KỸ THUẬT lấy KHÍ máu ĐỘNG MẠCH và PHÂN TÍCH kết QUẢ - Pdf 22

KỸ THUẬT LẤY KHÍ MÁU ĐỘNG MẠCH VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ
Marie T. Pavini
Richard S. Irwin
Người dịch:
Ths. Bs. Nguyễn Tuấn Đạt
Khoa Cấp cứu - Bệnh viện Bạch Mai
NGUYÊN LÝ CHUNG
Tổng quan về kỹ thuật
- Phân tích khí máu động mạch (ABG) cần một mẫu máu động mạch để làm xét
nghiệm đo pH, áp lực riêng phần CO2 (PaCO2), áp lực riêng phần Oxy (PaO2),
bicarbonat (HCO3) và phần trăm bão hòa oxy máu (SaO2) để đánh giá tình trạng
hô hấp, chuyển hóa và toan kiềm của bệnh nhân.
- Dựa vào hình dạng đường cong phân ly oxy – hemoglobin cho thấy việc đo lường
độ bão hòa oxy máu (SaO2) có thể không phản ánh đúng lượng oxy máu động
mạch vì áp lực riêng phần Oxy giảm thấp đáng kể trước khi giảm độ bão hòa oxy
máu động mạch. Mặt khác việc xác định độ bão hòa Oxy máu động mạch (SaO2)
qua Oximetry có thể chính xác hơn khi tính SaO2 từ khí máu.
- HCO
3
-
trong kết quả khí máu động mạch được tính có sự khác biệt so với
HCO
3
-
được đo trong máu tĩnh mạch.
Dụng cụ
- Dụng cụ lấy mẫu khí máu chuẩn là một syring thủy tinh. Syring được nối với
kim, với một kim đủ lớn có thể cho phép máu động mạch tự đẩy lên qua kim và
vào trong syring mà không cần phải hút.
- Có rất nhiều loại kít lấy mẫu khí máu động mạch với syring chuyên biệt riêng cho
từng bộ kít (xem thêm phần IV.A)

2
), oxy phân ly (DO
2
) và oxy tiêu thụ (VO
2
).
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Việc chọc kim vào một động mạch được tạo hình nhờ phẫu thuật có thể:
- Gây ra một giả phình động mạch
- Làm mất tính toàn vẹn của mảnh ghép
- Làm lan truyền ổ nhiễm khuẩn.
THỦ THUẬT
Thận trọng
- Nếu sử dụng một syring plastic cần lưu ý một số lỗi sau:
+ PaO
2
cũng như Oxy có thể bị thấp giả tạo do bị lỗi áp suất khi PaO
2
trong mẫu
vượt quá 221 mmHg.
+ Syring plastic có tỷ lệ diện tích bề mặt lớn làm thay đổi tính thấm của khí khi so
sánh với syring 3 ml. Vì lý do này các bộ kít với kim bướm nối với ống dài không
nên sử dụng
+ Sử dụng Syring plastic có thể tạo nhiều bọt khí cũng như khó loại bỏ chúng.
+ Khi dùng Syring plastic phải kéo pittông, điều này có thể hút phải máu tĩnh mạch
áp lực thấp dẫn tới phân tích mẫu máu tĩnh mạch.
+ Khi kéo pittông để hút máu, bọt khí có thể bị kéo theo vào mẫu. Nếu bọt khí
nhiều có thể làm kết quả PaO
2
và PaCO

2
giảm
xuống 50 mm Hg, pH giảm 0.07 và tăng PaCO
2
10 mm Hg.
Vị trí lấy mẫu
- Vị trí tốt nhất là ở động mạch có hệ thống tuần hoàn bàng hệ tốt để không bị giảm
tưới máu trong trường hợp co thắt mạch hoặc có cục máu đông. Vị trí động mạch ở
nông sát bề mặt da giúp tiếp cận động mạch dễ dàng và đỡ đau. Động mạch quay
là vị trí được ưa thích do hội đủ các yếu tố trên. Động mạch trụ cung cấp đủ tuần
hoàn bàng hệ ở khoảng 92% người lớn. Tiến hành test Allen thường quy khi chọc
khí máu là điều không cần thiết.
- Nếu không tiếp cận được động mạch quay, động mạch mu chân, động mạch chày
sau, động mạch thái dương nông (ở trẻ em), động mạch cánh tay, động mạch đùi có
thể được lựa chọn thay thế.
- Động mạch cánh tay, động mạch đùi không được lựa chọn ở các bệnh nhân có rối
loạn đông máu vì nguy cơ chảy máu gây chèn ép mạch có thể xảy ra.
- Bất kỳ mạch máu nào đã được can thiệp ngoại khoa đều không nên làm thủ thuật.
Kỹ thuật
- Đánh giá kỹ toàn trạng bệnh nhân.
- Bộc lộ bề mặt động mạch được tiếp cận. Nếu tiếp cận động mạch quay, lật ngửa
bàn tay, gấp nhẹ cổ tay, sờ động mạch. Cố định tay của bệnh nhân bằng băng dính
ở vị trí này.
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet
- Làm sạch vị trí tiếp cận bằng dung dịch alcohol hoặc dung dịch hỗn hợp
chlorhexidine/alcohol.
- Tiêm lidocain 1% trong da tạo nốt sần nhỏ bằng kim 25G tại vị trí dự định sẽ
chọc kim catheter.
- Nối kim 22G hoặc một kim lớn hơn với một syring thủy tinh có thể chứa 5 ml
máu. Tráng kim và syring bằng dung dịch muối heparin (1000UI/ml) hoặc sử dụng

- Nếu lấy khí máu ở động mạch cánh tay hay động mạch đùi là vị trí khó ép có thể
gây chảy máu nhiều khó cầm (đặc biệt ở các bệnh nhân rối loạn đông máu)
Giá trị bình thường và hiệu chỉnh
- pH: 7.35 đến 7.45
- PaCO
2
: 35 đến 45 mm Hg
- PaO
2
(trong giới hạn bình thường, không hút thuốc lá, bệnh nhân trên 40 tuổi:
108.75 - (0.39 × số tuổi) mm Hg
- Nhiệt độ: theo quy ước nên phân tích mẫu khí máu trong điều kiện 37 °C. Mặc dù
không có nghiên cứu nào cho thấy cần phải điều chỉnh kết quả khí máu theo nhiệt
độ của bệnh nhân. Tuy nhiên khi mẫu máu trên 39 °C thì cần hiệu chỉnh theo nhiệt
độ vì ở nhiệt độ thấp hơn độ hòa tan của O
2
và CO
2
sẽ cao hơn, đỡ toan hơn.
- Khi đo lường điện giải từ mẫu máu động mạch, lithium hoặc các điện giải gắn với
heparin cần được điều chỉnh. Muối heparin sẽ làm tăng nồng độ Natri và giảm
nồng độ Kali. Các lỗi do hòa loãng cũng xảy ra nếu dùng quá nhiều chống đông.
Tài liệu tham khảo
1. Allen E. Thromboangiitis obliterans: methods of diagnosis of chronic occlusive
arterial lesions distal to the wrist, with illustrative cases. Am J Med Sci
1929;178:237.
The original paper describing the classic safety maneuver before arterial puncture
2. Petty T, Bigelow B, Levine B. The simplicity and safety of arterial puncture.
JAMA 1966;195:181.
A classic article describing arterial puncture


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status