,8
Tổng số
56
100
76
100
3.2.4. Chụp cắt lớp điện tốn ( CT scan cổ ngực).
Bảng 3.8: Tỷ lệ phát hiện tổn thương KPQ khi chụp CT Scan.
Hình ảnh
Vị trí, cơ chế
Phát hiện được tổn
thương
Tỷ lệ
%
Tổn thương KQ cổ / CT kín
38/ 40
95
Tổn thương KPQ trong ngực/ CT kín
24/ 36
66,7
VT xuyên thấu khí quản cổ
10/ 52
19,2
Tổng số
60/ 132
45,5
3.3.2. Kỹ thuật mổ tổn thương KPQ do chấn thương.
3.3.2.1. Đường mổ
Đường mở cổ: Thực hiện đường mổ vòng ngang cổ trên hõm ức 1- 2
cm tất cả 92 trường hợp tổn thương KQ cổ.
Đường mổ mở ngực:
Bảng 3.10 Tỷ lệ các đường mổ mở ngực
TT KPQ ngực
Mở ngực phải
Mở ngực phải
Tỷ lệ %
CT kín
24
12
66,66%
VT xun thấu
3
1
33,34%
Tổng số
27
13
100%
3.3.2.2. Các hình thái tổn thương và phương pháp khâu nối KPQ.
3.3.2.2.1. Tổn thương khí quản cổ do vết thương xuyên thấu (n=52).
30/52 ( 57,7%) được kiểm soát hô hấp bằng cách đặt ống NKQ hoặc
mở KQ ra da.
5/52 VT xun thấu 2 thành KQ (9%), 12/52 có rách thực quản (23%)
cảnh ngoài phải, dập phổi, tràn máu màng phổi phải, gãy xương hàm
phải. Bệnh nhân tử vong sau 24 giờ với biểu hiện suy hô hấp kèm suy đa
cơ quan.
Một trường hợp tổn thương rách PQ trái kèm rách carina: Nhưng do xử trí
chậm trễ dẫn đến tử vong do suy hô hấp sau 24 giờ chấn thương.
3.4. Kết quả điều trò và theo dõi bệnh nhân sau mổ.
Bảng 3.11: Đánh giá kết quả sau mổ.
Đánh giá kết quả
Số bệnh nhân
Tỷ lệ %
Tốt
75
56,8
Trung bình
50
37,9
Xấu
7
5,3
Tổng số
132
100
16
Vết thương xuyên thấu KQ cổ có 1 trường hợp hẹp và tạo hạt ở vò trí
miệng nối KQ ngang với vòng sụn số 2.
Một trường hợp bục miệng nối KQ cổ và vết rách thực quản. Sau đó
Số ca
Tỉ lệ %
Tốt
34
55,7
40
64,5
1
11,1
Trung bình
27
44,3
22
35,5
1
11,1
Xấu
0
0
0
0
7
77,8
Tổng
61
100
52
100
9
100
83%
N.D.Tân (tổn thương KPQ do chấn thương kín
76/ 76
100%
Như vậy, theo số liệu của chúng tôi tỷ lệ TKDD của bệnh nhân chấn
thương KPQ không có sự khác biệt về ý nghóa thống kê (với P < 0,05).
4.1.1.3. Tràn khí màng phổi (TKMP) và dấu hiệu bọt khí thoát ra bình DLMP
4.1.1.3.1. Tràn khí màng phổi.
TKMP là dấu chỉ điểm để hướng đến chẩn đoán tổn thương KPQ
trong ngực. Chúng tôi ghi nhận 40/ 40 ( 100%) trường hợp có biểu
hiện TKMP ở bệnh nhân tổn thương KPQ trong ngực.
Bảng 4.14: So sánh tỷ lệ TKMP do tổn thương KPQ trong ngực giữa các
tác giả.
Tác giả/ TKMP
TKMP
Tỷ lệ %
S.Gabor (2000)
15/ 15
100%
Nader Helmy (2002)
6/ 6
100%
N.D. Tân ( Tổn thương KPQ trong ngực)
40/ 40
100%
Với TKMP số liệu chúng tôi cũng giống như các tác giả nước ngoài
luôn xảy ra khi có tổn thương KPQ trong ngực.
4.1.1.3.2. Dấu hiệu bọt khí thoát ra bình DLMP liên tục
18
Tràn khí-máu màng phổi
24%
N. D. Tân
Thực quản
23,2%
TM cảnh trong
6%
Tràn khí MP
6%
Tỷ lệ tổn thương TQ so với tác giả nước ngồi là tương đương.
4.1.2. Các dấu hiệu cận lâm sàng
4.1.2.1. X quang cổ thẳng và nghiêng
19
Dùng để xác đònh hình ảnh tràn khí khoang vùng cổ sâu ở bệnh nhân
tổn thương KQ cổ. Theo Flynn và Stark (1995) tỷ lệ phát hiện hình
ảnh tràn khí khoang cổ sâu là 60%, theo số liệu của chúng tôi 65,21%
tương đương với tỷ lệ của các tác giả nước ngoài.
4.1.2.2. X quang ngực thẳng
4.1.2.2.1. TKMP và TK trung thất
TKMP khi có một số hình ảnh quan trọng giúp hướng đến để tầm soát
tổn thương KPQ như: Hình ảnh dạng “phổi rơi”, hình ảnh phế quản
chính “cắt cụt ở vùng rốn phổi”…
Theo Nader Helmy 100% và số liệu của chúng tôi có 40/40 trường hợp
(100%) có TKMP ở bệnh nhân chấn thương KPQ. Như vậy số liệu của
chúng tôi so với các tác giả khác không có gì khác biệt về ý nghóa
thống kê (p< 0.05).
4.1.2.2.2. Hình ảnh dạng “phổi rơi”
Đây là hình ảnh phổi bò co lại hoàn toàn về rốn phổi và đỉnh phổi rơi
xuống ngang bằng với rốn phổi ( dấu hiệu Kumpe mô tả 1970). Chúng
57,7%(30/52)
Bảng 4.17: Tỷ lệ của bệnh nhân chấn thương KPQ cần kiểm
soát hô hấp trước mổ.
Tác giả
Tỷ lệ %
Flynn
8/ 23 (36%)
N. D. Tân
60/ 132 (45,5%)
Tỷ lệ của chúng tơi có khác với một số tác giả nước ngồi. Tổn thương
KPQ ở những bệnh nhân chúng tơi thường rất nặng nề: cắt cổ bằng dao,
lưỡi hái….Tác giả nước ngồi khơng mơ tả cơ chế chấn thương.
4.2.2. Kỹ thuật mổ và phương pháp khâu nối KPQ
Chúng tơi thực hiện các ngun tắc và kỹ thuật khâu nối KPQ như trình
bày ở chương kết quả đã có 7/ 132 trường hợp ( 5,2%) gây biến chứng
tử vong và sẹo hẹp KPQ.
4.3. Thời gian thiết lập chẩn đoán và xử trí
Chẩn đoán và xử trí trong 6 giờ là 61 trường hợp (46,22%), trong 24
giờ 62 (46,96%) trường hợp (24%), hơn 24 giờ là 9 trường hợp
(6,82%). Như vậy chúng tôi đã chẩn đoán và xử trí trong 24 giờ
93,18%. Trên thực tiễn trong thời gian gần đây chúng tôi đã áp dụng
phương pháp chẩn đoán sớm dựa vào lâm sàng, CT Scan và đặc biệt
nội soi KPQ để phát hiện bệnh. 3 trường hợp tử vong đều có chẩn
đoán và xử trí sau hơn 24 giờ. Điều này cũng phù hợp với một số tác
giả khác trên thế giới như Nader Helmy để tránh tử vong cần phải xử
trí tổn thương KPQ trong vòng 24 giờ.
21
4.4. Những đặc điểm khác của nhóm bệnh nhân nghiên cứu.
các tổn thương ngay và xử trí kịp thời để cứu sống bệnh nhân. Điều này
cũng phù hợp với khuyến cáo của một số tác giả trên thế giới.
4.5. Đánh giá kết quả bệnh nhân trước khi xuất viện. ( Giai đoạn I)
22
Theo Douglas E. Wood (2002) các lý do gây nên xử trí chậm: Vết
thương KPQ nhỏ không biểu hiện lâm sàng rõ rệt, nằm trong bệnh
cảnh đa chấn thương nặng. Khi phẫu thuật bỏ sót tổn thương KPQ.
Thời gian gây hẹp, xì dò, hoặc tạo hạt miệng nối KPQ từ 2 đến 4 tuần
sau mổ.
Taskinen (1989õ) báo cáo trong 9 trường hợp tổn thương KPQ do chấn
thương kín có 5 trường hợp đã xử trí chậm trễ từ 9 đến 89 ngày. Sau
đó bệnh nhân biểu hiện khó thở, nội soi KPQ thấy có tạo hạt và gây
hẹp ở miệng nối KPQ.
Theo số liệu của chúng tôi có 4/ 132 trường hợp tổn thương sẹo hẹp và
tăng sinh tạo mô hạt tại miệng nối KPQ với thời gian xử trí từ 3 đến 4
tuần trở đi. Nhận thấy rằng so với tác giả khác, chúng tôi đã có thời
gian xử trí phẫu thuật sớm hơn nên ít có nguy cơ gây nên sẹo hẹp
hoặc tạo hạt miệng nối và thời gian xử trí càng kéo dài sẽ càng tạo
nên nguy cơ sẹo hẹp và tạo hạt miệng nối KPQ. Mặt khác, chúng tôi
nhận thấy rằng 4 trường hợp sẹo hẹp KPQ có 3 trường hợp thực hiện
kỹ thuật khâu vắt liên tục, đây cũng là yếu tố làm thiếu máu nuôi và
tăng nguy cơ sẹo hẹp và tạo hạt miệng nối.
Theo Symbas 1/17 trường hợp tổn thng KQ cổ có kèm rách thực
quản sau đó bục miệng nối KPQ và TQ. Chúng tôi có 15 bệnh nhân
kèm rách thực quản, nhưng chỉ có 1 trường hợp sau đó bò bục miệng
nối khí quản cổ và thực quản. Hiện tại bệnh nhân vẫn phải mở khí
quản và nuôi ăn qua ống mở thông dạ dày ra da. Bênh nhân bò bục
miệng nối của chúng tôi là trường hợp tổn thương đứt gần lìa khí quản
đoạn sụn số 1 và 2 và thực quản rách rộng. Nhận thấy rằng với những
ra ở giai đoạn I) chúng tôi khâu bằng chỉ viscryl và chỉ PDS. Vì vậy,
theo chúng tôi yếu tố dùng chỉ tan hoặc không tan rất ít ảnh hưởng
đến hiện tượng tạo hạt niệng nối KPQ, mà chủ yếu phụ thuộc vào kỹ
thuật bóc tách và khâu nối KPQ sẽ tránh được những hậu quả trên.
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 132 trường hợp tổn thương KPQ do chấn thương,
chúng tôi rút ra một số kết luận như sau:
Tổn thương KPQ do chấn thương thường gặp ở những bệnh nhân tuổi còn
khá trẻ trên dưới 30 tuổi và chủ yếu xảy ra ở nam giới. Cơ chế chấn thương
nguyên nhân do bệnh nhân bò lực trực tiếp tác động vào vùng cổ và những
trường hợp tổn thương KPQ trong ngực nguyên nhân do lực rất mạnh trực
tiếp tác động vào lồng ngực như: các trường hợp tai nạn giao thông, tảng đá
đè, móc cần cẩu, cây gỗ lớn đè trúng ngực…
24
Trong tổn thương KQ cổ triệu chứng : TKDD, TKDD tiến triển, thay
đổi tiếng nói hoặc khàn tiếng chiếm tỷ lệ 100%, suy hơ hấp khó thở xảy
ra hơn 90% Đây là những triệu chứng rất có giá trị trên lâm sàng gợi ý
chẩn đốn.
Đối với tổn thương KPQ trong ngực do chấn thương kín, ngồi cơ chế
chấn thương gợi ý như: do lực mạnh tác động trực tiếp vào lồng ngực
kèm xảy ra các hội chứng TKMP, TKDD, TKDD tiến triển, TKTT, suy
hơ hấp đều chiếm tỷ lệ 100% trong nhóm nghiên cứu của chúng tơi. Mặt
khác, nếu có thêm triệu chứng DLMP ra bọt khí liên tục, phổi khơng nở
trên phim X quang sau khi đã mổ DLMP, lúc này cần phải chỉ định nội
soi KPQ để chẩn đốn xác định.
Thời gian thiết lập chẩn đốn, trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu của
chúng tơi chẩn đốn được trong 24 giờ là 123/132 trường hợp
(93,18%) và 9 trường hợp (6,82%) được chẩn đốn và xử trí sau 24 giờ.
Trong 9 trường hợp đó có 7 trường hợp đều có kết quả xấu (3 trường