MỞ ĐẦU
1 . Đặt vấn đề:
Đất là tài sản quý giá của mỗi quốc gia, vừa là tư liệu vừa là đối tượng sản xuất và
cũng là nơi xây dựng các công trình phục vụ phát triển kinh tế, dân sinh và an ninh
quốc phòng. Quá trình khai thác sử dụng đất luôn gắn liền với quá trình phát triển của
xã hội. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu sử dụng đất càng cao, trong khi đó đất đai
lại có hạn và ngày càng trở nên quý giá. Chính vì vậy mà việc sử dụng đất tiết kiệm,
hiệu quả và bền vững luôn là nhu cầu cấp thiết, đòi hỏi phải cân nhắc kỹ càng và
hoạch định khoa học.
Luật Đất đai năm 2003, tại chương I, Điều 5 quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân
do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” và “Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đối với
đất đai thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất”. Trong Luật Đất Đai năm 2003,
tại Chương II, Điều 25 quy định việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai được
thực hiện ở 4 cấp là cấp cả nước, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã. Quy hoạch cấp trên
phân khai các chỉ tiêu sử dụng đất cho quy hoạch cấp dưới, quy hoạch cấp dưới cụ thể
hóa các chỉ tiêu phân khai của cấp trên và xác định các chỉ tiêu cho phát triển kinh tế
– xã hội của cấp đó.
Quy hoạch sử dụng đất huyện Xuân Lộc đến năm 2010 đã được triển khai xây dựng
từ năm 1998, sau đó tiến hành điều chỉnh vào năm 2003 và gần nhất là năm 2008.
Trên cơ sở quy hoạch cấp huyện, cấp xã cũng được xây dựng và điều chỉnh quy hoạch
theo từng mốc thời gian tương ứng. Quá trình thực hiện quy hoạch trên 10 năm qua
đã giúp cho công tác quản lý, sử dụng đất ở địa phương đi vào nề nếp và mang lại
hiệu quả thiết thực, làm tăng giá trị và sử dụng bền vững tài nguyên đất đai, tạo điều
kiện thuận lợi cho các ngành phát triển, góp phần quan trọng thúc đẩy kinh tế – xã hội
phát triển. Tuy nhiên, đến hết năm 2010 thì quy hoạch sử dụng đất huyện Xuân Lộc
cũng như các xã, thị trấn đều hết thời gian thực hiện, trong khi dự báo giai đoạn 2011
– 2020 kinh tế – xã hội sẽ phát triển với tốc độ cao và có nhiều biến đổi so với giai
đoạn 2001-2010. Do vậy, để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của địa
phương và tạo cơ sở pháp lý cho công tác quản lý đất đai một cách bền vững, cần
thiết phải tiến hành xây dựng mới “Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch
sử dụng đất 05 năm kỳ đầu (2011 – 2015)”.
năm 2003.
- Nghị định 69/2009/NĐ-CP (13/8/2009) của Chính phủ quy định bổ sung về quy
hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
- Nghị định 42/2012/NĐ-CP ngày 11/5/2012 của Chính phủ về Quản lý, sử dụng đất
trồng lúa.
- Thông tư 19/2009/TT-BTNMT (02/11/2009) Quy định chi tiết về việc lập, điều
chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
- Công văn số 429/TCQLĐĐ-CQHĐĐ (16/4/2012) hướng dẫn về quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất.
- Chỉ thị số 01/CT-BTNMT ngày 17/3/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về
việc tăng cường công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
- Văn bản số 2778/BTNMT-TCQLĐĐ (04/8/2009) của Bộ Tài nguyên và Môi
trường về việc triển khai lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử
dụng đất 2011-2015.
- Quyết định số 1764/QĐ-UBND ngày 06 tháng 7 năm 2010 của UBND tỉnh Đồng
Nai về việc phê duyệt dự án lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch
sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 – 2015) huyện Xuân Lộc – tỉnh Đồng Nai.
- Thông báo số 5710/TB-UBND ngày 31/7/2012 của UBND tỉnh Đồng Nai về Chỉ
tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tỉnh Đồng Nai đối với địa bàn các huyện, thị
xã Long Khánh, thành phố Biên Hoà.
2
- Văn kiện đại hội đại biểu đảng bộ huyện Xuân Lộc lần thứ V nhiệm kỳ 2010 –
2015.
- Các quy hoạch, dự án có liên quan, còn hiệu lực thi hành của tỉnh Đồng Nai và
huyện Xuân Lộc.
5. Sản phẩm giao nộp:
- Báo cáo thuyết minh tổng hợp “Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch
sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) huyện Xuân Lộc – tỉnh Đồng Nai, kèm
theo các loại bản đồ A4 và phụ biểu số liệu. 04 bản.
- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất đai năm 2010 (1/25.000). 04 bản.
tiềm năng về phát triển du lịch và có vị trí, vai trò rất quan trọng trong quốc phòng.
Ngoài Núi Chứa Chan còn có các núi nhỏ khác như : Núi Mây Tào, Núi Sa Bi, Núi Bà
Sót, Núi Hok, Núi Hòa Hưng
- Địa hình đồi thoải lượn sóng: Là dạng địa hình chính, hiện chiếm 85% tổng diện
tích toàn Huyện. Độ dốc phổ biến từ 3 đến 8
o
,
Khá thuận lợi cho phát triển nông
nghiệp với các loại hình cây lâu năm và cho xây dựng các công trình phi nông nghiệp.
Tuy nhiên trên các khu vực có độ dốc trên 3
0
cần chú trọng biện pháp bảo vệ để hạn
chế tình trạng xói mòn đất trong mùa mưa.
1.3. Khí hậu :
Huyện Xuân Lộc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới cận xích đạo, với những đặc trưng
chính như sau :
- Năng lượng bức xạ dồi dào (trung bình 154-158 Kcal/cm
2
-năm). Nắng nhiều
(trung bình từ 5,7-6 giờ/ngày). Nhiệt độ cao và cao đều quanh năm, (trung bình
25,4
o
C), tổng tích ôn lớn (trung bình 9.271
o
C/năm ). Hầu như không có những
thiên tai như : bão, lụt, rất thuận lợi cho phát triển kinh tế.
4
- Lượng mưa lớn (trung bình từ 1.956-2.139 mm/năm), có xu thế giảm dần theo
hướng từ Đông Bắc xuống Tây Nam. Mùa mưa thường bắt đầu vào tháng 5 kết
thúc vào cuối tháng 11. Hạn chế rõ nét nhất trong chế độ mưa ở đây là thường có
Hầu hết diện tích có độ dốc cấp I, tầng đất rất dày, kết cấu tơi xốp, thoát nước tốt, độ
phì cao. Nhìn chung chất lượng của đất đỏ thẫm cao hơn hẳn so với đất vàng đỏ và
các loại đất khác trên phạm vi toàn Huyện. Yếu tố hạn chế chính của nhóm đất này là
một số diện tích bị kết von.
BẢNG 1: DIỆN TÍCH CÁC LOẠI ĐẤT HUYỆN XUÂN LỘC
Số Tên đất Ký Diện tích Tỷ lệ
TT hiệu (ha) (%)
I ĐẤT XÁM VÀNG AC 30.528 41,98
1 Đất xám vàng kết von ACf 14.019 19,28
2 Đất xám vàng gley ACg 3.508 4,82
3 Đất xám vàng điển hình ACh 13.001 17,88
5
Số Tên đất Ký Diện tích Tỷ lệ
TT hiệu (ha) (%)
II ĐẤT ĐÁ BỌT NÚI LỬA AN 194 0,27
4 Đất đá bọt điển hình ANh 194 0,27
III ĐẤT ĐỎ VÀNG FR 8.807 12,11
5 Đất đỏ thẩm FRr 3.733 5,13
6 Đất vàng đỏ FRx 5.073 6,98
IV ĐẤT TẦNG MỎNG LP 2.800 3,85
7 Đất tầng mỏng LPd 2.800 3,85
V ĐẤT NÂU THẨM LV 18.550 25,51
8 Đất nâu thẩm có tầng kết von LVf 10.062 13,84
9 Đất nâu thẩm gley LVg 5.766 7,93
10 Đất nâu thẩm điển hình LVh 610 0,84
11 Đất nâu LVx 2.111 2,90
VI ĐẤT XÁM NÂU LX 10.098 13,89
12 Đất xám nâu kết von LXf 509 0,70
13 Đất xám nâu gley LXg 684 0,94
14 Đất xám nâu điển hình LXh 6.301 8,66
Nhìn chung trong 6 nhóm đất, nhóm đất đỏ vàng có nhiều ưu điểm nhất, khá thích hợp
với các loại cây lâu năm. Kế đến là đất nâu thẫm và đất đá bọt núi lửa, nhưng do bị
hạn chế bởi yếu tố tầng dày nên chỉ thích hợp với cây hàng năm và rất nhạy cảm với
6
điều kiện khô hạn. Đất xám vàng có độ dốc nhỏ, tầng đất dày, nhưng độ phì thấp, có
thể sử dụng vào mục đích nông nghiệp nhưng cần đặc biệt chú trọng biện pháp cải tạo
và tăng cường thâm canh. Đất xám nâu và đặc biệt là đất tầng mỏng có chất lượng
kém, cần được khôi phục lại thảm rừng.
b). Độ dốc, tầng dày:
Đất đai của Huyện khá bằng phẳng: có tới 82,94% diện tích có độ dốc <8
0
, khá thuận
lợi cho sử dụng vào mục đích nông - công nghiệp cũng như xây dựng các điểm dân cư
và cơ sở hạ tầng. Yếu tố hạn chế là tầng dày: có tới 13,42% diện tích thuộc tầng rất
mỏng (<30cm) và 28,06% thuộc tầng mỏng và trung bình.
BẢNG 2: DIỆN TÍCH ĐẤT PHÂN THEO ĐỘ DỐC - TẦNG DÀY
Độ dốc Diện tích Tỷ lệ Tầng dày (cm)
(ha) (%) <30 30-70 > 70
<8 60.313 82,94 5.189 17.499 37.626
8 - 15 6.747 9,28 1.387 2.400 2.959
> 15 3.916 5,39 3.182 507 228
Sông suối, ao hồ 1.743 2,40
Diện tích 72.719 100,00 9.758 20.406 40.812
Tỷ lệ 100,00 13,42 28,06 56,12
Nguồn: Quy hoạch sử dụng đất huyện Xuân Lộc thời kỳ 1998-2010 – Phân viện QH&TKNN
2.2. Tài nguyên nước:
a.Nước mặt:
Phần lớn sông suối trong địa phận Xuân Lộc thường ngắn và dốc nên khả năng giữ
nước rất kém, nghèo kiệt vào mùa khô. Việc xây dựng các hồ chứa kết hợp với chuyển
tải nước từ ngoài vùng vào là rất cần thiết cho phát triển kinh tế-xã hội mà đặc biệt là
3
/s. Ngoại trừ dòng chính
có nước quanh năm, đại bộ phận các nhánh suối đều cạn kiệt vào cuối mùa khô.
Các nhánh suối thuộc hệ thống Sông Dinh: Các nhánh suối này bắt nguồn từ khu
vực phía Đông Nam núi Chứa Chan, diện tích lưu vực :200 km
2
, bao gồm các suối
chính như : Suối Gia Ui, Suối Da Công Hoi, Suối Da Kriê. Mô-đun dòng chảy tương
đối khá(khoảng 32,6 l/s/km
2
) nhưng do lưu vực hẹp, thảm phủ kém, mùa khô kéo dài
nên các suối này đều bị kiệt vào cuối mùa khô. Hiện đã xây dựng Hồ Núi Le và hồ Gia
Ui, các hồ này đã có tác dụng tốt trong việc cung cấp nước vào mùa khô.
b. Nước ngầm:
Theo bản đồ địa chất - thủy văn tỉnh Đồng Nai tỉ lệ 1/100.000, huyện Xuân Lộc nằm
trong khu vực nghèo nước ngầm. Trên nền đất đỏ vàng được phong hóa từ đá bazan
nước ngầm thường xuất hiện ở độ sâu từ 25-30 m. Các khu vực khác nước ngầm
thường xuất hiện ở độ sâu từ 80-120m, lưu lượng trung bình từ 0,5 đến 12l/s, chất
lượng tốt. Hiện nay nước ngầm đang được khai thác cho sinh hoạt và tưới cho cây
trồng.
So với các khu vực khác ở Đông Nam bộ thì Đồng Nai nói chung và Xuân Lộc nói
riêng có hạn chế lớn về thiếu nguồn nước ngọt để tưới cho cây trồng vào mùa khô,
đòi hỏi phải bố trí cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với điều kiện của từng tiểu vùng,
kết hợp với ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước để tăng cường thâm canh, nâng
cao hiệu quả sản xuất, phát huy lợi thế về vị trí địa lý, địa hình, đất đai và nguồn lực.
2.3. Tài nguyên rừng:
Theo số liệu kiểm kê đất đai năm 2010, toàn Huyện còn khoảng 9.382ha đất lâm
nghiệp, bao gồm:
- Rừng sản xuất: 4.389ha, toàn bộ là rừng trồng sản xuất có trữ lượng gỗ còn thấp.
- Rừng phòng hộ: 4.994ha, phân bố ở núi Chứa Chan và các xã Xuân Thành, Xuân
08:2008/BTNMT, cột A1, A2, nhưng đã có dấu hiệu bị ô nhiễm cục bộ về chất
hữu cơ do chất thải sinh hoạt, công nghiệp và chăn nuôi.
- Chất lượng nước ngầm: Còn tương đối tốt, tuy nhiên có một số giếng chỉ tiêu
Coliform không đạt tiêu chuẩn nhưng mức độ không đáng kể. Ô nhiễm vi sinh là
do sử dụng các giếng chưa hợp vệ sinh (chưa được lát nền, chưa có che chắn cẩn
thận và khoảng cách giếng chưa hợp lý so với các chuồng trại, công trình vệ sinh,
…).
- Chất lượng không khí xung quanh huyện tương đối tốt, hầu hết các chỉ tiêu đều
đạt tiêu chuẩn cho phép, chỉ một số khu vực gần đường giao thông ô nhiễm tiếng
ồn cục bộ.
- Chất lượng không khí tại các cơ sở sản xuất đạt tiêu chuẩn vệ sinh 3733/2002/QĐ-
BYT, tuy nhiên tại khu vực gần các trang trại chăn nuôi, chế biến hạt điều bị ô
nhiễm mùi hôi do các khí NH
3
, H
2
S, mecarptan,… và khí thải hạt điều có phenol.
- Vấn đề ô nhiễm môi trường do hoạt động chăn nuôi là một trong những vấn đề
bức xúc và nổi cộm nhất về ô nhiễm môi trường, mặc dù một số cơ sở có xây hầm
biogas nhưng mùi hôi và nước thải vẫn còn gây ảnh hưởng rất lớn đến người dân
sống chung quanh. Huyện đã tiến hành quy hoạch vùng khuyến khích phát triển
chăn nuôi nhưng khâu tổ chức di dời các trang trại chăn nuôi trong và gần các khu
dân cư vào các vùng quy hoạch diễn ra còn chậm.
4. Đánh giá về biến đổi khí hậu tác động đến việc sử dụng đất:
Biến đổi khí hậu là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế
kỷ 21. Biến đổi khí hậu sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi
trường trên phạm vi toàn thế giới. Nhiệt độ tăng, mực nước biển dâng gây ngập lụt,
gây nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến nông nghiệp, gây rủi ro lớn đối với công
độ tăng trưởng kinh tế trong thời kỳ đạt 16,6%, cao gấp 1,26 lần so với tăng trưởng
bình quân toàn Tỉnh (13,2%) và gấp 2,31 lần so với bình quân toàn quốc (7,2%). Đạt
được thành quả trên là nhờ công nghiệp tăng trưởng nhanh, đạt 37,9%; dịch vụ đạt
18,5% trong khi nông nghiệp vẫn giữ được mức tăng trưởng khá ổn định 5,4%.
Tuy nhiên, quy mô nền kinh tế ở Huyện chưa lớn, hiện chỉ chiếm 5,8% nền kinh tế
tỉnh Đồng Nai. Thu nhập bình quân đầu người đã được nâng lên khá nhanh trong thời
gian gần đây nhưng vẫn còn thấp hơn nhiều so với bình quân của Tỉnh và cả nước.
Năm 2010, GDP bình quân đầu người ở Xuân Lộc ước đạt 999,2 USD trong khi bình
quân toàn Tỉnh đạt 1.629 USD và bình quân cả nước đạt 1.226USD.
BẢNG 3: TĂNG TRƯỞNG VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ THỜI KỲ 2006-2010
HUYỆN XUÂN LỘC – TỈNH ĐỒNG NAI
Số Chỉ tiêu Đơn vị Năm Tăng trưởng (%)
TT tính 2005 2009 2010 2006 - 2010
1 GDP trên địa bàn
1.1 Giá so sánh 1994 Tỷ đồng 1.164 1.987 2.510 16,6
- Nông - lâm nghiệp – thủy sản Tỷ đồng 651 795 847 5,4
- Công nghiệp - xây dựng Tỷ đồng 175 523 873 37,9
- Dịch vụ Tỷ đồng 338 669 790 18,5
10
1.2 Giá thực tế Tỷ đồng 1.512 3.240 4.328 23,42
- Nông - lâm nghiệp – thủy sản Tỷ đồng 858 1.298 1.470 11,38
- Công nghiệp - xây dựng Tỷ đồng 293 1.083 1.736 42,78
- Dịch vụ Tỷ đồng 361 859 1.122 25,46
2 Cơ cấu (%) % 100 100 100
- Nông - lâm nghiệp – thủy sản % 57 40 34
- Công nghiệp - xây dựng % 19 33 40
- Dịch vụ % 24 27 26
3 GDP bình quân/người Tr đ/ng 7,1 14,3 19,0 21,77
Nguồn: Chi cục Thống kê huyện Xuân Lộc – năm 2010.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế của Huyện chuyển dịch khá nhanh theo
- Chăn nuôi Tỷ đồng 476 1.084 1.366
- Dịch vụ nông nghiệp Tỷ đồng 54 159 162
11
2.2 Lâm nghiệp Tỷ đồng 26 54 43 10,96
2.3 Thủy sản Tỷ đồng 18 34 38 16,06
3 Cơ cấu (%) % 100 100 100
3.1 Nông nghiệp % 97 97 98
- Trồng trọt % 62 55 52
- Chăn nuôi % 34 39 43
- Dịch vụ nông nghiệp % 4 6 5
3.2 Lâm nghiệp % 1,8 1,9 1,3
3.3 Thủy sản % 1,3 1,2 1,2
Nguồn: Chi cục Thống kê huyện Xuân Lộc – năm 2010.
Mặc dù điều kiện sản xuất ít thuận lợi hơn các huyện khác ở khu vực Nam bộ, cơ sở
hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp mà nhất là thủy lợi còn hạn chế, nhưng do làm
tốt công tác chỉ đạo sản xuất nên nông nghiệp của Xuân Lộc trong những năm qua
liên tục tăng trưởng với GTSX toàn ngành nông nghiệp luôn đạt tốc độ tăng trưởng từ
1,5-1,8 lần mức tăng bình quân của ngành nông nghiệp cả nước.
Trong nông nghiệp, cả trồng trọt và chăn nuôi đều có tốc độ tăng trưởng cao, trình độ
sản xuất luôn được nâng cao theo hướng công nghiệp hoá và tập trung đầu tư theo
chiều sâu. Riêng chăn nuôi, đạt tốc độ tăng trưởng rất cao, nên tỷ trọng GTSX ngành
chăn nuôi trong tổng GTSX nông nghiệp tăng khá nhanh, từ 22,8% năm 2000 lên
34% năm 2005 và chiếm khoảng 43% năm 2010, cao hơn nhiều so với tỷ trọng bình
quân của ngành chăn nuôi cả nước (khoảng 25%) và của Tỉnh (khoảng 33%). Để tạo
điều kiện cho chăn nuôi phát triển bền vững và dần trở thành ngành sản xuất chính
trong lĩnh vực nông nghiệp, Huyện đã tiến hành xây dựng quy hoạch phát triển chăn
nuôi và xây dựng các vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi, các cơ sở giết mổ tập
trung đã được tiến hành và được UBND tỉnh Đồng Nai phê duyệt tại Quyết định số
3082/QĐ-UBND ngày 22/10/2009. Kết quả xác định 25 vùng khuyến khích phát triển
chăn nuôi giai đoạn I với tổng diện tích 3.982ha trên địa bàn 14 xã thuộc Huyện.
lượng cơ sở chủ yếu là hộ kinh doanh cá thể, chiếm đến 98,3% cơ sở sản xuất công
nghiệp trên địa bàn Huyện. Chỉ có một ít doanh nghiệp đầu tư có quy mô lớn là Công
ty Dona Standard, chi nhánh sản xuất nhân điều của Công ty Donafoods, 08 cơ sở sản
xuất và 02 HTX thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.
Về phát triển các khu công nghiệp: Hiện trên địa bàn Xuân Lộc có 01 khu công
nghiệp đã được Chính phủ chấp thuận thành lập tại xã Xuân Tâm – Xuân Hiệp vào
đầu năm 2006 với diện tích 109ha, trong đó đất dành cho sản xuất công nghiệp
63,9ha, trung tâm dịch vụ 1,5ha, giao thông 18,223ha, Cây xanh 17.037ha, kho bãi
7ha, khu xử lý chất thải 1,58ha. Tỷ lệ lấp đầy đạt 48,29% diện tích sản xuất công
nghiệp, kết cấu hạ tầng đã được đầu tư, hiện có 02 dự án đăng ký đầu tư: Công ty
Ajinomoto diện tích 1,6ha để xây dựng trạm luân chuyển phân Ami; Công ty Dona
Standard đăng ký diện tích 28ha để sản xuất giày da.
Về phát triển cụm công nghiệp: Trên địa bàn huyện đã quy hoạch 02 cụm công
nghiệp, với tổng diện tích 40ha, đã được UBND Tỉnh phê duyệt quy hoạch chi tiết, đó
là cụm công nhgiệp Xuân Hưng 19ha, cụm công nghiệp Suối Cát 20ha nhưng chưa
được đầu tư cơ sở hạ tầng. Cụm công nghiệp Suối Cát đã có 02 nhà máy hoạt động
trước khi tiến hành quy hoạch, cụm công nghiệp Xuân Hưng đã thỏa thuận địa điểm
cho 02 đơn vị là Công ty TNHH Lực và Công ty TNHH Hòa Bình World.
2.3. Khu vực kinh tế dịch vụ:
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, khu vực thương mại – dịch vụ ở Huyện trong
thời gian qua cũng phát triển khá nhanh. Tốc độ tăng GDP của ngành trong giai đoạn
2006-2010 tăng 18,5%, chiếm 26% cơ cấu GDP toàn Huyện. Tổng mức bán lẻ hàng
hóa và dịch vụ thời kỳ 2006-2010 tăng 24,4%. Số đơn vị kinh doanh thương mại –
dịch vụ tăng từ 4.595 cơ sở năm 2005 lên 6.612 cơ sở năm 2010.
Mạng lưới dịch vụ ở Xuân Lộc bao gồm các chợ, các cửa hàng kinh doanh, các điểm
cung ứng vật tư nông nghiệp, vật liệu xây dựng, các tổ chức và hộ thu mua tiêu thụ
sản phẩm, giao thông vận tải, dịch vụ tài chính, thông tin, bưu điện Các tổ chức này
hoạt động khá tốt nhưng chưa được hỗ trợ thỏa đáng bằng các chính sách điều tiết và
chỉ đạo kịp thời của các cấp chính quyền, các cơ quan chức năng, nên chưa tạo được
mối quan hệ lâu bền giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, chưa kiểm soát tốt được chất
2.2 Lao động đang làm việc Người 97.292 114.867 123.070 4,8
- Lao động nông lâm nghiệp Người 62.762 66.050 66.270 1,1
- Lao động công nghiệp - xây dựng Người 8.900 18.217 24.500 22,4
- Lao động dịch vụ Người 25.630 30.600 32.300 4,7
3 Cơ cấu lao động % 100 100 100
- Lao động nông lâm nghiệp % 65 58 54
- Lao động công nghiệp - xây dựng % 9 16 20
- Lao động dịch vụ % 26 27 26
Nguồn: Chi cục Thống kê huyện Xuân Lộc – năm 2010.
3.2. Lao động, việc làm và thu nhập:
Năm 2010, Xuân Lộc có 142.120 lao động trong độ tuổi, chiếm khoảng 62,2% dân số,
lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế 123.070 người (chiếm 86,6% lao động).
Như vậy lực lượng lao động trong độ tuổi không làm việc trong các ngành kinh tế còn
chiếm tỷ lệ cao (13,4%), nhưng trong số này có phần lớn là lao động nông thôn đến làm
việc tại các khu công nghiệp ngoài Huyện.
Cơ cấu lao động chuyển dịch khá nhanh theo hướng giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp
sang các ngành phi nông nghiệp. Tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm từ 80% năm 2000
xuống 54% năm 2010, nhờ vậy đã góp phần tăng bình quân đất nông nghiệp/lao động
nông nghiệp. Lao động khu vực công nghiệp dịch vụ tăng tương ứng từ 7,05% lên
20% và khu vực dịch vụ tăng từ 13,07% lên 26%. Từ năm 2005 đến nay, mỗi năm
huyện luôn đào tạo một lực lượng lớn lao động cung cấp cho các ngành phi nông
nghiệp và cho các khu công nghiệp ngoài Huyện, bình quân mỗi năm đã tạo được 5 –
6 ngàn việc làm mới. Riêng năm 2009 tạo được việc làm cho trên 8.000 lao động.
Thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh, công bằng xã hội ngày một được chú trọng
nên tỷ lệ hộ nghèo giảm khá nhanh. Số hộ nghèo theo tiêu chí qui định hiện hành đến
năm 2010 chỉ còn 2,44%. Đến năm 2010, toàn Huyện chỉ còn 2.664 hộ nghèo.
Tuy nhiên, xu thế tập trung đất đai ngoài những tác động tích cực đến đẩy mạnh sản
xuất theo hướng công nghiệp nhưng cũng đã tác động lớn đến phân hóa giàu nghèo,
Huyện cần có biện pháp hữu hiệu để giảm dần khoảng cách về thu nhập giữa huyện
với mức chung toàn Tỉnh và giữa các nhóm hộ trong Huyện. Đây cũng là một trong
3 Đường huyện 123 43 11 70
4 Đường đô thị 50 17 4 29
5 Đường nông thôn 327 3 40 285
Nguồn: Quy hoạch giao thông huyện Xuân Lộc đến năm 2020 – Phòng Kinh tế Hạ tầng Xuân Lộc.
b. Đường sắt: Trên địa bàn huyện Xuân Lộc có tuyến đường sắt bắc nam đoạn chạy
qua Huyện dài: 31 km với 3 nhà ga là: Trảng Táo, Gia Ray, Bảo Chánh.
5.2. Thủy lợi:
Thủy lợi có vai trò vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội mà nhất là cho
nâng cao hiệu quả sử dụng đất và phát triển bền vững. Lãnh đạo Huyện và người dân
đều có ý thức cao về vai trò của công tác thủy lợi, rất quan tâm đến công tác này,
nhưng do sự trợ giúp của Tỉnh và Trung ương còn nhỏ giọt nên công tác xây dựng
công trình thủy lợi trên địa bàn Huyện còn chậm so với mong muốn.
Trên địa bàn huyện đã xây dựng được các công trình sau:
- Hồ Gia Ui: trữ lượng 10,8 triệu m
3
, tổng chiều dài kênh mương 38,64 km, năng lực
tưới thực tế 1.504ha, ngoài ra còn cung cấp nước phục vụ sinh hoạt với công suất
5.000 m
3
/ngày đêm.
16
- Hồ Núi Le: trữ lượng nước 4 triệu m
3
, hiện tưới cho 309 ha cây lâu năm và phục
vụ nước sinh hoạt cho các xã Xuân Hiệp, TT.Gia Ray, Suối Cát với công suất
3.000m
3
/ngày đêm.
- Đập Gia Liêu: hiện tưới cho 300 ha đất sản xuất nông nghiệp, trong đó có 3,55km
kênh được kiên cố hoá, tuy nhiên suối Gia Liêu chỉ có nước vào mùa mưa từ tháng
kê toàn huyện có khoảng 405 trạm/33.511,5kVA, trong đó trạm 01 pha là 265
trạm/12,487,5kVA chiếm tỷ trọng 37,3% tổng dung lượng, công suất trung bình là
47kVA/trạm; trạm 03 pha là 140trạm/21.024kVA, công suất trung bình
150kVA/trạm. Công suất trung bình của trạm biến áp 01pha và 03 pha phù hợp với
nhu cầu ở huyện Xuân Lộc, nơi có mật độ phụ tải không cao, dân cư sống rải rác. Các
trạm biến áp phân phối đều được thiết kế, xây dựng bám theo các khu dân cư nông
thôn nên có bán kính lưới điện hạ thế cấp điện tới các hộ dân từ 800-1.000m.
17
Lưới điện hạ thế: Lưới điện hạ thế ở Xuân Lộc chủ yếu dùng cấp điện áp 380/220V,
vận hành theo sơ đồ hình tia, kết cầu 03 pha 04 dây. Lưới 03 pha chủ yếu tập trung ở
khu vực thị trấn, các khu vực nông thôn phần lớn là 01 pha. Tổng chiều dài đường
dây hạ thế khoảng 485km, trong đó có khoảng 87,8km đường dây 03 pha và khoảng
398km đường dây 01 pha. Điện lực quản lý khoảng 32.673 công tơ, trong đó có 309
công tơ 03 pha và 32.364 công tơ 01 pha. Bán kính cung cấp điện của mạng lưới điện
hạ thế trung bình từ 800-1.000m, một số nơi lưới hạ thế có bán kính từ 1.500-2.000m
ở những khu vực này điện áp cuối đường dây không đảm bảo.
Tỷ lệ hộ sử dụng điện đạt khoảng 99,3% tổng số hộ hiện có trên địa bàn Xuân Lộc
5.4. Giáo dục:
Được sự quan tâm của toàn xã hội nên giáo dục ngày càng phát triển, công tác xã hội
hóa giáo dục được thực hiện có hiệu quả. Cơ sở vật chất ngành giáo dục tiếp tục được
xây dựng theo hướng kiên cố hóa. Giữ vững kết quả phổ cập giáo dục tiểu học,
THCS, thực hiện đạt mục tiêu về phổ cập giáo dục phổ thông. Tỷ lệ học sinh ra lớp:
mẫu giáo 5 tuổi đạt 71,1%, 6 tuổi vào lớp một đạt 100%, số vào lớp 6 đạt 100%, học
sinh tốt nghiệp THCS vào lớp 10 đạt 72%. Chất lượng giáo dục có tiến bộ, số học
sinh đạt khá, giỏi và hạnh kiểm tốt hàng năm đều tăng. Đội ngũ giáo viên phần lớn
có phẩm chất, đạo đức, yêu nghề, trình độ chuyên môn được chuẩn hóa đạt 95,4%,
trong đó đạt trên chuẩn 40,2%.
Mạng lưới trường lớp được quan tâm xây dựng theo hướng chuẩn hóa, hiện có 50%
trường học đạt chuẩn quốc gia. Tổng số trường học trên địa bàn Huyện hiện có là 75
trường, tăng 09 trường so với năm 2005. Phân bố đều theo các xã và khu vực.
- Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Xuân Lộc có vị trí địa lý thuận lợi
cho phát triển nền kinh tế với các thế mạnh về nông nghiệp - dịch vụ - công
nghiệp.
- Các yếu tố đất đai, khí hậu thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp và xây
dựng cơ sở hạ tầng.
- Nhiều cảnh quan có thể phát triển du lịch.
- Đất đai rộng lớn, tiềm năng chuyển đổi từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp còn
nhiều nên rất thuận lợi cho chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và thu hút đầu tư.
- Kinh tế xã hội phát triển khá, cơ cấu kinh tế đang chuyển đổi theo xu hướng tích
cực, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện.
- Cơ sở hạ tầng đã được chú trọng phát triển.
- Môi trường được bảo vệ khá tốt.
2. Khó khăn:
- Nguồn nước mặt bị hạn chế trong mùa khô, gây khó khăn cho sản xuất công nông
nghiệp và cung cấp cho sinh hoạt.
- Đất có tầng mỏng chiếm tỷ lệ lớn, độ phì không cao dễ bị rửa trôi.
- Khả năng thu hút đầu tư ngành công nghiệp – dịch vụ bị hạn chế so với các huyện
trọng điểm phát triển công nghiệp của Tỉnh.
- Thiếu lao động có kỹ thuật cao.
- Mặc dù tăng trưởng kinh tế khá nhanh trong những năm gần đây nhưng quy mô
nền kinh tế khá nhỏ. Công nghiệp còn nhỏ lẻ, lạm dụng nhân công.
- Cơ sở hạ tầng, văn hóa – xã hội ở các vùng sâu, vùng xa còn thiếu và yếu. Sự
quan tâm đầu tư từ cấp trên trong những năm qua trên địa bàn Xuân Lộc còn nhỏ.
19
Phần II
TÌNH HÌNH QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI
I. TÌNH HÌNH QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI:
1. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ
chức thực hiện:
Căn cứ vào trình tự, thủ tục về ban hành các văn bản pháp luật đất đai, Huyện đã ban
5. TT. Gia Ray 1.397 1,92 13. Xuân Hưng 10.496 14,43
6. Xuân Bắc 6.316 8,69 14. Xuân Thành 6.834 9,40
7. Xuân Hòa 8.724 12,00 15. Xuân Trường 4.720 6,49
Đã xây dựng bộ bản đồ ranh giới hành chính cho từng xã, thị trấn nên công tác quản
lý đất đai theo địa giới hành chính rất thuận lợi.
3. Điều tra, khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính
- Đến nay đã hoàn thành công tác đo vẽ bản đồ địa chính của 15/15 xã - thị trấn với
100% diện tích tự nhiên toàn huyện (02 xã Xuân Phú, Xuân Bắc và TT. Gia Ray
mới được đo đạc lại năm 2007), trong đó: đo tỷ lệ 1/500 đạt 11,88 ha, 1/1000 đạt
954,01ha, 1/2.000 đạt 27.438,28ha, 1/5000 đạt 41.142,44ha, 1/10.000 đạt
3.071,94ha. Việc đo đạc đã phản ảnh đầy đủ về hình thể, diện tích và mục đích sử
dụng, là công cụ quan trọng phục vụ cho công tác quản lý đất đai và đáp ứng cho
đa ngành kinh tế.
20
- Kết quả việc lập bản đồ địa chính đã phục vụ công tác lập hồ sơ địa chính, cấp
giấy CNQSDĐ trên địa bàn Huyện, nắm chắc diện tích các loại đất và chủ sử
dụng đất. Riêng công tác đánh giá, phân hạng đất chưa được thực hiện.
4. Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
4.1. Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010:
Công tác quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 được quan tâm xây dựng khá sớm
(năm 1997) và qua các kỳ điều chỉnh, xây dựng kế hoạch để kịp thời đáp ứng yêu cầu
phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Cụ thể được xây dựng và điều chỉnh qua
các kỳ như sau:
- Quy hoạch sử dụng đất huyện Xuân Lộc đến năm 2010, được UBND tỉnh Đồng
Nai phê duyệt tại quyết định số 2393/QĐ.CT.UBT (02/7/1999).
- Điều chỉnh, bổ sung quy hoạch sử dụng đất huyện Xuân Lộc đến năm 2010, được
UBND tỉnh Đồng Nai phê duyệt tại quyết định số 6884/QĐ.CT-UBT ngày
29/12/2004.
- Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010, kế hoạch sử dụng đất giai đoạn
2006-2010 huyện Xuân Lộc (cho giai đoạn 2008-2010) được UBND Tỉnh phê
Nhằm xác lập những cơ sở pháp lý cần thiết để người sử dụng đất và cơ quan quản lý
thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, sau khi kết thúc công tác đo đạc lập bản
đồ địa chính, UBND Huyện đã chỉ đạo tiến hành công tác đăng ký đất đai, lập hồ sơ
địa chính và cấp giấy CNQSDĐ cho các cá nhân và hộ gia đình sử dụng đất theo từng
địa bàn xã.
Đến nay cơ bản công tác đăng ký đất đai ban đầu trên địa bàn huyện đã cơ bản hoàn
thành. Thông qua công tác đăng ký đất đai đã giúp UBND các xã - thị trấn và UBND
Huyện nắm chính xác quỹ đất và quản lý chặt chẽ đất đai đến từng thửa đất, từng chủ
sử dụng. Kết quả đăng ký đất đai làm cơ sở để thực hiện công tác thống kê đất hàng
năm, lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Toàn Huyện đã cấp được 45.446 giấy CNQSDĐ, diện tích đã được cấp sổ tại cấp
huyện là 36.551 ha, bao gồm: Đất nông nghiệp 35.580ha và đất ở 971ha.
7. Thống kê, kiểm kê đất đai:
Công tác thống kê, kiểm kê đất đai định kỳ 5 năm và hàng năm đều được thực hiện
theo đúng thời hạn quy định của Bộ Tài Nguyên Môi trường.
- Công tác kiểm kê đất đai định kỳ 5 năm (2000, 2005, 2010) được thực hiện thống
nhất trong toàn Tỉnh nên nhìn chung chất lượng bảo đảm, phản ảnh được thực
trạng sử dụng đất vào thời điểm kiểm kê.
- Công tác thống kê đất đai hàng năm được thực hiện nhưng do công tác theo dõi
biến động còn chưa chặt chẽ nên số liệu còn nhiều hạn chế, chưa cập nhật đầy đủ.
8. Quản lý tài chính về đất đai:
Nhìn chung, đối với đất đai được giao và cấp giấy chứng nhận QSDĐ, thuế chuyển
quyền sử dụng đất, sang tên…. đều thông qua các đơn vị quản lý tài chính
trong Tỉnh và Huyện nên bảo đảm đúng các thủ tục và quy định về tài chính.
9. Quản lý và phát triển thị trường quyền SDĐ trong thị trường bất động sản
Mặc dù là huyện nông nghiệp nhưng việc trao đổi, mua bán đất đai của huyện diễn ra
khá sôi động, chủ yếu là chuyển nhượng chủ sử dụng. Tuy nhiên giao dịch, chuyển
nhượng quyền sử dụng đất không thông qua cơ quan nhà nước (giao dịch ngầm, giao
dịch giấy tay) vẫn tồn tại, vừa làm thất thu ngân sách, gây khó khăn cho cơ quản
quản lý, vừa gây ra tình trạng kiện tụng, tranh chấp đất đai. Nguyên nhân dẫn đến
đóng trên địa bàn Huyện còn chưa chặt chẽ nên bị lấn chiếm.
12.2. Nhìn chung, lượng đơn khiếu nại tố cáo có liên quan đến quản lý và sử dụng
đất có xu hướng giảm dần theo từng năm. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến
tình hình trên, nhưng cơ bản là do các nguyên nhân sau:
Trong các năm gần đây, pháp luật đất đai đã đi vào cuộc sống người dân, đã giảm
nhiều các trường hợp khiếu nại tố cáo sai sự thật hoặc đòi hỏi không đúng theo chủ
trương chính sách Nhà nước. Công tác hòa giải ở cấp xã theo Chỉ thị số 26/CP ngày
càng có hiệu quả tạo được ổn định sản xuất ở nông thôn.
Thực hiện Chỉ thị 64/TTg, quyết định 2664/QĐ.UBT trên địa bàn Huyện đã có những
chuyển biến trong công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại. Hầu hết các đơn vị
đều đã bố trí phòng tiếp dân và phân công cán bộ tiếp dân, soát xét những nội dung
23
nhân dân phản ảnh, trình bày hoặc khiếu tố và qua đó đã phân tích hướng dẫn hoặc
chuyển đơn kịp thời đến đúng cơ quan chức năng có thẩm quyền giải quyết theo luật
định, hạn chế được tình trạng chuyển đơn lòng vòng, gây phiền hà cho dân.
Việc giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của nhân dân có sự chỉ đạo tập trung của
UBND Huyện và sự phối hợp giữa các ngành từ huyện đến cơ sở. Việc áp dụng các
biện pháp hành chính Nhà nước nhằm tổ chức thực hiện nghiêm túc các quyết định
giải quyết có hiệu lực thi hành, đã có tác động tốt đến việc chấp hành pháp luật trong
nhân dân.
Công tác cấp giấy CN.QSDĐ được UBND Huyện tập trung chỉ đạo và đẩy nhanh tiến
độ thực hiện đã hạn chế việc tranh chấp khiếu nại về ranh giới, diện tích đất, không
gian sử dụng Mặt khác, Tòa án cũng đã tích cực giải quyết các tranh chấp theo quy
định tại khoản 3 điều 38 Luật Đất đai và theo Thông Tư liên Bộ giữa Tổng Cục Địa
Chính - Tòa án ND Tối Cao - Viện Kiểm Sát ND Tối Cao.
13. Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai:
Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất là cơ quan thực hiện những dịch vụ công về
đất đai như: đo vẽ, tách thửa khi dân có yêu cầu, đo vẽ giới thiệu địa điểm quy hoạch
cho các doanh nghiệp…, nhìn chung các hoạt động dịch vụ công này hoạt động khá
hiệu quả, góp phần làm tốt công tác quản lý nhà nước về đất đai.
1.3 Đất rừng phòng hộ RPH 4.994 6,87
1.4 Đất rừng đặc dụng RDD
1.5 Đất rừng sản xuất RSX 4.389 6,04
1.6 Đất nuôi trồng thuỷ sản NTS 414 0,57
1.7 Đất làm muối LMU
2 Đất phi nông nghiệp PNN 14.606 20,09
Trong đó:
2.1 Đất xây dựng trụ sở cơ quan, CTSN CTS 21 0,03
2.2 Đất quốc phòng CQP 8.074 11,10
2.3 Đất an ninh CAN 868 1,19
2.4 Đất khu công nghiệp SKK 128 0,18
2.5 Đất cơ sở sản xuất kinh doanh SKC 167 0,23
2.6 Đất sản xuất vật liệu xây dựng gốm sứ SKX 86 0,12
2.7 Đất cho hoạt động khoáng sản SKS
2.8 Đất di tích danh thắng DDT 3 0,00
2.9 Đất xử lý, chôn lấp chất thải nguy hại DRA
2.10 Đất tôn giáo, tín ngưỡng TTN 91 0,12
2.11 Đất nghĩa trang, nghĩa địa NTD 123 0,17
2.12 Đất có mặt nước chuyên dùng SMN 605 0,83
2.13 Đất phát triển hạ tầng DHT 1.949 2,68
Trong đó:
- Đất cơ sở văn hóa DVH 11 0,02
- Đất cơ sở y tế DYT 7 0,01
- Đất cơ sở giáo dục - đào tạo DGD 85 0,12
- Đất cơ sở thể dục thể thao DTT 14 0,02
2.14 Đất ở đô thị 79 0,11
3 Đất chưa sử dụng CSD 708 0,97
CÁC CHỈ TIÊU TRUNG GIAN
(*)
4 Đất đô thị DTD 1.397 1,92