thị trường trái phiếu thực trạng thị trường trái phiếu tại việt nam - Pdf 22

1 Tiểu luận THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU
THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TRÁI
PHIẾU TẠI VIỆT NAM
2

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TRÁI PHIẾU VÀ THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU
1.1. TRÁI PHIẾU
1.1.1. Khái niệm
Trái phiếu là một loại giấy nợ do Chính phủ hay doanh nghiệp phát hành để huy
động vốn dài hạn còn gọi là chứng khoán nợ, có kỳ hạn nhất định, cuối kỳ phải trả lại
vốn gốc cho trái chủ.
Những thuật ngữ liên quan đến trái phiếu:
T


ch


trái phi
ế
u

M

nh giá, n


g

c

Face value, par
value, principal
Giá tr


mà bên phát hành cam k
ế
t hoàn tr


khi
đáo hạn; Giá trị làm cơ sở đế tính lãi coupon
Lãi su

t coupon




tính b

ng lãi su

t coupon nhân
với mệnh giá
Ngày đáo h

n

Maturity date

Ngày hoàn
tr


v

n g

c sau cùng

K


h

n

ế
u

L

i su

t đ
ế
n khi
đáo hạn
Yield to M aturity
(YTM )
Su

t sinh l

i n

i t

i (IRR) n
ế
u mua trái phi
ế
u
bây giờ và giữ cho tới khi đáo hạn

1.1.2. Những đặc điểm của trái phiếu
1.1.2.1. Mệnh giá (Par value): là giá trị danh nghĩa của trái phiếu được in

(Callable Bonds) cho phép tổ chức phát hành trái phiếu thu hồi trái phiếu và hoàn lại vốn
gốc với mức giá dự kiến trước thời hạn thanh toán. Tổ chức phát hành sử dụng quyền
này để bảo vệ họ không phải trả lãi suất cao hơn đối với số tiền mà họ vay. Tổ chức phát
hành thu hồi trái phiếu khi tỷ lệ lãi suất trên thị trường thấp hơn lãi suất của trái phiếu
của tổ chức phát hành đã phát hành trước đó và có thể phát hành trái phiếu mới với tỷ lệ
lãi suất thấp hơn.
1.1.3. Phân loại trái phiếu
1.1.4.1. Căn cứ vào chủ thể phát hành
- Trái phiếu Chính phủ (Government Bonds): do ngân sách chính quyền trung ương
hay địa phương phát hành nhằm mục đích bù đắp các khoản chi đầu tư của ngân sách nhà
nước, quản lý lạm phát, hoặc tài trợ cho các công trình, các dự án của nhà nước.
+ Trái phiếu chính quyền địa phương:
- Trái phiếu doanh nghiệp:
+ Trái phiếu thu nhập (Income Bonds):
+ Trái phiếu có thế chấp (Mortgage Bonds):
+ Trái phiếu không có thế chấp (Debent ure):
+ Trái phiếu có thể chuyển đổi (Convertible Bonds):
+ Trái phiếu có thể chuộc lại (Callable Bonds):
+ Trái phiếu có lãi suất ổn định (Straight Bonds):
+ Trái phiếu có lãi suất thả nổi (Floating Rate Bonds):
+ Trái phiếu chiết khấu (Zero Coupon Bonds):
1.1.4.2. Căn cứ vào định mức tín nhiệm/mức đảm bảo
- Trái phiếu hạng đầu tư/TP hạng đầu cơ
- Trái phiếu có đảm bảo bằng tài sản
- Trái phiếu không có đảm bảo tài sản…
1.1.4.3. Căn cứ vào hình thức thanh toán
- Trái phiếu không trả lãi định kỳ (trái phiếu Zero-coupon)
- Trái phiếu trả lãi coupon định kỳ…

4

+ Những người bán trái phiếu trên thị trường sơ cấp được xác định thường là
Kho bạc, N gân hàng Nhà nước, công ty phát hành, tập đoàn bảo lãnh phát hành
+ Thị trường sơ cấp chỉ được tổ chức một lần cho một loại chứng khoán nhất
định, trong thời gian hạn định.
- Vai trò:
+ Trái phiếu hóa các nguồn vốn cần huy động, vốn của công ty được huy động
qua việc phát hành chứng khoán
+ Thực hiện quá trình chu chuyển tài chính trực tiếp đưa các khoản tiền nhàn rỗi
tạm thời trong dân chúng vào đầu tư, chuy ển tiền sang dạng vốn dài hạn.
1.2.2.2. Thị trường thứ cấp
- Khái niệm: Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các trái phiếu đã được phát hành
trên thị trường sơ cấp. Là thị trường chuyển nhượng quyền sở hữu trái phiếu. Thị trường
thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho các trái phiếu đã phát hành.
5

- Mục đích của thị trường thứ cấp là cung cấp khả năng thanh khoản cho trái phiếu
đã được phát hành trên thị trường sơ cấp.
- Đặc điểm:
+ Trên thị trường thứ cấp, các khoản tiền thu được từ việc bán trái phiếu thuộc
về các nhà đầu tư và các nhà kinh doanh trái phiếu chứ không thuộc về nhà phát hành.
Nói cách khác, các luồng vốn không chảy vào những người phát hành trái phiếu mà vận
chuyển giữa những người đầu tư trái phiếu trên thị trường. Thị trường thứ cấp là một bộ
phận quan trọng của thị trường trái phiếu, gắn bó chặt chẽ với thị trường sơ cấp.
+ Giao dịch trên thị trường thứ cấp phản ảnh nguyên tắc cạnh tranh tự do, giá
trái phiếu trên thị trường thứ cấp do cung và cầu Quyết định.
+ Thị trường thứ cấp là một thị trường hoạt động liên tục, các nhà đầu tư có thể
mua và bán các chứng khoán nhiều lần trên thị trường thứ cấp.
1.2.3. Mối liên hệ giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
- Thị trường sơ cấp là cơ sở, là tiền đề cho sự hình thành và phát triển của thị
trường thứ cấp vì đó là nơi cung cấp hàng hóa trái phiếu trên thị trường thứ cấp. Không

chính trị, kinh tế và xã hội.
+ Trên trị trường chứng khoán, trái phiếu là một hàng hóa quan trọng, đặc biệt là
trái phiếu Chính phủ với đặc tính ít rủi ro nhất đã trở thành hàng hóa chủ đạo trên thị
trường, lãi suất giao dịch hàng ngày của trái phiếu Chính phủ góp phần hình thành lãi
suất chuẩn trên thị trường. Trái phiếu do Chính phủ phát hành thu hút một khối lượng
vốn tiền mặt trong lưu thông từ các tầng lớp dân cư, tổ chức kinh tế và định chế tài chính
trung gian. Vốn này được đưa vào sử dụng cho đầu tư phát triển, tạo ra của cải hàng hóa
cho xã hội. N hờ vậy mà cân đối tiền hàng được điều chỉnh tích cực, tăng tốc độ vòng
quay vốn, giảm áp lực cầu tiền mặt của nền kinh tế, ổn định môi trường tiền tệ, góp phần
nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính trong nước. Thêm vào đó, NHTW
phát hành các loại trái phiếu ngắn hạn để thực hiện nghiệp vụ thị trường mở. Mục đích là
góp phần thực hiện chính sách tài chính quốc gia, khắc phục tình hình lạm phát, đảm bảo
được khối lượng tiền tệ trong lưu thông một cách hợp lý.
+ Thị trường trái phiếu thường có quy mô lớn và độ sâu nên thường hỗ trợ tốt
hơn nhu cầu vốn đầu tư dài hạn trong nền kinh tế, góp phần tạo ra một cấu trúc thị trường
vốn vững chắc mà nó dựa trên cơ sở cân đối giữa thị trường vay nợ ngân hàng, thị trường
trái phiếu và thị trường cổ phiếu trong tương lai. Thị trường trái phiếu góp phần thúc đẩy
sự phát triển bền vững, ổn định của thị trường vốn.
+ Huy động vốn qua việc phát hành trái phiếu sẽ làm giảm sự tập trung vào hệ
thống ngân hàng. Đặc biệt là thị trường trái phiếu công ty vừa có thể huy động được
nguồn vốn dồi dào từ xã hội vừa góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế xã hội. Gánh
nặng và rủi ro cho vay của các ngân hàng đước san sẻ cho các nhà đầu tư trái phiếu trên
thị trường, nhờ đó việc tài trợ dài hạn cho các dự án có rủi ro cao có thể thực hiện được
và giúp giảm chi phí vốn cho nền kinh tế.
+ Ngoài ra, đối với Chính phủ, một trong những chức năng nhiệm vụ quan trọng
là vừa quản lý vĩ mô nền kinh tế vừa đảm bảo vai trò của người trọng tài tạo môi trường
bình đẳng, thuận lợi cho toàn bộ nền kinh tế phát triển bền vững. Thông qua phát hành
trái phiếu và đầu tư vào trái phiếu Chính phủ sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của việc
phân phối và tái phân phối nguồn lực tài chính, định hướng hoạt động đầu tư trong nền
kinh tế.

nghiệp không bị thao túng mà lợi tức chia sẻ cũng chỉ hạn chế trong phạm vi lãi suất trái
phiếu khi phát hành. Ngoài ra, trái phiếu là công cụ huy động vốn có thời hạn nên trách
nhiệm của doanh nghiệp đối với trái chủ sẽ kết thúc khi trái phiếu đáo hạn, trong khi
doanh nghiệp phải có trách nhiệm đối với cổ đông nắm giữ cổ phiếu trong suốt thời gian
nó tồn tại.
+ Thứ ba, chi phí sử dụng vốn khi phát hành trái phiếu thấp hơn phát hành cổ
phiếu, do đặc điểm của trái phiếu có tính ổn định và chứa đựng ít rủi ro hơn cổ phiếu.
Việc đầu tư vào cổ phiếu có mức độ rủi ro cao hơn so với đầu tư vào trái phiếu, do đó
mức bù rủi ro mà nhà đầu tư đòi hỏi đối với trái phiếu thấp hơn cổ phiếu. Công ty phát
hành trái phiếu trả lãi cho trái chủ không phụ thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh
của công ty, trong khi đó công ty chỉ trả cổ tức cho cổ đông khi kinh doanh có lãi. Hơn
nữa, trong trường hợp công ty giải thể hoặc bị phá sản thì trái chủ được ưu tiên trả nợ
trước rồi mới đến các cổ đông. Chính vì thế, nhà đầu tư luôn đánh giá mức độ rủi ro của
trái phiếu thấp hơn cổ phiếu và tương ứng họ đưa ra mức bù rủi ro đối với trái phiếu thấp
hơn đối với cổ phiếu. Để tham gia thị trường trái phiếu với tư cách là nhà phát hành,các
doanh nghiệp phải đáp ứng các yêu cầu về độ tin cậy đối với nhà đầu tư như quy mô hoạt
động, hệ thống kế toán, kiểm toán, định mức tín nhiệm Điều này đặc biệt quan trong và
không thể thiếu khi doanh nghiệp muốn phát hành trái phiếu ra công chúng một cách
rộng rái và niêm yết trái phiếu của mình trên SGD chứng khoán. Trái phiếu của doanh
nghiệp phát hành càng chất lượng thì càng thu hút được nhiều nhà đầu tư và ngược lại.
Chính những yêu cầu đặt ra đối với các doanh nghiệp đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn
củng cố bộ mày tổ chức và quản lý, nâng cao tính cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh,
nâng cao mức độ tín nhiệm đối với những người đầu tư. Đây cũng có thể coi là một tác
động mang tính gián tiếp của thị trường trái phiếu đối với sự phát triển của các doanh
nghiệp nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung.
- Đối với nhà đầu tư:
+ Thị trường trái phiếu góp phần làm đa dạng hóa các sản phẩm tài chính, cung
cấp cho các nhà đầu tư ngày càng nhiều lựa chọn để đa dạng hóa danh mục đầu tư phù
hơp với những khẩu vị rủi ro khác nhau. Trái phiếu Chính phủ với độ an toàn cao nhưng
lãi suất không hấp dẫn bằng trái phiếu công ty. Bên cạnh đó, đầu tư vào cổ phiếu sẽ đem

Hiện giá trái phiếu là tổng hiện giá của các khoản phải thu nhập từ trái phiếu trong
tương lai, bao gồm số tiền lãi (C) được trả hàng năm, và vốn gốc (F) được trả một lần khi
đáo hạn.
(SGK)
1.4.1.1. Đối với loại trái phiếu trả lãi định kỳ 01 năm/lần:
Trái phiếu có kỳ hạn được hưởng lãi là loại trái phiếu có xác định thời hạn đáo
hạn và lãi suất được hưởng qua từng thời hạn nhất định. Khi mua loại trái phiếu này nhà
đầu tư được hưởng lãi định kỳ, thường là hàng năm, theo lãi suất công bố (coupon rate)
trên mệnh giá trái phiếu và được thu hồi lại vốn gốc bằng mệnh giá khi trái phiếu đáo
hạn.
(SGK)
1.4.1.2. Đối với loại trái phiếu trả lãi định kỳ 06 tháng/lần:
Thông thường trái phiếu được trả lãi hàng năm một lần nhưng đôi khi cũng có loại
trái phiếu trả lãi theo định kỳ 06 tháng/lần, tức là trả lãi mỗi năm 02 lần.

9

d
1.4.1.3. Đối với loại trái phiếu không trả lãi định kỳ (Zero Coupon
Bonds):
Trái phiếu kỳ hạn không hưởng lãi định kỳ là loại trái phiếu không có trả lãi định
kỳ mà được bán với giá thấp hơn nhiều so với mệnh giá. Tại sao nhà đầu tư lại mua trái
phiếu không được hưởng lãi? Lý do là khi mua loại trái phiếu này họ vẫn nhận được lợi
tức, chính là phần chênh lệch giữa giá mua gốc của trái phiếu với mệnh giá của nó.
Phương pháp định giá loại trái phiếu này cũng tương tự như cách định giá loại trái
phiếu kỳ hạn được hưởng lãi, chỉ khác ở chỗ lãi suất ở đây bằng không nên toàn bộ hiện
giá của phần lãi định kỳ bằng không. Do vậy, giá cả của trái phiếu không hưởng lãi được
định giá như là hiện giá của mệnh giá khi trái phiếu đáo hạn.
(SGK)
1.4.2. Lợi suất:

10

Đối với trái phiếu chuộc lại, dùng thước đo YTC để đo lường mức lợi tức nhà đầu
tư nhận được nếu công ty chuộc lại trước hạn với giá chuộc lại F’ ≥ F.
Tương tự như YTM, chỉ khác, YTC được tính vào thời điểm khi trái phiếu được
gọi mua.
Ví dụ: Một trái phiếu mệnh giá 100.000 đồng, thời gian đáo hạn là 2 năm, lãi
coupon 8%/năm, hiện đang được bán với giá 103.000 đồng. Giả sử sau một năm trái
phiếu được gọi mua với giá 105.000 đồng (không tính lãi). Tính lợi suất mua lại của trái
phiếu? Y' = 9,71% = YTC
1.4.2.5. Lợi suất thực:
Ví dụ: Trái phiếu kỳ hạn 2 năm, mệnh giá 100.000 đồng, lãi coupon 8%/năm. Giả
sử sau một năm từ khi phát hành, trái phiếu được giao dịch với giá 101.000 đồng, tính lợi
suất thực nếu đầu tư trái phiếu đó và nắm giữ đến khi đáo hạn?

1.4.3. Phân biệt lãi suất và lợi nhuận
Lợi tức (lợi nhuận) là điều quan trọng nhất vì đó là điều mà nhà đầu tư vào trái
phiếu mong đợi hơn cả. Qua thời gian dài, lợi nhuận mà một nhà đầu tư trái phiếu nhận
được xấp xỉ khoản lợi nhuận khi đáo hạn của trái phiếu tại thời điểm nó được mua. Với
trái phiếu không trả lãi (trái phiếu không trả lãi định kỳ mà chỉ trả một khoản nhất định
khi đáo hạn), lợi nhuận khi mua chính là lợi nhuận mà nhà đầu tư sẽ nhận, nếu không bị
trì hoãn và được nắm giữ đến khi đáo hạn. Với trái phiếu trả lãi (trái phiếu có trả lãi định
kỳ), có đôi chút khác biệt trong lợi nhuận thu được, phụ thuộc vào việc lãi cuống phiếu
được tái đầu tư ở mức lãi suất nào và liệu lãi suất tăng hay giảm, lãi vốn hay lỗ vốn. Tuy
nhiên, lợi nhuận ban đầu từ trái phiếu mang lại cung cấp một sự ước tính khá chính xác
về lợi nhuận mà các nhà đầu tư nắm giữ trái phiếu đến khi đáo hạn có thể nhận được.
Để tính lợi tức, chúng ta dùng lãi suất. Nhà đầu tư mua trái phiếu được hưởng lợi

+ Khi lãi suất thị trường tăng, nhà đầu tư yêu cầu suất sinh lợi cao hơn  giá trái
phiếu giảm.
+ Khi lãi suất thị trường giảm, nhà đầu tư sẽ yêu cầu suất sinh lợi thấp hơn giá
trái phiếu tăng
- Mối quan hệ giữa giá trái phiếu và thời gian khi lãi suất không thay đổi: Càng
gần thời gian đáo hạn, giá trái phiếu càng tiến về mệnh giá.
Các nhân tố ảnh hưởng đến giá trái phiếu
Nói chung, giá thị trường của bất cứ loại chứng khoán nào cũng phụ thuộc vào
cung và cầu, vì thế khi muốn biết điều gì Quyết định giá trái phiếu, chúng ta chỉ cần tìm
hiểu nhân tố nào đứng sau cung và cầu.
- Khả năng tài chính của người cấp trái phiếu:
+ Cung cấp trái phiếu là một chức năng của người đi vay nhằm giải quyết vấn đề
vốn. Do đó nhà đầu tư rất quan tâm đến khả năng thanh toán lãi và vốn gốc của người
cung cấp trái phiếu.
+ Nếu có những biến động bất lợi về khả năng tài chính của chủ thể phát hành,
thì lập tức giá trái phiếu đó sẽ tụt giảm trên TTCK. Mặc dù lãi suất trái phiếu có vẻ hứa
hẹn nhưng độ rủi ro hàm chứa lại cao hơn.
- Thời gian đáo hạn: Một trái phiếu có thời hạn đáo hạn càng gần thì giá của nó
càng tăng trên thị trường bởi vì độ rủi ro càng thấp. Ví dụ 1 trái phiếu sẽ được thanh toán
theo đúng mệnh giá vào cuối năm thứ 10 kể từ ngày phát hành, nếu không có biến động
xấu về khả năng tài chính của đơn vị phát hành và lãi suất thị trường bình ổn, thì giá trái
phiếu kể từ năm thứ 5 trở đi sẽ có khuynh hướng càng cao so với giá các năm đầu tiên.
Trên thực tế người ta gọi hiện tượng này là “kéo giá tới thời hạn”.
- Dự kiến về lạm phát:
+ Nếu lạm phát có dự kiến tăng thì các chứng khoán có lãi suất cố định trả theo
lãi trái phiếu chỉ được thanh toán theo danh nghĩa, và như vậy sẽ kém hấp dẫn hơn các
tài sản khác có khả năng loại trừ y ếu tố lạm phát. Dẫn đến kết quả là giá thị trường của
các chứng khoán có lãi suất cố định bị giảm và điều này cũng buộc phải tăng lãi cho các
chứng khoán đó, phần lãi tăng này sẽ đền bù cho thiệt hại của những người giữ trái phiếu
trong tương lai bị ảnh hưởng của lạm phat.

Thang điểm để đánh giá mức độ tín nhiệm
của các công ty xác định hệ số tín nhiệm khi vay vốn dài hạn
Moody’s

S&P

N
ội dung

Aaa

AAA

Đi
ểm tối cao: khoản nợ n
ày đư
ợc đánh giá v
ào h
ạng mạnh nhất, có
khả năng hoàn trả cả gốc và lãi cực mạnh.
Aa

AA

Đi
ểm cao: Mức độ n
ày đư
ợc đánh giá l
à cao trong vi
ệc trả nợ cả gốc


BB

Đi
ểm đầu c
ơ: kho
ản nợ n
ày đư
ợc đánh giá l
à ít r
ủi ro vỡ nợ, song lại
phải đối mặt với khả năng thanh toán gốc và lãi thấp do những điều
kiện tài chính kinh tế bấp bênh của nhà phát hành.
B

B

Đi
ểm đầu c
ơ r
õ ràng: kho
ản nợ n
ày d
ễ bị

r
ủi ro phá sản h
ơn, nhưng
hiện tại nó vẫn có khả năng thanh toán cả gốc và lãi.
Caa

C

C

Kho
ản nợ đ
ư
ợc xác định ở mức độ tín nhiệm n
ày có kh
ả năng thanh
toán cả gốc và lãi thấp, khả năng vỡ nợ lớn.

D

Kho
ản nợ n
ày có kh
ả năng vỡ nợ cực lớn, hoặc

s
ẽ bị vỡ nợ khi đến
hạn thanh toán.
Các mức độ tín nhiệm có ký hiệu từ “Ba” đến “C” được coi là có tính đầu cơ xét
trên khía cạnh khả năng hoàn trả cả gốc và lãi, “ Ba” thể hiện điểm đầu cơ thấp nhất và
“C” thể hiện điểm đầu cơ cao nhất.

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM HIỆN
NAY
2.1. NHỮNG MỐC PHÁT TRIỂN CHÍNH
Cho đến năm 2000, Việt Nam hầu như chưa có thị trường trái phiếu thứ cấp mặc

tâm Lưu ký (depository/custodian), cơ quan này kiêm nhiệm luôn cả các hoạt động hoàn
tất giao dịch (clearing/settlement) cho hai sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM và Hà
Nội. Từ nay trở đi đây sẽ là nơi lưu ký duy nhất và bắt buộc cho tất cả các loại chứng
khoán nói chung và trái phiếu nói riêng. Việc tập trung xử lý sau giao dịch và lưu ký về
14

một mối như vậy nhằm giảm chi phí và tạo liên thông giữa các thị trường với nhau, gián
tiếp giúp tăng thanh khoản trên thị trường. Trung tâm này cũng là đầu mối cấp mã ISIN
cho các loại chứng khoán trên thị trường Việt Nam.
Sau giai đoạn 2009, đối mặt với những khó khăn về kinh tế vĩ mô và ảnh hưởng
của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, Việt Nam không còn chính sách nào đáng kể
để tiếp tục thúc đẩy thị trường trái phiếu. Tính đến cuối năm 2011, hệ thống giao dịch
trái phiếu chuyên biệt của sàn giao dịch Hà nội có 44 thành viên giao dịch, trong đó có
17 ngân hàng thương mại và 27 công ty chứng khoán. Trên thị trường sơ cấp Việt Nam
có 87 tổ chức tài chính tham gia đấu thầu, hầu như không bị hạn chế bởi cơ chế PD như
một số nước khác. Từ tháng 11/2006 một số ngân hàng và công ty chứng khoán đã tập
hợp nhau lập ra Diễn đàn Thị trường Trái phiếu (VBMF) và đến đầu năm 2010 Diễn đàn
đã chính thức trở thành Hiệp hội Thị trường Trái phiếu Việt Nam (VBMA) với 58 thành
viên chính thức.
2.2. CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ TRÁI PHIẾU:
Trái phiếu: là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở
hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành.
Trái phiếu Chính phủ: là loại trái phiếu do Bộ Tài chính phát hành nhằm huy
động vốn cho ngân sách nhà nước hoặc huy động vốn cho chương trình, dự án đầu tư cụ
thể thuộc phạm vi đầu tư của nhà nước.
Trái phi ếu được Chính phủ bảo lãnh: là loại trái phiếu do doanh nghiệp, tổ chức
tài chính, tín dụng, ngân hàng chính sách của nhà nước thuộc đối tượng quy định tại Điều
32 Luật Quản lý nợ công phát hành và được Chính phủ bảo lãnh thanh toán.
Trái phiếu chính quyền địa phương: là loại trái phiếu do Ủy ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) phát hành

chuyên nghiệp. Có thể nói năm 2012 là năm đánh dấu bước tiến cơ bản trong việc hoàn
thiện khuôn khổ pháp lý để phát triển thị trường trái phiếu bao gồm: trái phiếu Chính
phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa phương và trái phiếu
doanh nghiệp.
Việc khuôn khổ pháp lý được ban hành đầy đủ, đồng bộ đã tạo điều kiện cho hoạt
động phát hành, giao dịch trái phiếu trong năm 2012 được khởi sắc, tạo tiền đề cho các
bước phát triển trong năm 2013 và các năm tiếp theo.
Các văn bản quy định về trái phiếu:
- Luật Chứng khoán 2006 số 70/2006/QH11 ngày 29/06/2006;
- Luật chứng khoán sửa đổi 2010 số 62/2010/QH12 ngày 24/11/2010;
- Nghị định 01/2011/NĐ-CP về phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được
Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương ngày 05/01/2011;
- Thông tư liên tịch 106/2012/TTLT-BTC-NHNN hướng dẫn việc phát hành tín
phiếu kho bạc qua Ngân hàng Nhà nước Việt Nam do Bộ Tài chính - Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam ban hành ngày 28/06/2012;
- Thông tư 81/2012/TT-BTC hướng dẫn về phát hành trái phiếu chính quy ền địa
phương tại thị trường trong nước do Bộ Tài chính ban hành ngày 22/05/2012;
- Thông tư 34/2012/TT-BTC hướng dẫn về phát hành trái phiếu được Chính phủ
bảo lãnh do Bộ Tài chính ban hành ngày 01/03/2012;
- Thông tư 17/2012/TT-BTC hướng dẫn phát hành trái phiếu Chính phủ tại thị
trường trong nước do Bộ Tài chính ban hành ngày 08/02/2012;
- Thông tư 32/2004/TT-BTC hướng dẫn phát hành trái phiếu Chính phủ qua hệ
thống Kho bạc Nhà nước do Bộ Tài chính ban hành ngày 12/04/2004;
- Thông tư 31/2005/TT-BTC sửa đổi Thông tư 32/2004/TT-BTC hướng dẫn việc
phát hành trái phiếu Chính phủ qua hệ thống Kho bạc Nhà nước do Bộ Tài chính ban
hành ngày 20/04/2005;
- Nghị định 90/2011/NĐ-CP về phát hành trái phiếu doanh nghiệp ngày 14/10/2011
- Thông tư 211/2012/TT-BTC hướng dẫn N ghị định 90/2011/NĐ-CP về phát hành
trái phiếu doanh nghiệp do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành ngày 05/12/2012;
- Và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.

đáo hạn trung bình của phân khúc trái phiếu chính phủ (Đồ thị 2) đã ngắn lại liên tục sau
khi đạt đỉnh năm 2004. Đến cuối năm 2011 chỉ số này tụt xuống 5.22 năm, chỉ cao hơn
không đáng kể so với thời điểm 2002 khi Việt Nam gần như chỉ phát hành trái phiếu 5
năm. Điều đáng nói là trong cùng khoảng thời gian đó hầu hết các nước trong khu vực có
chỉ số này khá ổn định khoảng xấp xỉ 7 năm, thậm chí còn tăng rất nhanh như trường hợp
Philippines. Điều này cho thấy các nhà đầu tư càng ngày càng ít quan tâm đến trái phiếu
dài hạn (hơn 5 năm), rất có thể vì họ lo lắng về sự bất ổn của các chính sách vĩ mô hoặc
kỳ vọng lạm phát dài hạn quá cao trong khi NHNN áp đặt trần lãi suất.
Đồ thị 3: Lợi suất thực và lợi suất danh nghĩa
trái phiếu chính phủ 10 năm của Việt Nam

Nguồn: Asiansbondsonline.adb.org
Quả thực trong năm năm lại đây mặc dù lợi suất trái phiếu chính phủ dài hạn (10
năm) khá cao, trên dưới 10%, lợi suất thực hậu nghiệm (ex-post)10 khá thấp và thậm chí
âm trong năm 2008 và 2011. Hiện tượng này không tương thích với tốc độ tăng trưởng
kinh tế thực của Việt Nam luôn xấp xỉ 7% trong cùng thời gian. Nó phản ánh rất rõ tác
động của trần lãi suất mà NHNN áp đặt đã làm méo mó dòng chảy và phân bổ trên thị
trường vốn. Trong khi các nhà hoạch định chính sách lo ngại về sự mất cân bằng giữa
thời hạn cho vay và thời hạn tiền gửi (maturity mismatch), chính trần lãi suất đã làm
giảm khả năng vay dài hạn của nền kinh tế với bằng chứng thể hiện rõ trong Đồ thị 2.
Điều này cũng được khẳng định trong Đồ thị 4, độ dốc đường cong lợi suất của
Việt Nam. Chỉ số này đo bằng chênh lệch lợi suất trái phiếu chính phủ 2 năm và 10 năm,
thấp nhất và ổn định nhất trong vài năm gần đây so với các nước trong khu vực. Trong
khi lạm phát của Việt Nam cao nhất khu vực, độ dốc đường cong lợi suất thấp chỉ có thể
giải thích được bằng sự tồn tại của lãi suất trần ngăn không cho lợi suất dài hạn tăng quá
cao phản ánh kỳ vọng lạm phát. Tuy nhiên trong nửa sau 2008 đường cong lợi suất của
Việt Nam bị đảo ngược mạnh, gần như độc nhất trong khu vực, là dấu hiệu kinh tế sẽ
khó khăn trong năm 2009. Chỉ số này cũng bị âm, dù với mức độ nhỏ hơn, vào cuối năm
2010 một lần nữa là cảnh báo xấu cho năm 2011.
Mặc dù đường cong lợi suất không dốc và lãi suất bị chặn trên, mức độ dao động

vẫn chiếm thị phần áp đảo với 24/25 tỷ USD. Trong năm 2012, thị trường trái phiếu
chính phủ tăng 54,6% so với cùng kỳ năm trước, phần lớn nhờ vào tăng lượng phát hành
trái phiếu kho bạc bao gồm cả trái phiếu dài hạn và tín phiếu ngắn hạn.
* Đối với trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh:
Thị trường trái phiếu năm 2012 đã có bước phát triển ấn tượng, đặc biệt là thị
trường trái phiếu chính phủ. Không chỉ góp phần bình ổn thị trường tài chính, sự mở
19

rộng quy mô của thị trường trái phiếu chính phủ còn giúp tăng thanh khoản cho thị
trường nợ, hỗ trợ tích cực cho công tác điều hành ngân sách nhà nước
Năm 2012, mặc dù tình hình kinh tế vĩ mô đã có những chuyến biến nhất định
(như lạm phát và nhập siêu có chiều hướng giảm, tỷ giá được duy trì ổn định, dự trữ
ngoại t ệ tăng, mặt bằng lãi suất giảm… ) nhưng nhìn chung vẫn còn nhiều khó khăn. Hoạt
động của thị trường cổ phiếu chưa thực sự khả quan, dù chỉ số VN - Index tăng 17,7% và
HNX - Index giảm hơn 2% so với cuối năm 2011. Trái ngược với thị trường cổ phiếu,
năm 2012 có thể khẳng định là năm huy động, phát hành trái phiếu chính phủ đạt kỷ lục
kể từ khi thị trường này được Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) vận hành chính
thức ngày 24/9/2009.
Trên thị trường sơ cấp, tính đến ngày 17/12/2012, tổng mệnh giá khối lượng trái
phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh huy động được là 189.315,15 tỷ
đồng, bằng 95,13% tổng kế hoạch huy động cả năm 2012. So với 12 tháng cùng kỳ của
năm 2010 và 2011, khối lượng trái phiếu huy động trong năm 2012 đã lớn hơn rất nhiều,
đặc biệt là khối lượng huy động trái phiếu Chính phủ (bằng 173,6% cùng kỳ 2011 và
bằng 206,7% cùng kỳ 2010).
Việc huy động được một khối lượng lớn trái phiếu Chính phủ trong năm 2012 chủ
yếu do tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng là khá thấp (11 tháng tăng 4,62% so
với cùng kỳ năm 2011), trong khi đó, NHNN tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ hợp lý để
đảm bảo thanh khoản của hệ thống NHTM. Bên cạnh đó, NHNN đã mua khoảng 13 tỷ
USD từ các NHTM (bơm khoảng 270.000 tỷ đồng vào hệ thống), trong khi khối lượng
phát hành tín phiếu NHNN đạt khoảng 150.000 tỷ đồng, hiện còn dư nợ chỉ còn khoảng

Ngân hàng và các tổ chức tín dụng là khu vực cung cấp phần lớn các nguồn vốn
cho đầu tư của nền kinh tế và cũng là nguồn cầu chủ yếu đối với trái phiếu. Mục tiêu chủ
yếu mua trái phiếu, đặc biệt với trái phiếu chính phủ, của các ngân hàng thương mại là để
đảm bảo khả năng thanh khoản và làm công cụ trong giao dịch với Ngân hàng Nhà
nước Bên cạnh đó, các công ty chứng khoán cũng tham gia với mục đích đầu tư tài
chính. Tính tới thời điểm hiện tại, đã có 24 ngân hàng thương mại và 29 công ty chứng
khoán là thành viên của thị trường trái phiếu chính phủ.
Về thành viên đấu thầu trái phiếu: ngày 7/12/2012 Bộ Tài chính đã ban hành
Quyết định số 3089/QĐ-BTC ban hành danh sách thành viên đấu thầu trái phiếu Chính
phủ năm 2013. Với việc ban hành danh sách thành viên đấu thầu trái phiếu năm 2013,
hoạt động của thị trường trái phiếu sẽ dần tiếp cận với thông lệ quốc tế, tập trung hoạt
động thông qua một số thành viên đấu thầu để từng bước chuy ên môn hóa hoạt động
giao dịch trái phiếu, hình thành hệ thống các tổ chức tạo lập thị trường. Các thành viên
đấu thầu có nghĩa vụ cung cấp định hướng cho thị trường trái phiếu, hỗ trợ thanh khoản
cho thị trường trái phiếu, và là cầu nối giữa các nhà đầu tư với tổ chức phát hành cũng
như cơ quan quản lý nhà nước.
Năm 2013, theo dự toán NSNN đã được Quốc hội phê duy ệt, tổng mức huy động
trong và ngoài nước năm 2013 là 227.000 tỷ đồng, gồm 162.000 tỷ đồng cho bù đắp bội
chi, 60.000 tỷ đồng cho chương trình đầu tư hàng năm từ nguồn vốn trái phiếu Chính
phủ và 5.000 tỷ đồng cho dự án đường Quốc lộ 14 và Quốc lộ 1A. Để cân đối nhu cầu
vốn này, dự kiến huy động thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ khoảng 165.000 tỷ
đồng. N goài kế hoạch huy động vốn của Chính phủ, 2 ngân hàng chính sách là Ngân
hàng Phát triển Việt Nam và Ngân hàng Chính sách xã hội cần phải huy động khoảng
65.000 - 70.000 tỷ đồng từ phát hành trái phiếu để thực hiện các chương trình tín dụng
mục tiêu, trong đó N gân hàng Phát triển phải huy động khoảng 50.000 tỷ đồng và Ngân
hàng Chính sách xã hội phải huy động khoảng 15.000 - 20.000 tỷ đồng. Như vậy, tổng
nhu cầu huy động từ phát hành trái phiếu Chính phủ và phát hành trái phiếu được Chính
phủ bảo lãnh năm 2013 ước khoảng 230.000 tỷ đồng.
Đối với thị trường sơ cấp, trong tháng 9, Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội tổ
chức 11 phiên đấu thầu, huy động được 10.720 tỷ đồng, trong đó Kho bạc Nhà nước huy


7.45
-
8.44

3 Năm

9,800,000,000,000

11,980,000,000,000

2,870,000,000,000

7.70
-
11.
00

7.80
-
8.70

5 Năm

6,200,000,000,000

1,520,000,000,000

820,000,000,000


1,500,000,000,000

8.84
-
12.00

9.00
-
9
.00

T
ổng

28,500,000,000,000

38,487,000,000,000

10,720,000,000,000 21

Nguồn: Theo mof.gov.vn
Trong đó, giá giao dịch trái phiếu chính phủ TPCP bảo lãnh theo phương thức
outright đạt 1.449 tỷ đồng, theo phương thức repos đạt 1.300 tỷ đồng.
Giá trị giao dịch mua của nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) theo phương thức

2

6 Tháng

2,202,868

239,655,402,636

5.6495
-

YTM
-

6.2008

3

12 Tháng

33,526,470

3,695,049,894,050

6.4498
-

YTM
-


YTM
-

12.5202

6

3
-

5 Năm

4,350,000

461,746,150,000

8.1501
-

YTM
-

10.0981

7

5 Năm

2,300,000



15 Năm

600,000

60,898,200,000

12.3581
-

YTM
-

12.3581
T
ổng

95,900,437

10,496,755,574,395
*YTM: Yield to Maturity
Nguồn: Theo mof.gov.vn
Về giao dịch TPKB, trên thị trường tín phiếu thứ cấp tháng 9, khối lượng giao
dịch tín phiếu Kho bạc (TPKB) theo phương thức giao dịch repos đạt 1 triệu tín phiếu,

Trước đó không lâu, Công ty cổ phần (CTCP) Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai
(HAG) thu được 950 tỷ đồng từ trái phiếu bằng việc phát hàng 950 trái phiếu, mệnh giá 1
tỷ đồng/trái phiếu. Số trái phiếu được HAG phát hành lần này có kỳ hạn 3 năm và lãi
suất kỳ tính lãi đầu tiên 14%/năm.
Trong tháng 7, CTCP Đại lý vận tải SAFI (SFI) cũng thông báo đã phát hành hết
20 tỷ đồng trái phiếu chuyển đổi. Số trái phiếu này được SFI phát hành với mệnh giá
100.000 đồng/trái phiếu, lãi suất 9%/năm. Theo kế hoạch trái phiếu sẽ đáo hạn vào ngày
4/7/2014.
Trong một thông báo mới đây, Ngân hàng TM CP Việt Nam Thịnh Vượng
(VPBank) cho biết sẽ phát hành 2.500 tỷ đồng trái phiếu với kỳ hạn 10 năm 1 ngày. trái
phiếu có mệnh giá 1 tỷ đồng, tiền lãi trái phiếu được trả sau định kỳ hàng năm với lãi
suất 5 năm đầu tối đa 10,6%/năm. Sau thời gian này nếu VPBank không thực hiện cam
kết mua lại lãi suất áp dụng tối đa 11%/năm.
Số tiền thu được từ đợt phát hành VPBank sẽ dùng để gia tăng nguồn vốn trung,
dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh, cho vay các dự án trong dài hạn của ngân
hàng và các hoạt động kinh doanh khác. Theo dự báo của giới đầu tư, khả năng trái phiếu
của VPBank cũng sẽ “ cháy hàng” trước nhu cầu quá lớn từ phía nhà đầu tư.
Hiện tượng TPDN “khan hàng” đã khiến không ít nhà đầu tư bất ngờ bởi trước đó,
thời điểm 6 tháng đầu năm, thị trường này vẫn còn hết sức ảm đạm khi có rất ít doanh
nghiệp tổ chức phát hành TPDN để huy động vốn. Trong 6 tháng, chỉ có duy nhất thỏa
thuận đạt được giữa CTCP Đầu tư hạ tầng kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh (CII) và N gân hàng
TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank). Theo đó, Vietcombank sẽ mua toàn bộ
1.000 tỷ đồng TPDN do CII phát hành.
Đây là trái phiếu có thời hạn 6 năm, lãi suất cố định 13,2% /năm. Trên thực tế, thị
trường TPDN chỉ thật sự sôi động kể từ cuối quý II/2013, khi trái phiếu chính phủ không
còn hấp dẫn do lợi suất mang lại đã giảm về mức rất thấp. Bên cạnh đó, với bối cảnh
thanh khoản hệ thống ngân hàng dồi dào trong khi các kênh đầu tư như bất động sản, CK
đều khá rủi ro đã thúc đẩy các nhà đầu tư chuyển hướng nhu cầu sang đầu tư vào TPDN
với mức lợi suất cao hơn hẳn, trung bình 12-14%/năm.
Diễn biến của thị trường TPDN từ đầu năm đến nay trái ngược hẳn với năm 2012.

hơn cả lãi suất huy động (7%/năm), khiến kênh đầu tư này trở nên ảm đạm suốt tháng 6,
tháng 7 và mới hồi phục nhẹ từ đầu tháng 9.
TPDN lúc này đang trở thành kênh đầu tư có lợi suất trên danh nghĩa cao nhất.
Lãi suất phát hành cho năm đầu tiên của các DN sản xuất lớn hiện ở vào khoảng 11-
12%/năm và biên lãi suất khoảng 3-3,5%/năm, trong khi đó lãi suất phát hành của các
ngân hàng cũng rơi vào khoảng 10%/năm với biên lãi suất khoảng 2 - 2,5%/năm. Lãi
suất phát hành của các DN rủi ro cao hơn như bất động sản có thể lên tới 14%/năm.
Các DN trong năm 2012 chấp nhận phát hành với lãi suất lên tới 16%/năm, thậm
chí 18%/năm cho kỳ đầu tiên và biên lãi suất 4 - 4,5%/năm cho các kỳ thanh toán tiếp
theo, nhưng chỉ bán được một phần lượng chào. Những đợt phát hành lớn nhất cũng chỉ
có quy mô khoảng 2.000 tỷ đồng. Các ngân hàng một năm trước đó từng thận trọng với
24

một vài tổ chức phát hành, nay lại hướng dòng tiền nhàn rỗi đến trái phiếu của những
DN này với lãi suất còn thấp hơn.
Công ty quản lý quỹ của một ngân hàng quốc doanh thậm chí đang chuẩn bị cho
việc thành lập một quỹ đầu tư chuyên biệt vào TPDN. Tuy quy mô của quỹ này dự kiến
chỉ khoảng 100 tỷ đồng, nhưng nếu thành công thì đây sẽ là quỹ đầu tư chuyên cho
TPDN đầu tiên của thị trường (các quỹ trái phiếu hiện nay đầu tư chính vào TPCP và chỉ
dành một tỷ trọng hạn chế đầu tư vào TPDN).

CHƯƠNG III: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, GIẢI PHÁP VỀ TRÁI PHIẾU VÀ THỊ
TRƯỜNG TRÁI PHIẾU
3.1.
VỀ CUNG TRÁI PHIẾU

Số liệu nợ lũy tiến trong nước (xem Bảng 4) cho đến năm 2008 bám rất sát tốc độ
tăng trưởng số dư trái phiếu chính phủ biểu diễn trong Đồ thị 1. Sau năm 2008 hai chuỗi
số liệu này không còn đi cùng với nhau, trong khi dư nợ tích lũy tiếp tục tăng và đạt 488
nghìn tỷ VND vào cuối năm 2011, số dư trái phiếu chính phủ chỉ đạt 321 nghìn tỷ vào

535,762.00

-
25,597

18,382

18,382

3.4%

2003

610,938.78

-
29,936

22,895

41,277

6.8%

2004

715,525.77

-
34,703


14.1%

2007

1,076,116.67

-
64,567

51,572

188,558

17.5%

2008

1,477,663.76

-
67,677

48,009

236,567

16.0%

2009

-
123,114

92,299

488,696

19.1%

(1 )GDP danh nghĩa, tỷ VND - nguồn EIU
(2) Bội chi, tỷ VND - nguồn Quyết toán Ngân sách Nhà nước 2002-2009, dự báo
của EIU năm 2010-2011
(3) Vay trong nước, tỷ VND, - nguồn Quyết toán Ngân sách Nhà nước 2002-2009,
75% dự báo bội chi ngân sách của EIU năm 2010-2011
(4) Tổng lũy tiến từ năm 2002, tỷ VND.
Một biện pháp nhằm đẩy nhanh nguồn cung trái phiếu chính phủ là áp dụng hình
thức phát hành bán phần như cách của Đức. Mỗi đợt đấu thầu nước này chỉ bán ra 80%
lượng trái phiếu trong kế hoạch phát hành, 20% còn lại được gửi vào một quĩ điều tiết để
chính phủ có thể chủ động can thiệp vào thị trường trái phiếu khi cần. Như vậy lượng trái
phiếu phát hành sẽ luôn cao hơn thâm hụt ngân sách. Biện pháp thứ hai mà nhiều nước
25

châu Á áp dụng là phát hành trái phiếu của ngân hàng trung ương. Đây là cách gia tăng
lượng trái phiếu chính phủ trên thị trường mà không phụ thuộc và ảnh hưởng vào ngân
sách. Ở thời điểm cuối năm 2011, Thailand có một lượng trái phiếu của ngân hàng trung
ương lên đến 25% GDP còn Malaysia gần 13%, ngay cả khi lượng trái phiếu chính phủ
của họ đã khá lớn.
Đối với phân khúc trái phiếu doanh nghiệp, khuyến khích cung đòi hỏi phải có
một gói chính sách tổng thể hơn. Mặc dù chưa có số liệu thống kê chính thức, nhìn qui
mô hiện tại của thị trường trái phiếu doanh nghiệp có thể khẳng định Việt Nam còn xa

không nên trở thành một CRA vì nó còn có những trách nhiệm quản lý nhà nước. Rút
kinh nghiệm của các nước trong khu vực và cả mô hình CRA của các nước phát triển,
Việt Nam nên khuyến khích ít nhất ba CRA tư nhân hoạt động theo nguyên tắc nhà đầu
tư trả phí để tránh xung đột lợi ích trong nội bộ CRA. Có thể Việt Nam phải chấp nhận
mở cửa dịch vụ tài chính nhanh hơn các cam kết WTO để mời chào các CRA quốc tế vào
hoạt động trong thị trường nội địa.
Cũng liên quan đến rủi ro tín dụng của trái phiếu doanh nghiệp, một mảng kinh
doanh lớn Việt Nam cần khuyến khích phát triển là dịch vụ bảo lãnh/bảo hiểm tín dụng
cho nhà phát hành. Các ngân hàng, công ty bảo hiểm chuyên biệt, thậm chí các quĩ đầu
tư lớn có thể đứng ra bảo đảm năng lực chi trả của doanh nghiệp phát hành trái phiếu với
một mức phí nhất định. Hình thức bảo đảm có thể là thư tín dụng (LC), tài khoản bảo

Trích đoạn LỘ TRÌNH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM ĐẾN NĂM
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status