Thực trạng thị trường chứng khoán việt nam giai đoạn 2000 2005 - Pdf 22

Th trng chng khoỏn
MC LC
MC LC 1
DANH MC T VIT TT 2
LI M U 3
CHNG 1:C S Lí LUN CA TH TRNG CHNG KHON 5
1.1.Khỏi nim th trng chng khoỏn 5
1.1.1.Khỏi nim th trng chng khoỏn 5
1.1.2 c im ca th trng chng khoỏn 5
1.1.3 Chc nng ca th trng chng khoỏn 5
1.2. Cỏc cụng c ca TTCK 6
1.2.1Khỏi nim chng khoỏn 6
1.2.2 c trng ca chng khoỏn 6
1.2.3 Phõn loi chng khoỏn 6
1.3. C cu, mc tiờu v nguyờn tc hot ng ca th trng chng khoỏn 7
1.3.1. C cu TTCK 7
1.3.2.Mc tiờu ca TTCK 8
1.3.2.1. Hot ng cú hiu qu 8
1.3.2.2. iu hnh cụng bng 8
1.3.2.3. Phỏt trin n nh TTCK 8
1.3.3. Cỏc nguyờn tc hot ng ca TTCK 9
1.4. Cỏc t chc v cỏ nhõn tham gia vo TTCK 9
1.5. C ch iu hnh v giỏm sỏt TTCK 10
1.5.1. S cn thit phi iu hnh v giỏm sỏt cht ch TTCK 10
1.5.2. C ch iu hnh v giỏm sỏt th trng chng khoỏn 10
CHNG 2: THC TRNG HOT NG CA TH TRNG CHNG KHON VIT NAM 12
GIAI ON 2000-2005 12
2.1. Lịch sử hình thành TTCK và chỉ số chứng khoán Việt Nam 12
1
Nhúm 2 (KT2-DK3LT)
Thị trường chứng khoán

động nguồn vốn lớn từ mọi đối tượng trong nền kinh tế, chúng ta cần có một hệ
thống các kênh huy động vốn hiệu quả. Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt
Nam - là một định chế tài chính trong thị trường vốn đã ra đời thành công và đạt
những thành tựu nhất định. Một nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh tất yếu đòi hỏi
phải có một thị trường chứng khoán – nơi thu hút và tích lũy vốn dài hạn cho nền
kinh tế phát triển.
So sánh với thị trường chứng khoán thế giới, TTCK Việt Nam còn rất non trẻ.
Tuy nhiên, sau hơn hơn 10 năm hoạt động, quy mô và các chủ thể tham gia thị
trường đều đạt được những kết quả nhất định.
Trong những năm qua, thị trường chứng khoán Việt Nam đã từng bước trưởng
thành và phát triển. Tuy nhiên, quy mô và các yếu tố cấu thành chưa tương xứng
và ngang tầm với TTCK của các nước trong khu vực. Chính vì vậy,vấn đề c ần đặt
ra cho các nhà quản lý cũng như những ai quan tâm đến sự hoạt động và phát triển
của TTCK là phải làm thế nào để củng cố những kết quả đã đạt được cũng như
3
Nhóm 2 (KT2-DK3LT)
Thị trường chứng khoán
nhanh chóng xây dựng một thị trường chứng khoán vững mạnh ngang tầm so với
các nước trong khu vực.
Đứng trước thực trạng đó, chúng ta cần phân tích và đánh giá các mặt đã đạt
được cũng như những hạn chế trong hoạt động của TTCK để đó hoạch định một
cách có hệ thống các giải pháp phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam.
Từ những đặc điểm nêu trên, chúng tôi xin chọn đề tài “Thực trạng và giải
pháp Thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2000-2005” làm đề tài nghiên
cứu cho môn Thị trường chứng khoán. Trong thời gian qui định, chúng tôi đã
nghiên cứu và hoàn thành đề tài nhằm đạt được những mục tiêu sau:
- Về mặt lý luận, bài viết đã nêu lên những vấn đề lý luận cơ bản nhất về thị
trường chứng khoán và vai trò của TTCK, các nguyên tắc hoạt động cũng như các
chủ thể tham gia thị trường. Bên cạnh đó, bài viết đã giới thiệu được thị trường
chứng khoán Việt Nam từ hoàn cảnh ra đời đến các hoạt động của thị trường chứng

TTCK cung cấp phương tiện huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư cho các doanh
nghiệp sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau: đầu tư phát triển, xây dựng cơ sở
vật chất mới…
− Cung cấp khả năng thanh khoản cho các chứng khoán.
Nhờ có TTCK mà các nhà đầu tư dễ dàng chuyển đổi chứng khoán họ sở hữu
thành tiền hoặc chứng khoán khác. Chức năng này đảm bảo cho TTCK hoạt động
một cách năng động và có hiệu quả.
− Chức năng đánh giá giá trị của doanh nghiệp và tình hình nền kinh tế.
TTCK là nơi đánh giá giá trị của doanh nghiệp và tình hình nền kinh tế một
cách tổng hợp và chính xác thông qua chỉ số giá chứng khoán trên thị trường.
5
Nhóm 2 (KT2-DK3LT)
Th trng chng khoỏn
Chc nng giỳp chớnh ph thc hin cỏc chớnh sỏch kinh t v mụ.
Thụng qua TTCK, Chớnh ph cú th mua hoc bỏn trỏi phiu chớnh ph to
ra ngun thu bự p thõm ht ngõn sỏch v qun lý lm phỏt. ngoi ra chớnh ph
cng cú th s dng mt s chớnh sỏch, bin phỏp tỏc ng vo TTCK nhm nh
hng u t m bo cho s phỏt trin cõn i vi nn kinh t.
1.2. Cỏc cụng c ca TTCK.
1.2.1Khỏi nim chng khoỏn
Chng khoỏn l nhng giy t cú giỏ xỏc nh s vn u t v nú xỏc nhn
quyn ũi n hay quyn s hu v ti sn, bao gm iu kin v thu nhp trong
mt khon thi gian no ú v cú kh nng chuyn nhng.
1.2.2 c trng ca chng khoỏn.
Chng khoỏn luụn gn vi khae nng thu li: Khi mua chng khoỏn ngi
u t ó b ra mt khon vn ca mỡnh v u t, vỡ vy, h ch u t khi cú th
thu c nhng khon li tc nht nh.
Chng khoỏn luụn gn vi ri ro: u t luụn gn vi ri ro, v u t vo
chng khoỏn cng cú nhng ri ro nht nh.
Chng khoỏn cú kh nng thanh khon: Sau khi phỏt hnh chng khoỏn cú

Hợp đồng tương lai
Hợp đồng lựa chọn
Chứng quyền
Căn cứ vào lợi tức
của chứng khoán
Chứng khoán có thu nhập cố định
Chứng khoán có thu nhập biến đổi
Căn cứ theo hình
thức chứng khoán
Chứng khoán ghi danh
Chứng khoán không ghi danh
Căn cứ theo thị
trường nơi chứng
khoán được giao
dịch
Chứng khoán được niêm yết
Chứng khoán không được niêm yết
Căn cứ vào
tính chất các
chứng khoán
được giao
dịch
Thị trường cổ phiếu: nơi các cổ
phiếu được phát hành và giao dịch
Thị trường trái phiếu: nơi trái
phiếu được phát hành và giao dịch
Thị trường các sản phẩm phái
sinh: các hợp đồng tương lai, các
hợp đồng lựa chọn
Thị trường trái

Thị trường sơ cấp: thị trường mua bán các
chứng khoán lần đầu phát hành
Thị trường thứ cấp: nơi giao dịch các chứng
khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp
Thị trường chứng khoán
1.3.3. Các nguyên tắc hoạt động của TTCK.
− Nguyên tắc cạnh tranh tự do: TTCK phải hoạt động trên cơ sở cạnh tranh tự
do. Các nhà phát hành, nhà đầu tư được tự do tham gia và rút khỏi thị trường.
− Nguyên tắc giao dịch công bằng: Mọi giao dịch phảI được thực hiện trên cơ
sở những quy định chung, những người tham gia vào thị trường đều được bình
đẳng thực hiện quy định chung này.
− Nguyên tắc công khai: Các tin tức có tác đọng đến sự thay đổi giá cả chứng
khoán cần được công khai cung câp cho nhà đầu tư nhằm tạo cơ hội và ngăn chặn
hành vi gian lận trong kinh doanh chứng khoán, lũng loạn thị trường.
− Nguyên tắc trung gian mua bán: Trên thị trường sơ cấp, nhà đàu tư không
mua trực tiếp từ nhà phát hành mà mua từ các nhà bảo lãnh phát hành. Trên thị
trường thứ cấp, thông qua nghiệp vụ môI giới kinh doanh, các công ty chứng
khoán mua chứng khoán giúp các nhà đầu tư hoặc bán cho nhà đầu tư khác.
1.4. Các tổ chức và cá nhân tham gia vào TTCK.
9
Nhóm 2 (KT2-DK3LT)
Nhà phát
hành
Chính phủ và chính quyền địa
phương
Doanh nghiệp
Các tổ chức tài chính
Nhà đầu

Các nhà đầu tư cá nhân

Cơ quản lý nhà nước đối với thị trường chứng
khoán
Sở giao dịch chứng khoán
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán
Tổ chức lưu ký chứng khoán và thanh toán
Các tổ chức tài trợ chứng khoán
Công ty đánh giá lại hệ số tín nhiệm
Thị trường chứng khoán
− ủy ban chứng khoán:Cơ quan quản lý chuyên ngành của Nhà nước trong lĩnh
vực chứng khoán.
− Bộ ngành có liên quan: Bộ tài chính, Nhà nước trung ương,…
1.5.2.2. Các tổ chức tự định chế:
− Nguyên tắc hoạt động:
+ Các quyết định điều hành đưa ra phảI đúng đắn, phù hợp với hoàn cảnh thực
tế, hoạt động giám sát thị trường phảI có hiệu quả.
+ Chi phí điều hành giám sát thị trường phảI tự bù đắp bằng hoạt đọng thu
được trên thị trường.
− Cơ sở và nội dung hoạt động:
+ Điều hành hoạt động giao dịch trên cơ sở việc đưa ra và đảm bảo thực hiện
các quy định cho hoạt động giao dịch trên thị trường Sở giao dịch.
+ Giám sát theo dõi các giao dịch giữa các công ty thành viên và các khách
hàng của họ.
+ Hoạt động điều hành, giám sát của sở giao dịch phải được thực hiện trên cơ
sở phù hợp với pháp luật quy định.
+ Các công ty muốn tham gia thị trường phải đăng ký với hiệp hội kinh doanh
chứng khoán và phải thực hiện quy định của hiệp hội.
+ Đưa ra quy định chung cho công ty chứng khoán thành viên và thực hiện
quy định này.
+ Hiệp hộ các nhà kinh doanh chứng khoán đưa ra đề xuất và gợi ý với cơ
quan quản lý TTCK của chính phủ về vấn đề tổng quát trên TTCK.

cán bộ của UBCKNN cũng như các nhân viên hành nghề của các công ty chứng
khoán. Với sự nỗ lực và quyết tâm cao của Chính phủ, trung tâm Giao dịch Chứng
khoán Tp.HCM (TTGDCK TP.HCM) thành lập theo quyết định 127/1998/QD-
TTG ngày 11-7-1998 và chính thức hoạt động phiên giao dịch đầu tiên ngày 28-7-
2000
Trung tâm Giao dịch Chứng khoán hà Nội (TTGDCK HN) chính thức ra đời
ngày 8-3-2005. TTGDCK HN là “sân chơi” cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
2.1.2.Chỉ số chứng khoán Việt Nam: Chỉ số VN - Index.
VN - Index là ký hiệu của chỉ số chứng khoán Việt Nam. VN - Index xây dựng
căn cứ vào giá trị thị trường của tất cả các cổ phiếu được niêm yết. Với hệ thống
chỉ số này nhà đầu tư có thể đánh giá và phân tích thị trường một cách tổng quát.
Chỉ số VN - Index so sánh giá trị thị trường hiện hành với giá trị thị trướng cơ
sở vào ngày gốc 28-7-2000, khi thị trường chứng khoán chính thức đi vào hoạt
động.
Giá trị thị trường cơ sở trong công thức tính chỉ số được điều chỉnh trong các
trường hợp như niêm yết mới, hủy niêm yết, thay đổi vốn niêm yết,…
Công thức tính:
Chỉ số VN-Index =( Giá trị thị trường hiện hành / Giá trị thị trường cơ sở) x
100
Trong đó Pit: Giá trị thị trường hiện hành cổ phiếu i.
Qit: Số lượng niêm yết hiện hành cổ phiếu i.
Pi0: Giá thị trường vào ngày gốc cổ phiếu i.
Qi0: Số lượng niêm yết vào ngày gốc cổ phiếu i.
2.2. Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2000-2005.
Việc ra đời thị trường chứng khoán ở Việt nam được đánh giá là một trong
những sự kiện nổi bật trong năm 2000 về những thành tựu đạt được trong tiến trình
13
Nhóm 2 (KT2-DK3LT)
Chỉ số VN-Index = x 100
Thị trường chứng khoán

Nhóm 2 (KT2-DK3LT)
Thị trường chứng khoán
2005 60 22.120,6 7 0
(nguồn Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)
Giá trị đấu thầu trái phiếu chính phủ tại SGDCK TPHCM giai đoạn 2000-2005

Mặc dù thị trường đấu thầu có tính cạnh tranh cao, số lượng thành viên tham
gia nhiều hơn và khối lượng đăng ký đấu thầu vượt qua thời gian gọi thầu, tuy
nhiên do mức lãi suất trần thấp nên một số phiên đấu thầu đã không huy động
100% vốn.
*Bảo lãnh phát hành.
Phát hành trái phiếu theo phương thức bảo lãnh phát hành cũng góp phần làm
tăng lượng hàng hóa trên TTCK, đồng thời làm đa dạng hóa các kênh huy động
vốn nhanh nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển.
Kết quả phát hành trái phiếu chính phủ qua bảo lãnh giai đoạn 2000-2005
15
Nhóm 2 (KT2-DK3LT)
Thị trường chứng khoán
16
Nhóm 2 (KT2-DK3LT)
Năm Giá trị (tỷ đồng) Kỳ hạn (năm) Lãi suất (%/năm)
2000 600 5 6,5- 6,6
2001 1333 5 7,0- 7,35
2002 386 10; 15 8,1-9,18
2003 8504 2; 5;10; 15 7,8- 9,7
2004 8.593 2; 5;10; 15 8,35- 9,2
2005 9.945 2; 5;10; 15 8,5- 9,2
Thị trường chứng khoán

(Nguồn: SGDCK TPHCM)

(tỷUSD)
Kỳ hạn
(tháng)
Lãi suất
(%/năm)
2000 1.067 60 6,9; 7,1 125,6 60 5,26; 5,49
2001 419 13; 24 7,0; 7,5 41,9 60; 84 3,9; 4,1
2002 2.202 12; 24 7,8; 8,4
2003 6.498 12; 13; 18;24 8,2;8,6;8,8;9 25,3 18; 24; 36;60 2,4;2,5;2,7;3,1
2004 2.644 13; 18; 24;36 8,2;8,3;8,4;8,6 122 24; 36; 60 2,8; 3,1; 3,4
2005
(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước)
Từ 1994 đến 2004 chỉ 4 doanh nghiệp phát hành trái phiếu với tổng vốn huy
động 372 tỷ đồng. Ngoại trừ Tổng công ty Điện lực Việt Nam 2 lần phát hành trái
phiếu (năm 2005-2006) với số tiền 550 tỷ đồng. Vì vậy kênh doanh nghiệp chỉ có
tín dụng ngân hàng hoặc vay Nhà nước.
Ngày 15/11/2000, lần đầu tiên trái phiếu của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
(BIDV) đã được niêm yết và giao dịch thông qua HSTC. Trái phiếu niêm yết đợt 1
(BIDV_100) với tổng giá trị 83 tỷ đồng, mệnh giá 100.000 đ. Lãi suất trả trước là
6,5%, các năm sau theo lãi suất thị trường nhưng lãi suất tối thiểu cam kết bằng lãi
suất 12 tháng ngân hàng cộng thêm 0,5%. Trong 3 phiên đầu tiên giá trị giao dịch
18
Nhóm 2 (KT2-DK3LT)
Thị trường chứng khoán
đạt trên 15% giá trị giao dịch toàn thị trường. Giao dịch trái phiếu ngân hàng đã
thổi một luồng gió mới vào TTCK đang ảm đạm lúc bấy giờ.
Số liệu thống kê tổng hợp về giao dịch trái phiếu.
Năm
Giá trị niêm
yết (triệu đồng)

từ tháng 6 đến tháng 10, các cổ phiếu niêm yết đã mất giá đến 70% giá trị, chỉ số
VN-Index sụt từ 571,04 điểm vào 25-4-2001 xuống chỉ còn 200 điểm vào tháng
10-2001).
TTCK Việt Nam tiếp tục phát triển chậm chạp trong những năm tiếp theo. Số
lượng các CTCK sau 3 năm chỉ là 12 công ty với tổng vốn điều lệ 465 tỷ đồng,
thực hiện tất cả các nghiệp vụ chứng khoán. Chỉ có 73 mã cổ phiếu được giao dịch
với tỷ lệ vốn hóa thấp và chưa đầy 14.000 tài khoản khách hàng. TTCK chưa thực
sự trở thành kênh thu hút vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.
Đến năm 2004 – 2005 thị trường đã có những chuyển biến tích cực hơn. Trong
thời gian đầu, các công ty chứng khoán chủ yếu làm nghiệp vụ môi giới thì đến nay
hầu hết các công ty chứng khoán đã triển khai nghiệp vụ tự doanh, bảo lãnh phát
hành, quản lý danh mục đầu tư và tư vấn tài chính. Nguồn vốn điều lệ của các công
ty chứng khoán đã lên tới trên 810 tỷ đồng, hoạt động kinh doanh đã ổn định hơn
sau một số năm đầu khó khăn, các công ty chứng khoán đều có lãi và đã thực hiện
trích quỹ dự phòng tài chính để tăng vốn điều lệ. Công ty quản lý quỹ đã thực hiện
huy động vốn trên TTCK thành lập và quản lý Quỹ đầu tư chứng khoán. Đây cũng
là một mô hình nghiệp vụ mới ở Việt Nam.
Qua 5 năm SGDCK TPHCM đã thực hiện được trên 1.050 phiên giao dịch liên
tục, an toàn, giá trị chứng khoán giao dịch đạt 31.700 tỷ đồng (trong đó giao dịch
cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư chiếm 11%) với giá trị bình quân phiên giao dịch
liên tục tăng từ 1,4 tỷ đồng năm 2000 lên 81 tỷ đồng 7/2005. TTCK Việt Nam năm
2005 đang dần khởi sắc với quy mô mở rộng, tăng khoảng 55% giá trị chứng
khoán niêm yết, số lượng nhà đầu tư tăng 35%, nhà đầu tư có lòng tin hơn với thị
trường. Đây là cơ hội cho những công ty kinh doanh chứng khoán tăng khách hàng
và nhà đầu tư chưa đầy 3.000 tài khoản lên trên 31.000 tài khoản khách hàng, trong
đó có 246 đầu tư có tổ chức và 251 nhà đầu tư nước ngoài. Hiện tại đã có 1 công
20
Nhóm 2 (KT2-DK3LT)
Thị trường chứng khoán
ty quản lý quỹ liên doanh; 2 công ty quản lý quỹ thuộc công ty bảo hiểm nhân thọ

kiểm toán viên trong việc nhận xét, đánh giá báo cáo tài chính.
Trung tâm GDCK Hà Nội đã được thành lập và đưa hệ thống đấu giá cổ
phần các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá vào hoạt động. Tính từ đầu năm
2005 đến ngày 15/12/2005, TTGDCK TPHCM và TTGDCK Hà Nội đã tổ chức
đấu giá cho 57 công ty với tổng số cổ phiếu đã bán là 268.917.310 cổ phiếu, thu
được cho Nhà nước và doanh nghiệp hơn 4.125 tỷ đồng. Việc đấu giá cổ phần hoá
bước đầu đã mang lại hiệu quả thiết thực, tăng cường tính công khai, minh bạch và
góp phần xoá bỏ cơ chế cổ phần hoá khép kín trong các doanh nghiệp Hiện tại đã
có 6 công ty đăng ký giao dịch với giá trị là trên 1.420 tỷ đồng.
(Nguồn: kỷ yếu hội thảo TTCK)
2.2.3. Thị trường chứng khoán phái sinh và chứng chỉ quỹ.
Công cụ tài chính phái sinh được hiểu là những công cụ được phát hành trên cơ
sở những công cụ tài chính đã có nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi
ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo ra lợi nhuận. Thị trường phái sinh là thị trường dành
cho các công cụ tài chính phái sinh, những công cụ mang tính hợp đồng, mà thành
quả của chúng được xác định trên 1 hoặc 1 số công cụ tài sản khác.
Giao dịch tài chính tiền tệ là lĩnh vực chưa có sự xuất hiện của các nhà bảo
hiểm bởi tính biến động khôn lường của nó. Các chủ thể tham gia không còn cách
nào khác ngoài việc tự bảo hiểm cho mình bằng việc chuyển hẳn hoặc san sẻ 1
phần rủi ro cho thị trường bằng các Công cụ tài chính phái sinh. Tuy nhiên, nhìn
một cách tổng quát, mức độ áp dụng các Công cụ phái sinh ở Việt Nam còn rất hạn
chế. Nhiều ý kiến cho rằng, xuất phát điểm nền kinh tế lạc hậu chưa cho phép
chúng áp dụng các kỹ thuật tài chính hiện đại.
22
Nhóm 2 (KT2-DK3LT)
Thị trường chứng khoán
Giao dịch kỳ hạn xuất hiện với tư cách là công cụ tài chính phái sinh đầu tiên ở
Việt Nam theo quyết định số 65/1999/QĐ-NHNN7 ngày 25/2/1999. Các giao dịch
kỳ hạn được thực hiện trong hợp đồng mua bán USD và VND giữa ngân hàng
thương mại với doanh nghiệp xuất nhập khẩu hoặc với các ngân hàng thương mại

Từ khi NHNN cho phép thực hiện nghiệp vụ hoán đổi lãi suất trên thị trường
Việt Nam (từ 1/2003), đã có một só ngân hàng như ABN, Citibank thực hiện hoán
đổi lãi suất trong phạm vi đồng USD từ ngày 1/3/2005 tới 2/2006. Tuy nhiên, giao
dịch hoán đổi lãi suất giữa 2 đồng tiền USD và VND (hoán đổi lãi suất chéo) đã
được thực hiện, từ trước khi có quy định chính thức của ngân hàng nhà nước. Cho
tới lần đầu tiên, khi được NHNN cho phép, HSBC đã cung cấp gói Swaps tiền
Đồng cho một công ty đa quốc gia với số vốn lên tới 15 triệu USD trên tại trường
Việt Nam. Theo đó, HSBC sẽ đưa VND và nhận USD từ khách hàng, tới tháng
12/2007, HSBC sẽ đưa USD và nhận lại VND từ khách hàng. Với giao dịch này,
khách đã đạt được mức lãi suất cạnh tranh nhất trên thị trường nội địa cho việc vay
vốn tiền Đồng kỳ hạn 3 năm mà không chịu bất cứ một rủi ro nào về tỷ giá
USD/VND.
Chính hành động của HSBC, tạo ra nền tảng phát triển cho các giao dịch hoán
đổi sau này. Ngân hàng Standard Chartered chi nhánh tại Việt Nam thực hiện hoán
đổi lãi suất chéo giữa hai đồng tiền chéo đối với các khoản vay ngoại tệ của khách
hàng sử khi khách hàng vay ngoại tệ. Và trong tương lai, Standard Chartered sẽ
còn cung cấp nhiều sản phẩm phái sinh nữa trên thị trường Việt Nam, hứa hẹn
tương lai phát triển thị trường.
Ở một mức cao hơn, các công cụ lai tạp có nguồn
gốc từ hoán đổi như hoán đổi lãi suất cộng dồn, hoán
24
Nhóm 2 (KT2-DK3LT)
Thị trường chứng khoán
đổi lãi suất kèm theo điều kiện quyền chọn, hoán đổi lãi suất bắt đầu thực hiện
trong tương lai …cũng đã xuất hiện và triển khai trên thị trường ngoại hối trong
thời gian gần đây. Điều đặc biệt là các hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng đã được
thí điểm áp dụng tại Việt Nam theo công văn 3324/NHNN-CSTT, tháng 4/2006
cho phép HSBC chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh thực hiện. Mặc dù là một loại
hoán đổi nhưng hoán đổi rủi ro tín dụng thực sự lại giống một chính sách bảo hiểm
hơn. Tức một bên nắm giữ trái phiếu hoặc các khoản vay, định kỳ sẽ thanh toán


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status