Xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ công tác thu tiền sử dụng đất tại phường an hoà của thành phố huế, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 22

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI.
Một trong những mục tiêu cơ bản của việc phát triển kinh tế, xã hội và
hiện đại hóa đất nước là tạo nên cơ sở cho sự phát triển bền vững dưới sự lãnh
đạo của Đảng và Nhà nước. Để đạt được mục tiêu đó, việc ứng dụng công
nghệ thông tin trong các cơ quan Nhà nước để tăng nhanh tốc độ xây dựng,
xử lý các thông tin phục vục công tác quản lý nhà nước là một trong những
yếu tố quan trọng với mục tiêu chuyển sang nền kinh tế tri thức.
Hệ thống thông tin địa lý (GIS) là một lĩnh vực đang có sự phát triển
mạnh mẽ và vượt bậc trên thế giới. GIS đang là một công cụ hữu ích cho các
cơ quan Chính phủ, các tổ chức kinh tế và cộng đồng trong việc hỗ trợ ra
quyết định về sử dụng tài nguyên, môi trường, quản lý cơ sở hạ tầng và tra
cứu thông tin. Từ những bản đồ giấy như trước đây, thông tin địa lý đã và
đang được chuyển đổi sang các thông tin dạng số. Việc phát triển của công
nghệ phần mềm, nâng cao dung lượng lưu trữ và sự giảm giá thành sản xuất
liên tục của phần cứng máy tính đã làm cho hệ thống thông tin địa lý trước
đây chỉ thực hiện trên nền tảng các hệ thống phần cứng lớn và đắt tiền nay có
thể sử dụng được trên các máy tính cá nhân.
Các tổ chức chính phủ từ các cơ quan Trung ương đến địa phương có
thể sử dụng hệ thống thông tin địa lý như một công cụ để quản lý đất đai, tài
nguyên thiên nhiên, quản lý thông tin môi trường, giải quyết các vấn đề xã hội
và cơ sở hạ tầng. Các tổ chức kinh tế có thể sử dụng các thông tin địa lý để
quản lý công việc kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và tiếp thị. Cộng
đồng dân cư có thể sử dụng hệ thống thông tin địa lý để tra cứu thông tin.
Thu tiền sử dụng đất là một công tác không thể thiếu trong quản lý tài
chính về đất đai của Nhà nước để đảm bảo việc công bằng trong sử dụng đất.
Căn cứ tính thu tiền sử dụng đất là diện tích đất, giá đất và thời hạn sử dụng
đất khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, công tác tính và
thu tiền sử dụng đất thực hiện trong những năm vừa qua hoàn toàn theo
1

- Ứng dụng được phần mềm Mapinfo vào quản lý thông tin liên quan
đến công tác thu tiền sử dụng đất.
2
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. CÔNG NGHỆ GIS VÀ ỨNG DỤNG CỦA NÓ
2.1.1. Khái niệm GIS
• Ngày nay với sự phát triển công nghệ thông tin, đặc biệt từ khi xuất
hiện ngành đồ họa vi tính cũng như sự gia tăng vượt bậc những khả năng
phần cứng, hệ thống thông tin địa lý (GIS) đã ra đời và phát triển nhanh
chóng cả về mặt công nghệ cũng như ứng dụng. GIS đã chứng tỏ khả năng ưu
việt hơn hẳn các hệ thông tin bản đồ truyền thống nhờ vào khả năng tích hợp
thông tin mật độ cao, cập nhật thông tin dể dàng cũng như khả năng phân tích,
tính toán của nó. Do đó, GIS đã nhanh chóng trở thành một công cụ trợ giúp
quyết định cho tất cả các ngành từ quy hoạch đến quản lý. Tất cả các lĩnh vực
từ tài nguyên thiên nhiên, môi trường, đất đai, hạ tầng kỷ thuật đến xã hội
nhân văn. Có thể nói ngày nay không có lĩnh vực nào không có hoặc không
thể ứng dụng công nghệ GIS. Cũng chính vì thế, công nghệ thông tin địa lý
được tiếp cận từ nhiều hướng khác nhau nên cũng có nhiều định nghĩa khác
nhau về GIS, nhưng chúng đều có nhiều điểm giống nhau như: bao hàm khái
niệm dữ liệu không gian, phân biệt giữa hệ thông tin quản lý (management
information system – MIS) và GIS. [8]
• Về khía cạnh bản đồ học thì GIS là kết hợp của lập bản đồ trợ giúp máy
tính và công nghệ cơ sở dữ liệu. So với bản đồ thì GIS có lợi thế về lưu trữ dữ
liệu và biểu diễn chúng là hai công cụ tách biệt nhau. Do vậy GIS có khả năng
quan sát từ nhiều góc độ khác nhau trên cùng tập dữ liệu. GIS là thuật ngữ
viết tắt của từ tiếng Anh “Geographic Information System” và được dịch là
hệ thống thông tin địa lý. GIS ra đời từ đầu thập niên 60 trong các cơ quan địa
chính Canada và suốt thời gian hai thập niên 60-70 của thế kỷ 20, GIS cũng
chỉ được một vài cơ quan chính quyền khu vực Bắc Mỹ quan tâm nghiên cứu,

• Theo Arnoff (năm 1989):
GIS là một hệ thống máy tính cơ bản tạo ra 4 khả năng để lưu trữ dữ
liệu: dữ liệu vào, quản lý dữ liệu, phân tích dữ liệu, sản phẩm dữ liệu.
Tuy nhiên chúng ta có thể định nghĩa GIS như sau: GIS là một tập hợp
có tổ chức của các phần cứng máy tính, phần mềm, dữ liệu địa lý và các thủ
tục của người sử dụng nhằm trợ giúp việc thu thập, lưu trữ, quản lý, xử lý,
4
phân tích và hiển thị các thông tin không gian từ thế giới thực để giải quyết
các vấn đề tổng hợp thông tin cho các mục đích của con người đặt ra. [8]
2.1.2. Các lĩnh vực khoa học công nghệ liên quan đến GIS
GIS được xây dựng trên các tri thức của nhiều ngành khoa học khác
nhau để tạo ra ngành khoa học mới. Trong đó:
• Ngành địa lý: là ngành liên quan mật thiết đến việc hiểu thế giới và vị trí
của con người trong thế giới. Nó có truyền thống lâu đời về phân tích không
gian và nó cung cấp các kỹ thuật phân tích không gian khi nghiên cứu. [8]
• Ngành bản đồ (cartography): Thông tin địa lý là thông tin tham chiếu
không gian, có nghĩa rằng chúng liên quan đến ngành bản đồ. Ngày nay
nguồn dữ liệu đầu vào chính cho GIS là các bản đồ. Ngành bản đồ có truyền
thống lâu đời trong việc thiết kế bản đồ, do vậy nó là khuôn mẫu quan trọng
nhất của đầu ra GIS. [8]
• Công nghệ viễn thám (remote sensing): Các ảnh vệ tinh và ảnh máy
bay là nguồn dữ liệu địa lý quan trọng cho hệ GIS. Viễn thám bao gồm cả kỷ
thuật thu thập và xử lý dữ liệu mọi vị trí trên quả địa cầu với giá rẻ. Các dữ
liệu đầu ra của hệ thống ảnh vệ tinh có thể được trộn với các lớp dữ liệu của
GIS. [8]
• Ảnh máy bay: Ảnh máy bay và kỷ thuật đo chính xác của chúng là
nguồn dữ liệu chính về độ cao bề mặt Trái đất được sử dụng làm đầu vào của
GIS. [8]
• Bản đồ địa hình: Cung cấp dữ liệu có chất lượng cao về vị trí của ranh
giới đất đai, nhà cửa…[8]

a. Các lĩnh vực ứng dụng của GIS
6
Bảng 2.1. Các lĩnh vực ứng dụng của GIS
Lĩnh vực Ứng dụng GIS
1. Quản lý và lập
kế hoạch giao
thông đường phố
- Tìm kiếm địa chỉ
- Tìm vị trí khi biết trước địa chỉ đường phố
- Điều khiển đường đi
- Lập kế hoạch lưu thông xe cộ
- Phân tích vị trí, chọn địa điểm xây dựng các công
trình công cộng
- Lập kế hoạch phát triển đường giao thông
- Dịch vụ y tế
2. Giám sát
tài nguyên, thiên
nhiên, môi trường
- Trong quản lý đất nông nghiệp, quản lý rừng, nguồn
nước và đất ẩm ướt
- Phân tích tác động môi trường
- Vị trí các công trình công cộng
- Nghiên cứu thích hợp mùa vụ
- Giám sát các thảm họa thiên nhiên và giảm nhẹ các
ảnh hưởng
- Giám sát chất thải trong môi trường
3. Hổ trợ trong
quản lý
- Hổ trợ trong định vị ống ngầm, cáp ngầm
- Hổ trợ trong quy hoạch

- Ngoài ra, có một số công trình khoa học ứng dụng công nghệ GIS như
Bước đầu ứng dụng hệ thống thông tin địa lý để xây dựng bản đồ ô nhiễm
Cadimi và chì trong đất nông nghiệp (Hồ Thị Lam Trà, Phạm Văn Vân – 2003).
- Xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ công tác quản lý chất lượng đất xã
Đại Đồng huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên (Hồ Thị Lam Trà, Phạm Văn Vân -
Đề tài khoa học cấp trường – 2004).
- Ứng dụng GIS xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ công tác quản lý đất
đai tại xã Đại Đồng huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên (Hồ Thị Lam Trà, Phạm
Văn Vân – 2005).
- Hệ thống thông tin địa lý (GIS) liên kết với hệ thống hỗ trợ quyết định
DSSAT hỗ trợ đánh giá quy hoạch sử dụng đất (Võ Quang Minh, Ngô Ngọc
Hưng – 2004).
-Hệ thống thông tin quản lý tài nguyên môi trường tỉnh Quảng Trị
(Trần Văn ý, Ngô Đăng Trí, Mạc Văn Chiến, Lê Chí Thịnh, Nguyễn Thanh
Tuấn, Nguyễn Hạnh Quyên – 2005).
- Một số vấn đề về hệ thống quản lý đất đai (Nguyễn Đình Bồng – 2005).
8
- Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) và viễn thám (RS) trong
việc đánh giá xói mòn đất trên lưu vực sông Đồng Nai.(Lê Huy Bá, Huỳnh
Tiến Đạt, Thái Lê Nguyên, Võ Đình Long, Thái Văn Nam).
- Ứng dụng GIS đánh giá môi trường tự nhiên, phân vùng sinh thái nuôi
trồng thủy sản các tỉnh ven biển Nam Bộ.(Lê Huy Bá, Lê Văn Hòa, Nguyễn
Thị Trốn, Trương Công Bảo).
- Xây dựng hệ thống thông tin địa lý (GIS) phục vụ cho công tác quản
lý và quy hoạch đô thị thành phố Cần Thơ (CTGIS). (Nguyễn Tấn Dược, Lê
Đức Toàn, Nguyễn Hiếu Trung).
- Xây dựng hệ thống thông tin địa lý (GIS) để hỗ trợ công tác tôn giáo
tỉnh Cần Thơ (TGCTGIS). (Trần Hữu Hợp, Nguyễn Minh Thương, Nguyễn
Hiếu Trung, Lê Đức Toàn).
- Xây dựng hệ thống thông tin địa lý (GIS) quản lý tổng hợp tài nguyên

là khía cạnh quan trọng nhất của GIS. Các môdun khác là công cụ phân tích
dữ liệu, làm báo cáo và truyền tin.
Hình 2.2. Phần mềm của GIS
10
Giao
diện
người
dùng
Phân
tích
không
gian
Thu thập
CSDL
Chuyển
đổi dữ
liệu
Hiển
thị, làm
báo cáo
Quản trị
CSDL địa

• Dữ liệu (data): Dữ liệu có thể được nhập từ nhiều nguồn khác
nhau: số liệu tính toán thống kê, báo cáo, các quan trắc thực địa, ảnh vệ tinh,
ảnh máy bay và bản đồ giấy. Kỷ thuật hiện đại về viễn thám và hệ thống
thông tin địa lý có khả năng cung cấp thông tin không gian bao gồm: thuộc
tính địa lý, khuôn dạng dữ liệu, tỷ lệ bản đồ và các số liệu đo đạc. Việc tích
hợp các tư liệu địa lý từ nhiều nguồn khác nhau là đặc điểm cơ bản của một
phần mềm GIS.

• Lưu trữ và truy nhập dữ liệu.
• Tìm kiếm và phân tích không gian.
• Hiển thị đồ họa và tương tác.
Sức mạnh của các chức năng của hệ thống GIS khác nhau là khác nhau.
Kỷ thuật xây dựng các chức năng trên cũng rất khác nhau.
Mối quan hệ giữa các nhóm chức năng và cách biểu diễn thông tin khác
nhau của GIS được thể hiện qua sơ đồ sau:
Hình2.3. Các nhóm chức năng trong GIS [8]
12
Hiện tượng Tài liệu và bản
Quan sát Đồ giấy
Thu thập
dữ liệu
Dữ liệu thô
CSDL
Lưu trử
và khai
thác
Xử lý sơ
bộ dữ
liệu
Thiết bị
đồ họa
Hiển
thị&
tương tác
Dữ liệu có
cấu trúc
Tìm
kiến&

chúng. Về mặt hình học, các đối tượng được phân biệt thành 3 dạng: đối
tượng dạng điểm (point), đối tượng dạng đường (line) và đối tượng dạng vùng
(region hay polygon). Điểm được xác định bằng một cặp tọa độ X, Y. Đường
là một chuỗi các cặp tọa độ X, Y liên tục. Vùng là khoảng không gian được
13
giới hạn bởi một tập hợp các cặp tọa độ X, Y trong đó điểm đầu và điểm cuối
trùng nhau. Với đối tượng vùng, cấu trúc vector phản ảnh đường bao.
Cấu trúc vector có ưu điểm là vị trí của các đối tượng được định vị chính
xác (nhất là các đối tượng điểm, đường và đường bao). Cấu trúc này giúp cho
người sử dụng dễ dàng biên tập bản đồ, chỉnh sửa, in ấn. Tuy nhiên cấu trúc
này có nhược điểm là phức tạp khi thực hiện các phép chồng xếp bản đồ.
2.1.5.2. Dữ liệu thuộc tính
Dữ liệu thuộc tính dùng để mô tả đặc điểm của đối tượng. Dữ liệu
thuộc tính có thể là định tính - mô tả chất lượng (Qualitative) hay là định
lượng (Quantative). Về nguyên tắc, số lượng các thuộc tính của một đối
tượng là không có giới hạn. Để quản lý dữ liệu thuộc tính của các đối tượng
địa lý trong CSDL, GIS đã sử dụng phương pháp gán các giá trị thuộc tính
cho các đối tượng thông qua các bảng số liệu. Mỗi bản ghi (Record) đặc trưng
cho một đối tượng địa lý, mỗi cột của bảng tương ứng với một kiểu thuộc tính
của đối tượng đó.
Các dữ liệu trong GIS thường rất lớn và lưu trữ ở các dạng file khác
nhau nên tương đối phức tạp. Do vậy để quản lý, người ta phải xây dựng các
cấu trúc chặt chẽ cho các CSDL. Có các cấu trúc cơ bản sau:
a. Cấu trúc phân nhánh (Hierarchical Data Structure):
Cấu trúc này thường sử dụng cho các dữ liệu được phân cấp theo quan
hệ mẹ-con hoặc 1->nhiều. Cấu trúc này rất thuận lợi cho việc truy cập theo
khóa nhưng nếu muốn tìm kiếm theo hệ thống thì tương đối khó khăn. Hệ rất
dễ dàng được mở rộng bằng cách thêm nhánh nhưng rất khó sửa đổi toàn bộ
cấu trúc hệ. Một bất cập khác của cấu trúc dữ liệu kiểu này là phải duy trì các
file chỉ số lớn (Index) và những giá trị thuộc tính phải lặp đi lặp lại ở các cấp.

tiêu nghiên cứu so với các phương tiện cổ điển có thể mang lại những hiệu
quả cao do:
- Là cách tiết kiệm chi phí và thời gian nhất trong việc lưu trữ số liệu.
- Có thể thu thập số liệu với số lượng lớn.
- Số liệu lưu trữ có thể được cập nhật hoá một cách dể dàng.
- Chất lượng số liệu được quản lý, xử lý và hiệu chỉnh tốt.
- Dể dàng truy cập, phân tích số liệu từ nhiều nguồn và nhiều loại khác nhau.
- Tổng hợp một lần được nhiều loại số liệu khác nhau để phân tích và tạo
ra nhanh chóng một lớp số liệu tổng hợp mới. [16]
15
2.1.6.2. Hạn chế
Tuy nhiên, có những trở ngại xuất hiện trong quá trình sử dụng kỷ thuật
GIS, những trở ngại này đặc biệt quan trọng là cần được cân nhắc thận trọng trong
quá trình phát triển GIS tại các nước kém và đang phát triển như VN, đó là:
- Chi phí và những vấn đề kỹ thuật đòi hỏi trong việc chuẩn bị lại các số
liệu thô hiện có, nhằm có thể chuyển từ bản đồ dạng giấy truyền thống sang
dạng kỷ thuật số trên máy tính (thông qua việc số hoá, quét ảnh )
- Đòi hỏi nhiều kiến thức của các kỷ thuật cơ bản về máy tính, và yêu
cầu lớn về nguồn tài chính ban đầu.
- Chi phí của việc mua sắm và lắp đặt thiết bị và phần mềm GIS khá cao.
- Trong một số lĩnh vực ứng dụng, hiệu quả tài chính thu lại thấp.
Đặc biệt trong nông nghiệp, GIS có 3 điểm thuận lợi chính khi được so
sánh với cách quản lý bản đồ bằng tay trước đây:
- Chúng là một công cụ khá mạnh trong việc lưu trữ và diễn đạt các số
liệu đặc biệt là các bản đồ.
- Chúng có thể cho ra những kết quả dưới những dạng khác nhau như các
bản đồ, biểu bản, và các biểu đồ thống kê
- Chúng là một công cụ đắc lực cho các nhà khoa học đặc biệt về lĩnh
vực nghiên cứu hệ thống canh tác, đánh giá đất đai, khả năng thích nghi của
các kiểu sử dụng đất, quản lý và xử lý các bản đồ giải thửa trong quản lý đất

- Open a table (mở một bảng thông tin đã có). Nếu chọn chức năng
này và ấn OK thì màn hình sẽ hiện ra hộp thoại mở file của môi trường
windows, khi đó thực hiện chọn tên của table và ấn nút open để mở.
Nếu chọn chức năng thứ 4 và mở table thua_đat 40 màn hình chính của
chương trình Mapinfo có chứa table thua_đat 40.
17
Hình 2.5.Cửa sổ làm việc của Mapinfo
2.1.7.2. Tổ chức thông tin trong bản đồ Mapinfo
a. Tổ chức thông tin theo các tập tin
Các lớp dữ liệu trong Mapinfo được tổ chức theo từng bảng (table),
mổi một table là một tập hợp các file về dữ liệu không gian hoặc dữ liệu phi
không gian chứa các bảng ghi mã hệ thống tạo ra. Chỉ có thể truy cập vào
chức năng của phần mềm Mapinfo khi đã mở ít nhất một table. Cơ cấu các tổ
chức thông tin của các table được tổ chức theo các file có phần mở rộng sau:
• TAB: Chứa các thông tin mô tả cấu trúc dữ liệu, file này ở dạng văn
bản và nó mô tả khuôn dạng table.
• DAT: Chứa các thông tin nguyên thủy, phần mở rộng của các file này
có thể là wks,dbf, xls nếu làm việc với các thông tin nguyên thủy là những số
liệu từ lotus 1-2-3, dBase/foxBase và Excel.
• Map: Chứa các thông tin mô tả bản đồ.
• ID: Chứa các thông tin về sự liên kết giữa các đối tượng với nhau.
• IND: Chứa các thông tin về chỉ số đối tượng. Tập tin này chỉ có khi
trong cấu trúc của table đã có ít nhất một trường (Field) dữ liệu được chọn
làm chỉ số hóa (index). Thông qua file này, ta có thể thực hiện tìm kiếm thông
tin qua một chỉ tiêu cho trước bằng chức năng file trên thanh Menu map.
• WOR: File quản lý chung (lưu trữ tổng hợp các table hoặc các cửa sổ
thông tin khác nhau của Map). Đây là phần mở rộng ngầm định khi muốn tổ
chức quản lý và lưu trữ tổng hợp các table hoặc các cửa sổ thông tin khác
18
nhau vào chung một tập tin và các mối tương quan giữa các đối tượng đó phải

19
- DXF: Dạng dữ liệu trao đổi với AutoCAD. File dữ liệu dạng này có
thể sử dụng AutoCAD để xử lý.
- ASCII: Dạng dữ liệu thuần văn bản, có thể xử lý bằng các chương
trình ứng dụng hoặc trực tiếp.
- DBF: Dạng dữ liệu dùng cho các hệ quản trị cơ sở dữ liệu như Foxpro
(có thể dùng Excel để xử lý).
- SHP: Đây là dạng dữ liệu trao đổi với phần mềm Arcview. [ 7 ]
2.1.7.4. Các chức năng của phần mềm Mapinfo
- Xây dựng các loại bản đồ và khởi tạo các thông tin thuộc tính liên
quan đến các đối tượng trên bản đồ.
- Cho phép người sử dụng quản lý đồng thời cả dữ liệu không gian và
dữ liệu phi không gian.
- Cung cấp các công cụ tìm kiếm đối tượng theo yêu cầu của người sử dụng
thông qua SQL (Structure Query language – ngôn ngữ truy vấn có cấu trúc)
- Biên tập bản đồ đẹp, theo đúng ký hiệu màu của quy phạm thành lập
bản đồ. [ 7 ]
2.2. CÔNG TÁC THU TIỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TẦM QUAN TRỌNG
CỦA NÓ.
2.2.1. Thu tiền sử dụng đất ở Việt Nam
Vốn đất đai của Nhà nước ta là hơn 33 triệu ha, các nhu cầu về đất đai
ngày càng nhiều nhưng khả năng của đất đai là hữu hạn. Để đáp ứng những
nhu cầu đó, Nhà nước phải thực hiện việc phân chia lại đất đai hợp lý và công
bằng. Vì vậy, các quyết định về giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục
đích sử dụng đất là tổng hợp các hành vi pháp lý có liên quan chặt chẽ với
nhau của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc phân chia, phân
chia lại một cách hợp lý quỹ đất vì lợi ích của Nhà nước và mọi tổ chức, cá
nhân sử dụng đất. [11]
Từ khi có Luật Đất đai năm 1993, Nhà nước chính thức bỏ bao cấp về
đất khi giao đất để đáp ứng nhu cầu để ở, xây dựng công trình hoặc kinh

sở hữu toàn dân về đất đai. Trong Điều 5 này, Luật cũng quy định rõ quyền định
đoạt đối với đất đai; quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai thông qua các chính
sách tài chính về đất đai và quyền trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất
đai. Trong đó cũng thấy tiền sử dụng đất là một trong các nguồn lợi từ đất mà
Nhà nước phải điều tiết. Luật 2003 cũng quy định rõ ràng 13 nội dung quản lý
nhà nước về đất đai tại điều 6 và cụ thể hoá tại chương II và chương VI. [11]
21
2.2.2.2. Thị trường đất đai sơ cấp giữa Nhà nước và người dân
Như chúng ta đã biết, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại
diện chủ sở hữu. Tuy nhiên, chúng ta không thể tồn tại mãi một hình thức Nhà
nước giao đất không thu tiền, tạo nên sự bất bình đẳng giữa những người được
Nhà nước giao đất và tất yếu sẽ dẫn đến sử dụng đất lãng phí và kém hiệu quả.
Từ sau khi Nhà nước có chủ trương xóa bỏ cơ chế quan liêu, bao cấp, chuyển
sang cơ chế thị trường, cơ chế hàng hóa thì quyền sử dụng đất được xem như
có giá. Mặt khác, Nhà nước chỉ trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất
thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối
với người đang sử dụng ổn định, quy định quyền và nghĩa vụ của người sử
dụng đất. Vì vậy, thị trường đất đai sơ cấp chính là thị trường giữa một bên
giao dịch là Nhà nước và một bên là người sử dụng đất. [15]
Hình 2.6. Thị trường sơ cấp về đất đai [15]
Nhà nước khi thực hiện các quyền giao đất, cho thuê đất, công nhận
quyền sử dụng đất đều được thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, lệ phí trước
bạ Trong đó thu tiền sử dụng đất trong các trường hợp giao đất có thu tiền
sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất từ đất được Nhà nước giao không
thu tiền sang đất được giao có thu tiền sử dụng đất, chuyển từ hình thức thuê
đất sang hình thức được Nhà nước giao đất có thu tiền, khi cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho các đối tượng phải nộp tiền sử dụng đất và khi
xây dựng khu kinh tế và khu công nghệ cao. [15]
Người sử dụng đất là cá nhân, hộ gia đình, tổ chức… khi tham gia thị
22

đối và địa tô độc quyền. Trong chủ nghĩa xã hội, khi ruộng đất thuộc sở hữu
toàn dân, không còn là tư hữu của địa chủ hay nhà tư bản thì những cơ sở
kinh tế để hình thành địa tô tuyệt đối và địa tô độc quyền cũng bị xoá bỏ,
nhưng vẫn tồn tại địa tô chênh lệch, song nó thuộc sở hữu của Nhà nước và
khác về bản chất với địa tô chênh lệch dưới chủ nghĩa tư bản. [9]
ở Việt Nam, ruộng đất thuộc sở hữu toàn dân, là tư liệu sản xuất đặc biệt
của nông nghiệp, lâm nghiệp và là tài nguyên quý giá của quốc gia. Nhà nước
chuyển quyền sử dụng ruộng đất lâu dài hay có thời hạn cho người sử dụng đất
dưới các hình thức giao đất, cho thuê đất. Tuy hình thức địa tô tuyệt đối không
còn nhưng ruộng đất vẫn là một tư liệu sản xuất có giá trị và người sử dụng vẫn
phải trả tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và thuế đất như là một loại địa tô. [15]
2.2.3. Quy định về thu tiền sử dụng đất của Việt Nam trong những năm qua
2.2.3.1. Luật Đất đai năm 1993, Luật sửa đổi bổ sung Luật Đất đai 1998, 2001
Ngay sau khi xóa bỏ bao cấp về đất đai, Luật Đất đai năm 1993 đã có
những quy định về thu tiền sử dụng đất.
23
Tại Điều 22 Luật Đất đai năm 1993 có quy định: “Tổ chức, hộ gia đình,
cá nhân được Nhà nước giao đất để sử dụng vào mục đích sản xuất nông
nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và làm muối không phải trả tiền sử
dụng đất; nếu được Nhà nước giao đất để sử dụng vào mục đích khác thì phải
trả tiền sử dụng đất, trừ các trường hợp được miễn, giảm theo quy định của
Chính phủ.” Nhưng ở đây nêu khá chung chung rằng sử dụng vào mục đích
khác thì phải trả tiền. Như vậy, trong các trường hợp sử dụng đất vào mục
đích an ninh, quốc phòng thì sao? [11]
Trong Luật sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 1998, Điều 22 Luật Đất
đai 1993 được sửa đổi, bổ sung các trường hợp cụ thể không thu tiền sử dụng
đất khi Nhà nước giao đất.
Luật cũng bổ sung thêm Điều 22a với các trường hợp cụ thể có thu tiền
sử dụng đất khi Nhà nước giao đất.
Còn Điều 22c bổ sung các trường hợp cụ thể được Nhà nước giao đất

Điều 60 Luật Đất đai 2003 cũng quy định cụ thể các trường hợp người
sử dụng đất mà Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất được miễn, giảm
tiền sử dụng đất.
Luật cũng quy định nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất đối với các đối tượng sử
dụng đất: tổ chức sử dụng đất trong nước, hộ gia đình, cá nhân trong nước, cộng
đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, người
Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài. Bên cạnh đó là
quyền lựa chọn hình thức sử dụng đất của các đối tượng sử dụng đất, như là hình
thức giao đất có thu tiền sử dụng đất, thuê đất trả tiền một lần hay trả tiền hàng
năm. Trong Luật Đất đai 2003 cũng có điểm mới là những người Việt Nam ở
nước ngoài có thể được giao đất có thu tiền sử dụng đất khi họ đầu tư vào Việt
Nam. Việc cho phép người sử dụng đất có nhiều quyền lựa chọn hình thức sử
dụng đất chính là một điểm mới quan trọng của Luật Đất đai 2003. Qua đó, người
sử dụng đất tìm hiểu, lựa chọn cách thức thích hợp nhất với khả năng đầu tư sản
xuất kinh doanh trong sự cân nhắc về khả năng tài chính và tiếp cận quyền của
25

Trích đoạn Hướng dẫn khai thác CSDL phục vụ công tác thu tiền sử dụng đất: Ưu điểm và nhược điểm của quản lý thủ công
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status