BÀI TIỂU LUẬN ĐA DẠNG SINH HỌC
Đề tài:
Phân tích những nguyên nhân gây suy thoái ĐDSH ở Việt Nam. Công tác bảo tồn
ĐDSH ở Việt Nam diễn ra như thế nào? Liên hệ bản thân nhằm hạn chế sự suy
giảm ĐDSH? Theo em công tác bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam đã hợp lí chưa và em
có những đề xuất gì cho công tác bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam hiện nay?
Bài làm
Phần I: Mở đầu
Phần II: Thân bài
Phân tích những nguyên nhân gây suy thoái ĐDSH ở Việt Nam:
Theo những tác giả khác nhau thì có những nguyên nhân gây suy thoái ĐDSH ở
Việt Nam khác nhau tuy nhiên, theo quan điểm cá nhân tôi, tôi có thể tạm chia
nguyên nhân gây suy thoái ĐDSH ở Việt Nam theo những mục sau (trên cơ sở
phân tích những yếu tố tác động đến sự suy giảm ĐDSH)
1 nguyên nhân trực tiếp
Sự suy giảm ĐDSH hiện nay có cả các nguyên nhân như: Sự phá vỡ và mất nơi cư
trú, sự ô nhiễm, sự biến đổi khí hậu toàn cầu và các hoạt động nông nghiệp, công
nghiệp, lâm nghiệp, sự gia tăng dân số loài người, sự mở rộng nơi cư trú sinh thái
của con người và sử dụng ngày càng nhiều năng suất sinh học của trái đất, khai
thác quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hệ thống kinh tế thiếu sự định giá
thích hợp cho môi trường, các cấu trúc xã hội không hợp lý và những yếu kém
trong hệ thống pháp lý và nhà nước. Có 2 loại nguyên nhân suy giảm ĐDSH:
2. 1. Nguyên nhân gián tiếp: Là những nguyên nhân không tác động ngay đến sự
còn hay mất của một loài cụ thể nào cả, song nó đóng vai trò quan trọng nhất trong
việc gia tăng sự suy thoái ĐDSH bởi các nguyên nhân này chính là cơ sở của các
nguyên nhân trực tiếp và phạm vi ảnh hưởng rất lớn trên nhiều vùng địa lý sinh học
khác nhau.
2.1.1. Mất và phá huỷ nơi cư trú: Là nguyên nhân quan trọng bậc nhất và trên thực
tế là một nhóm các nguyên nhân cụ thể hơn.
Mất và phá hủy nơi cư trú bởi các hoạt động của con người: Đó chính là tác động
của việc thay đổi mục đích sử dụng tài nguyên sinh học như: sự phát triển nông
dụng cho nông nghiệp và làm nhà ở, xây dựng thành phố, khu công nghiệp cùng cơ
sở hạ tầng.
Ô nhiễm môi trường sống.
Cho dù nơi sinh sống không bị ảnh hưởng một cách trực tiếp do việc phá huỷ hay
chia cắt, nhưng các quần xã và các sinh vật sống trong đó có thể bị ảnh hưởng sâu
sắc do các hoạt động khác của con người. Dạng nguy hiểm nhất của phá huỷ môi
trường là sự ô nhiễm. Có thể liệt kê một số nguyên nhân sau:
- Ô nhiễm do thuốc trừ sâu: Thuốc trừ sâu là nhân tố gây ô nhiễm nặng nề và được
khuyến cáo từ năm 1962 (Rachel Carson, 1962). Thuốc trừ sâu DDT
(Diclorodiphenyltricloro – ethene) và các loại thuốc trừ sâu có chất Clo hữu cơ
khác là những chất không phân huỷ hoàn toàn và được tích luỹ tăng lên theo các
bậc tháp của chuỗi thức ăn.
+ Việc sử dụng thuốc trừ sâu để diệt các loại côn trùng gây hại cho cây trồng, diệt
ấu trùng cho các loài muỗi trong nước đã gây nhiều tổn hại tới các quần thể sinh
vật khác cùng sống trong môi trường.
+ Việc sử dụng thuốc trừ sâu thường phải tăng nồng độ theo thời gian do các sinh
vật gây hại bị nhờn hoá chất.
+ Việc sử dụng thuốc trừ sâu không những giết hại nhiều loài sinh vật có ích mà
còn gây ô nhiễm không khí, ô nhiễm các yếu tố khác trong môi trường sống của
con người.
- Ô nhiễm nước: Ô nhiễm nước cũng là nguyên nhân gây suy thoái ĐDSH thuỷ
sinh như các loài cá, ốc, trai, hến
Nguyên nhân gây ô nhiễm nước chủ yếu là do các chất thải công nghiệp, chất thải
dân dụng, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, rò rỉ xăng dầu từ các tàu vận tải, các kim
loại nặng(thuỷ ngân, chì, thiếc ). Các chất thải này theo dòng chảy và lan tràn
trong một vùng rộng lớn. Lượng các chất độc này xâm nhập, tích luỹ tăng dần theo
thời gian trong cơ thể sinh vật sản xuất và được đưa vào chuỗi thức ăn. Kết quả là
một loạt loài ở các bậc dinh dưỡng tiếp theo trong chuỗi thức ăn cũng bị nhiễm độc
theo.
Các trầm tích có nguồn gốc do xói mòn từ các vùng đất trống đồi núi trọc cũng có
sinh học, giảm năng suất nông nghiệp.
+ Xăng có chì, các hoạt động khai mỏ, luyện kim và các hoạt động công
nghiệp khác thải ra một lượng lớn chì, thiếc, và nhiều loại kim loại độc hại khác
vào khí quyển. Các hợp chất này trực tiếp gây độc cho cuộc sống của động và thực
vật.
Sự biến đổi khí hậu.
Khí cacbonic, mêtan và các khí khác trong khí quyển không ngăn cản ánh sáng mặt
trời, cho phép năng lượng mặt trời xuyên qua khí quyển và sưởi ấm bề mặt trái đất.
Tuy vậy, những khí này và hơi nước (dưới dạng những đám mây) giữ lại năng
lượng do trái đất phát ra dưới dạng nhiệt, làm chậm lại tốc độ phát tán nhiệt và bức
xạ khỏi trái đất. Các khí này được gọi là khí nhà kính do tác dụng của chúng rất
giống với nhà kính – cho ánh sáng mặt trời đi qua nhưng giữ lại năng lượng bên
trong nhà kính và chuyển thành năng lượng nhiệt. Nồng độ khí này càng đậm đặc
bao nhiêu thì nhiệt lượng bị thu lại gần mặt đất nhiều bấy nhiêu và nhiệt độ trên bề
mặt trái đất lại tăng lên bấy nhiêu.
Vai trò của khi nhà kính rất quan trọng vì nó giữ ấm bề mặt trái đất. Vấn đề quan
trọng hiện nay là nồng độ của khí nhà kính tăng cùng với hoạt động của con người
đến mức làm biến đổi khí hậu gây nên hiện tượng trái đất nóng dần lên. Hiện
tượng nhiệt độ tăng dần lên còn làm cho các khối băng ở các vùng cực tan ra. Do
việc giải phóng một khối lượng nước lớn do băng tan, trong vòng 50 đến 100 năm
tới mức nước biển dâng cao từ 0,2 đến 1,5 m. Mức nước biển dâng cao sẽ làm
ngập lụt những vùng đất thấp những khu ĐNN ven bờ biển và nhiều thành phố lớn.
Ngoài ra, mức nước biển dâng sẽ có khả năng gây hại đến nhiều loại san hô, nhất là
những loại chỉ tồn tại ở một độ sâu nhất định nơi có ánh sáng và dòng chảy phù
hợp.
Sự biến đổi khí hậu và nồng độ khí cacbonic trong khí quyển gia tăng sẽ có khả
năng làm thay đổi triệt để cấu trúc của các quần xã sinh học và sẽ chỉ còn một số
loài có khả năng phát triển thích ứng với điều kiện sống mới (Bazzaz và Fajer,
1992).
2.1.6. Sự bất lực của chính quyền và những chiến lược phát triển không hợp lý:
những hiểm họa không nhỏ đối với các loài này trong tự nhiên.
Sự xâm nhập của các loài ngoại lai.
Phạm vi sống về địa lý của nhiều loài được giới hạn bởi các vật cản tự nhiên như
đại dương, các sa mạc, các dãy núi, các con sông. Ví dụ: Các loài động vật có vú ở
Bắc Hoa Kỳ không thể vượt qua biển Thái Bình Dương để đến được Hawai. Do sự
cách ly về địa lý nên quá trình tiến hoá được phân ly theo các chiều hướng khác
nhau trên những khu vực chính của trái đất.
Con người đã làm thay đổi cơ bản cấu trúc này bằng việc vận chuyển, phát tán các
loài trong toàn cầu. Con người đã mang vật nuôi từ chỗ này sang chỗ khác khi họ
tạo lập khu định cư mới. Ngày nay, khi thị trường buôn bán phát triển, nhiều loài
động thực vật được vận chuyển qua nhiều nước khác nhau.
Về cơ bản, những loài du nhập thường không phát triển được ở những nơi mà
chúng được mang đến do điều kiện sống không phù hợp. Tuy nhiên, một tỉ lệ các
loài nhất định có biên độ sinh thái rộng, chúng phát triển rất nhanh, vượt lên trên cả
các loài bản địa, thậm chí chúng còn thay cả các loài bản địa. Các loài bản địa có
thể bị tuyệt chủng do bị các loài du nhập chiếm hết không gian dinh dưỡng hoặc bị
ăn thịt. Ví dụ có khoảng 4600 loài thực vật đã được du nhập vào quần đảo Hawai,
nhiều gấp 3 lần các loài thực vật bản địa (St.John, 1973).
Lý do chính để các loài du nhập phát triển mạnh là chưa có thiên địch (ví dụ Thỏ
nhập vào Châu Úc đã ăn hết cả các loài cỏ bản địa) và sau nữa là con người đã tạo
những điều kiện thuận lợi cho các loài du nhập phát triển.
Sự lây lan của các dịch bệnh.
Sự lây nhiễm các sinh vật gây bệnh là điều thường xảy ra đối với động vật nuôi hay
động vật hoang dã. Các tác nhân gây nhiễm có thể là các vật ký sinh nhu virus, vi
khuẩn, nấm, các động vật đơn bào hay các ký sinh trùng kích cỡ lớn hơn như giun,
sán. Các loại dịch bệnh có thể là nguy cơ đe dọa đối với một số loài quý hiếm. Vào
năm 1987, quần thể cuối cùng của loài chồn chân đen (Mustela nigrepes) trong tự
nhiên đã bị tiêu diệt bởi virut gây bệnh sốt ho của chó nhà và một số gia súc khác
(Thorne and Wiliam, 1988).
Có 3 nguyên tắc về dịch bệnh học được ứng dụng rộng rãi trong việc nuôi dưỡng
Chiến tranh đã gây biến động lớn về phân bố dân cư giữa các vùng, đồng thời một
diện tích lớn đất rừng bị khai phá để trồng cây lương thực bảo đảm hậu cần tại chỗ
cho quân và dân. Không những thế các loài động vật hoang dã còn bị đe dọa bởi
các loại vũ khí do chiến tranh để lại sau đó.
Khai thác quá mức.
Khai thác gỗ:
Các phương thức khai thác gỗ (hợp pháp hay bất hợp pháp) không bền vững từ
trước đến nay đều được coi là mối đe dọa lớn đối với ĐDSH. Nó không những làm
nghèo kiệt tài nguyên gỗ tự nhiên mà còn làm giảm sút nghiêm trọng chất lượng
rừng và gây ảnh hưởng lớn đối với vùng cư trú của các loài động vật hoang dã.
Trong giai đoạn từ năm 1986 – 1991, bình quân lượng gỗ bị khai thác là 3,5 triệu
m
3
/năm và khoảng 1-2 triệu m
3
ngoài kế hoạch (khoảng 80.000 ha bị mất mỗi
năm); giai đoạn 1992 -1996 khoảng 1,5 m
3
gỗ/năm; Từ năm 1997 tới nay khoảng
0,35 triệu m
3
gỗ/năm được khai thác theo kế hoạch từ rừng tự nhiên ở Việt Nam.
Nạn khai thác gỗ trộm xảy ra ở nhiều nơi, kể cả trong các khu rừng phòng hộ và
rừng đặc dụng cũng làm cho tài nguyên rừng bị cạn kiệt nhanh chóng. Nguyên
nhân chính dẫn tới việc khai thác gỗ trái phép xảy ra nghiêm trọng và khó kiểm
soát vì nhu cầu dùng gỗ trong nước và việc xuất khẩu ngày càng tăng trong khi trữ
lượng gỗ ngày càng giảm. Việc kinh doanh gỗ có lãi lớn nhưng lực lượng bảo vệ
rừng chưa đủ mạnh, hiệu quả kiểm soát thấp, việc xử lý những vụ vi phạm khai
thác và vận chuyển gỗ trái phép còn hạn chế.
Hình 3.1. Khai thác quá mức tài nguyên rừng
hậu quả qua sản lượng đánh bắt một số loài cá suy giảm mặc dù cường độ đánh bắt
tăng. Ngoài ra, sản lượng đánh bắt các loại hản sản khác như tôm hùm (Panulirus),
bào ngư (Haliotes), Sò (Chlamys), mực (Loligo) cũng giảm. Trai ngọc đã biến mất
khỏi nhiều vùng biển phía Bắc. Tuy nhiên, việc khai thác các loài trên vẫn tiếp tục
mặc dù loài cá trình 5 đốm, bốn loài tôm hùm và hai loại bào ngư đã được liệt kê
trong nhóm (hạng) dễ tổn thương.
Hình 3.2. Khai thác bừa bãi nguồn lợi thủy sản
- Khai thác trái phép tài nguyên các rạn san hô.
Bảo tồn rạn san hô ít được chú ý trực tiếp. Cho đến mãi gần đây, tỉnh Khánh
Hòa mới thành lập Khu bảo tồn biển Hon Mun, cùng với những nỗ lực nhằm bảo
vệ các rạn san hô ở cùng biển Côn Đảo và Phú Quốc. Rạn san hô ở Việt Nam nói
chung đang trong tình trạng xấu và có nhiều bằng chứng cho thấy đây là những khu
vực bị đe dọa cực kỳ nghiêm trọng. Tại một số rạn san hô, cá đã bị đánh bắt cạn
kiệt tới mức mà người ta không thể tái tạo lại ngư trường đánh bắt cá lớn nữa. Một
số rạn san hô bị phá huỷ, chủ yếu là do sử dụng các phương pháp đánh bắt cá mang
tính huỷ hiệt như đã nói ở trên. Tất cả những phương pháp đánh bắt cá không chọn
lọc đõ sẽ giết chết hoặc làm tất cả các loài hoảng sợ.
Mở rộng đất làm nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản.
Mở rộng đất canh tác nông, nghư nghiệp lấn vào đất rừng là một trong những
nguyên nhân quan trọng nhất làm suy thoái ĐDSH. Ở vùng núi phía Bắc, khai thác
rừng chủ yếu để lấy đất làm nông nghiệp, ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ phá
rừng để trồng cây công nghiệp như cà phê, cao su, điều, , ở ven biển phá rừng
ngập mặn để nuôi trồng thuỷ sản.
Việc mở rộng đất trồng trọt và nuôi trồng thuỷ sản là để đáp ứng nhu cầu về lương
thực, thực phẩm do dân số ngày càng tăng, đồng thời góp phần phát triển kinh tế
đất nước, tăng thêm nguồn nông sản và hải sản xuất khẩu có giá trị.
Hiện tượng lấn chiếm đất sản xuất và nuôi trồng thuỷ sản thường xảy ra đối với
người nghèo và các hộ di cư tự do. Các khu rừng ngập mặn tại các tỉnh Cà Mau,
Kiên Giang và nhiều tỉnh ven biển khác cũng là đối tượng khai phá làm đầm nuôi
tôm của người dân địa phương. Tuy nhiên, có không ít khu vực đầm nuôi tôm đã bị
xảy ra 642 vụ cháy, trong đó vụ cháy rừng Tràm U Minh là nghiêm trọng nhất.
Sự kiện cháy rừng vào thàng 3,4 năm 2002 tại Vườn Quốc Gia U Minh – Thượng
là một tai họa điển hình về cháy rừng đối với tài nguyên sinh vật và ĐDSH. Tại U
Minh Thượng trước khi bị cháy rừng đã thống kê được 32 loài thú. Sau khi bị cháy,
ít nhất có 25 loài thú (78,2%) bị ảnh hưởng với các mức độ khác nhau. Một số loài
có nguy cơ không gặp lại ở HST độc đáo này: Dơi ngựa lớn Pteropus vampyrus;
Sóc lửa Callosciurus finlaysoni; Rái cá lông mũi Lutra sumatrana; Rái cá vuốt bé
Aonyx cinerea; Mèo cá Drionailurus viverrinus; Tê tê Manis javanica; Cầy giông
đốm lớn Viverra megaspila; Cầy vòi hương Paradoxurus hermaphroditus; Dơi ngựa
Thái Lan Pteropus lylei; Mèo rừng Drionailurus bengalensis (nguồn Cục Kiểm lâm,
2005)
Di nhập và xâm lấn của các loài sinh vật lạ
Trong thời gian qua việc trao đổi, di nhập một số giống cây trồng, vật nuôi đã mang
lại hiệu quả kinh tế. Trong cơ cấu cây trồng ở nhiều nơi số giống mới đã chiếm tới
70- 80% và cho năng suất cao. Tuy nhiên việc di nhập nhiều giống mới một cách
tràn lan, thiếu kiểm soát là nguy cơ tiềm tàng làm các giống bản địa bị mai một.
Các giống mới có thể có những điểm bất lợi và thường không bền vững trước tác
động của ngoại cảnh và sâu bệnh. Tác hại ngay lập tức và có thể thấy là một số loài
di nhập vào Việt Nam đã phát triển thμnh dịch và gây hại nghiêm trọng. Điều này
còn liên quan đến sự thiếu hiểu biết và sơ hở trong quản lý. Có thể nêu ra đây một
số ví dụ:
+ Trong công tác trồng rừng ở Việt Nam, chúng ta đã sử dụng thành công khá
nhiều loài cây nhập nội như Phi lao trên vùng cát ven biển, các loài Keo và Bạch
đàn cho vùng đồi thấp và rừng công nghiệp. Bạch đàn trồng thuần loại ở một số
vùng ở nước ta có những thời điểm bị bệnh hại gây chết hàng loạt.
+ Tình trạng tương tự cũng xảy ra với các loài cây nông nghiệp, các giống mới như
lúa, ngô, cà phê, cao su, cây ăn quả được nhập nôi, gây trồng rộng rãi vì năng
suất cao. Điều này đã làm cho một số giống cây trồng địa phương, có chất lượng
nhưng năng suất thấp bị mất đi.
+ Việc nhập và gây nuôi ốc bươu vàng đại trà đã gây hại cho đồng ruộng trong một
hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống cuả sinh vật biển.
Ngoài hai nguyên nhân nêu trên, vấn đề lắng đọng bùn ở các cửa sông, trong các
cảng và hoạt động nạo hút bùn cũng đã gây ảnh hưởng đến tính đa dạng sinh học
biển. Việc nạo vét để khai thông cửa sông, hải cảng đã khuấy dục nước, trong bùn
lắng đọng thường có dầu và chất độc lẫn vào nên đã gây nhiều tổn thất cho sinh vật
biển.
2.2.2. Nguyên nhân sâu xa gây suy thoái ĐDSH ở Việt Nam.
Gia tăng dân số và di cư.
Những thách thức về dân số của nước ta rất nghiêm trọng đối với các vấn đề tài
nguyên, môi trường và ĐDSH. Trung bình trong 10 năm (1989 -1999) tỷ lệ tăng
trưởng dân số là 1,7% năm; đặc biệt ở vùng núi tỷ lệ này còn cao hơn, khoảng
2,8% -3,6%/năm. Tăng dân số vẫn ở mức cao trong khi tài nguyên đất, tài nguyên
nước và các dạng tài nguyên khác đang có xu thế giảm.
Tăng dân số nhanh đã là một trong những nguyên nhân chính làm suy thoái ĐDSH
của Việt Nam. Sự gia tăng dân số dẫn đến tăng nhu cầu sinh hoạt và nhu cầu thiết
yếu khác trong khi lượng tài nguyên có hạn, nhất là tài nguyên đất cho sản xuất
nông nghiệp. Hệ quả tất yếu dẫn tới là phải mở rộng đất nông nghiệp, xâm lấn vào
đất rừng, làm suy thoái ĐDSH.
Từ những năm 1960, thực hiện chủ trương của chính phủ xây dựng và phát triển
các vùng kinh tế mới, các địa hương đã động viên khoảng 1,2 triệu người từ vùng
đồng bằng lên khai hoang và sinh sống ở vùng núi. Cuộc vận động này đã làm thay
đổi cơ cấu dân số và tập quán canh tác ở miền núi. Từ những năm 1990, đã có
nhiều đợt di cư tự do từ các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ vào các tỉnh phía Nam.
Tác động của di dân tự do đến tài nguyên thiên nhiên, đến ĐDSH ở các vùng này
đã trở thành vấn đề bức xúc ở một số tỉnh phía Nam, đặc biệt là Tây Nguyên.
Sự nghèo đói.
Việt Nam được xếp loại là một trong những nước nghèo trên thế giới với gần 80%
dân số sống ở nông thôn, hoạt động kinh tế chủ yếu là nông – lâm – ngư nghiệp,
đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn. Theo thống kê vào năm 2001, tỷ lệ hộ đói
nghèo chiếm 17% tổng số dân, trong đó phần lớn số hộ này sống ở nông thôn, miền
quan hệ giữa phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường cần xem xét, kết hợp
những vấn đề môi trường trong việc hoạch định chính sách.
Hiệu lực thi hành pháp luật về môi trường.
Công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên và môi trường đã được Nhà nước ta quan tâm
từ những năm 1960. Nhiều văn bản pháp luật, các chủ trương, chính sách đã được
ban hành, một số chương trình hành động liên quan đến ĐDSH đã được thực hiện.
Tuy nhiên, việc thực thi chưa được triệt để và ý thức bảo vệ ĐDSH của nhân dân,
nhất là đồng bào miền núi chưa cao. Mặt khác, về phương diện quản lý Nhà Nước,
lực lượng kiểm lâm chưa đủ mạnh, chính sách đãi ngộ còn hạn chế, trang bị kỹ
thuật yếu, chế tài, luật pháp chưa cụ thể và có khi còn không động viên, khuyến
khích lực lượng kiểm lâm và quần chúng tích cực tham gia bảo vệ rừng.
Hình 3.4. Việc vi phạm pháp luật vẫn diễn ra thường xuyên
Chính sách kinh tế cộng đồng.
Chính sách sử dụng đất: Có vai trò quyết định đến phát triển kinh tế xã hội và đời
sống của người dân. Sau thời kỳ hợp tác xã tan rã, để duy trì sự sống, người dân đã
phải đầu tư vào mảnh ruộng 5% do hợp tác xã để lại và phải lên rừng khai hoang để
chống đói. Đây chính là giai đoạn mà rừng Việt Nam bị huỷ hoại.
Chính sách lâm nghiệp: Theo con đường làm ăn tập thể, các nông trường và các
lâm trường quốc doanh được thành lập khắp nơi trên cả nước. Một trong những
nhiệm vụ của lâm trường là khai thác gỗ theo kế hoạch của nhà nước. Theo số liệu
thống kê, hàng năm việc khai thác gỗ đã làm suy thoái 70.000 ha rừng, trong đó có
30.000 ha bị mất trắng.
Tập quán du canh du cư: Trong số 54 dân tộc ở Việt Nam thì có tới 50 dân tộc với
khoảng 9 triệu dân có tập quán du canh và do sức ép của gia tăng dân số, du canh
trở thành một nguyên nhân quan trọng làm mất rừng, thoái hoá đất và kết quả là tạo
ra cả một vùng đất trống đồi trọc như hiện nay.
3. Thang phân hạng của IUCN, 1994 (IUCN, Read list Categorles):
Thang bậc phân hạng của IUCN, 1994 hiện đang được sử dụng, bao gồm các hạng
như sau:
• Thang bậc phân hạng mức đe dọa cụ thể:
hoặc vùng chiếm cứ nhỏ thua 10
km
2
, và được chỉ ra bởi các ước lượng sau :
1. Bị phân cách nghiêm trọng hay được biết chỉ tồn tại trong một diểm duy nhất.
2. Tiếp tục suy giảm qua quan sát hoặc có thể gặp phải trong các trường hợp sau:
(a) phạm vi xuất hiện
(b) diện tích chiếm cứ
(c) diện tích, phạm vi hay chất lượng sinh cảnh
(d) số lượng cá thể trưởng thành
3. Những thay đổi cực kỳ bất thường theo các điểm sau:
(a) phạm vi xuất hiện
(b) diện tích chiếm cứ
(c) số địa điểm phân bố hay số lượng các quần thể phụ
(d) số lượng cá thể trưởng thành
C. Số lượng quần thể được ước lượng còn ít thua 250 cá thể trưởng thành và :
1. Số lượng đó vẫn tiếp tục suy giảm ít nhất 25% trong 3 năm tới ở 1 thế hệ hoặc
nhiều hơn.
2. Quần thể vẫn tiếp tục giảm qua quan sát hoặc có thể gặp phải về số lượng cá thể
trưởng thành và cấu trúc quần thể nằm trong các dạng:
(a) bị chia cắt nghiêm trọng
(b) tất cả các cá thể đều nằm trong một quần thể phụ duy nhất.
D. Quần thể có số lượng dưới 50 cá thể trưởng thành.
E. Các phân tích khối lượng chỉ ra rằng khả năng tuyệt chủng trong tự nhiên ít nhất
là dưới 50% trong vòng 10 năm hoặc là 3 thế hệ hay bất cứ khi nào dài hơn.
- Nguy cấp - EN (Endangered):
Một loài được coi là nguy cấp khi nó chưa phải là nguy cấp cao nhưng nó đang
phải đối mặt với những mối đe doạ tuyệt chủng tự nhiên rất lớn trong một tương lai
gần theo định nghĩa từ mục A đến E dưới đây:
A. Quần thể đang bị suy giảm theo một trong các hình thức sau:
nhiều hơn.
2. Quần thể vẫn tiếp tục giảm qua quan sát hoặc có thể gặp phải về số lượng cá thể
trưởng thành và cấu trúc quần thể nằm trong các dạng:
(a) bị chia cắt nghiêm trọng
(b) tất cả các cá thể đều nằm trong một quần thể phụ duy nhất.
D. Quần thể có số lượng dưới 250 cá thể trưởng thành.
E. Các phân tích khối lượng chỉ ra rằng khả năng tuyệt chủng trong tự nhiên ít nhất
là dưới 20% trong vòng 20 năm hoặc là 5 thế hệ hay bất cứ khi nào dài hơn.
- Sắp nguy cấp - VU (Vulnerable):
Một loài được coi là sắp nguy cấp khi nó chưa phải nguy cấp cao hay nguy cấp
nhưng đang phải đối mặt với những mối đe doạ tuyệt chủng tự nhiên rất lớn trong
một tương lai theo định nghĩa từ mục A đến D dưới đây:
A. Quần thể đang bị suy giảm theo một trong các hình thức sau :
1. Các quan sát, ước lượng chỉ ra rằng quần đã bị/ có xu thế hoặc nghi có sự suy
giảm ít nhất 20% trong vòng 10 năm hoặc trong 3 thế hệ vừa qua hoặc lâu hơn,
được xác định bởi:
(a) quan sát trực tiếp
(b) một chỉ số của độ phong phú sát thực với đơnvị phân loại đó
(c) suy giảm trong vùng chiếm cứ
(d) mức độ khai thác hiện tại hoặc có xu hướng khai thác.
(e) hậu quả của du nhập loài mới, tạp lai, bệnh dịch, ô nhiễm hay ký sinh.
2. Sự suy giảm ít nhất 20%, có xu hướng hoặc nghi sẽ có thể gặp phải trong 10 năm
tới hoặc trong 3 thế hệ tới hoặc lâu hơn dựa trên cơ sở xác định của bất kỳ điểm
(b), (c), (d) hoặc (e) ở trên
B. Phạm vi xuất hiện ước lượng nhỏ thua 20.000 km
2
hoặc vùng chiếm cứ nhỏ thua
2000 km
2
, và được chỉ ra bởi các ước lượng sau :