Phân lập và xác định gen độc tố của vi khuẩn vibrio parahaemolyticus trong hải sản tươi sống tại các chợ ở thành phố nha trang - Pdf 22



i
LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Văn Duy và
TS. Phạm Thu Thủy đã tận tình hướng dẫn, chỉ dạy, truyền đạt kinh nghiệm và giúp
đỡ tôi từng bước tiếp cận và hoàn thành luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô giáo trong Viện Công nghệ sinh học
và môi trường. Thầy cô đã tận tình giúp đỡ, giảng dạy và truyền đạt kiến thức quý
báu, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập để tôi có được nền
tảng kiến thức bước tiếp những chặng đường tiếp theo.
Con xin gửi lòng biết ơn đến ba mẹ và anh chị đã luôn bên cạnh động viên,
ủng hộ và dành cho con tất cả tình yêu thương, con sẽ luôn cố gắng sống và phấn
đấu với niềm tin yêu này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các bạn lớp 48 CNSH, đã đồng hành
và chia sẽ buồn vui với tôi trong những năm tháng sinh viên, trong suốt khóa học
cũng như quá trình thực hiện đề tài.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến chị Minh Nhật và nhóm G8-50SH đã
quan tâm và nhiệt tình giúp đỡ để bài luận văn được hoàn thành.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người đã dành cho tôi tình
cảm quý báu này! Nha Trang, tháng 07 năm 2010
Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Cẩm Ly

2.1.3. Hóa chất, môi trường và thuốc thử 20
2.2. Nội dung nghiên cứu 24
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu 25 iii
2.3.1. Phân lập vi khuẩn V. parahaemolyticus 25
2.3.2. Xác định đặc điểm hình thái của vi khuẩn Vibrio 26
2.3.3. Xác định khả năng sinh trưởng 27
2.3.4. Xác định một số đặc tính sinh hóa của các chủng Vibrio 28
2.3.5. Bảo quản chủng vi khuẩn. 30
2.3.6. Tách chiết DNA hệ gen từ tế bào vi khuẩn V. parahaemolyticus 30
2.3.7. Xác định gen độc tố bằng kỹ thuật PCR (Polymerase Chain Reaction) 31
2.3.8. Điện di trên gel agarose và đọc kết quả điện di 33
CHƢƠNG III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35
3.1. Phân lập vi khuẩn vi khuẩn Vibrio từ thực phẩm hải sản 35
3.2. Đặc điểm hình thái tế bào của các chủng Vibrio 39
3.3. Đƣờng cong sinh trƣởng của các chủng Vibrio 41
3.4. Một số đặc tính sinh hóa của V. parahaemolyticus 42
3.5. Xác định gen độc tố của các chủng Vibrio bằng kỹ thuật PCR 46
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
iv
DANH MỤC TỪ, KÍ TỰ VIẾT TẮT

Base pair bp
Deoxynucleotide triphosphate dNTP

Bảng 1.2. Ngộ độc thực phẩm gây ra bởi V. parahaemolyticus do tiêu thụ thực phẩm
hải sản 1993 -2000 Hồng Kông 5
Bảng 1.3. Các triệu chứng lâm sàng viêm dạ dày ruột gây ra bởi Vibrio
parahaemolyticus 5
Bảng 1.4. Các đặc tính khác nhau của các loài thường gây bệnh trên người liên quan
đến việc tiêu thụ hải sản 8
Bảng 1.5. Các kháng nguyên của V. parahaemolyticus (1986) 11
Bảng 2.1. Các mẫu hải sản thu mua từ một số chợ ở thành phố Nha Trang dùng để
phân lập vi khuẩn Vibrio 19
Bảng 2.2. Đặc điểm các mồi sử dụng cho phản ứng PCR: 32
Bảng 2.3. Các thành phần sử dụng trong phản ứng PCR 32
Bảng 3.1. Mật độ tế bào và đặc điểm hình thái của các chủng Vibrio được phân lập từ
các mẫu hải sản ở chợ Vĩnh Hải, Vĩnh Thọ, chợ biển (Bãi Dương) 36
Bảng 3.2. Khả năng chịu muối của các chủng Vibrio 43
Bảng 3.3. Khả năng lên men đường của các chủng vi khuẩn Vibrio 44
Bảng 3.4. Khả năng sử dụng lysin của các chủng vi khuẩn 45 vi
DANH MỤC HÌNH


1
LỜI NÓI ĐẦU

Trong những năm trở lại đây, nhiều địa phương trên cả nước thường xuyên
phải đối mặt với tình trạng ngộ độc thực phẩm, có nơi ngộ độc thực phẩm đã xảy ra
hàng loạt. Có nhiều nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm trong đó tiêu thụ hải sản là
một trong những nguyên nhân chính yếu. Các món ăn hải sản ngày càng phong phú
và là thực phẩm bổ dưỡng hàng đầu, đi kèm đó cũng chứa đựng nhiều nguy cơ tiềm
ẩn gây hại cho sức khỏe của con người.
Khi ăn các món ăn sống như ăn gỏi, ăn tái người ăn rất dễ bị nhiễm các bệnh
về hệ tiêu hóa. Dù mang lại nguồn dinh dưỡng cao nhưng phải sử dụng nguồn hải
sản tươi, đun nấu chín, hợp vệ sinh, tuyệt đối không được ăn tái nếu không sẽ bị
nhiễm khuẩn, nhiễm độc, làm lây truyền dịch bệnh tiêu chảy cấp và các bệnh truyền
nhiễm đường tiêu hoá.
Vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus là vi khuẩn thường sống kí sinh trên các
đối tượng hải sản như tôm, mực, cua, cá,… chúng được coi là nguyên nhân chính
gây ra các vụ ngộ độc thức ăn nên cần nghiên cứu khả năng gây bệnh của chúng.
Đề tài “Phân lập và xác định gen độc tố của vi khuẩn Vibrio
parahaemolyticus trong hải sản tƣơi sống tại các chợ ở thành phố Nha Trang”
được tiến hành với mục tiêu:
Phân lập và định danh loài V. parahaemolyticus ở các chợ thành phố
Nha Trang có mặt trong một số hải sản tươi sống (tôm, mực, cá, cua…).
Xác định gen độc tố của vi khuẩn gây bệnh bằng kỹ thuật PCR, tạo cơ
sở khoa học cho việc chẩn đoán và điều trị bệnh sớm.

Calcutta giữa tháng 9 năm 1996 và tháng 4 năm 1997. 3
Mexico: Tổng số 266 mẫu nước biển, nhuyễn thể và cá thu thập từ 12 điểm
khác nhau trong đầm phá Pueblo Viejo, Mexico vào các tháng khác nhau trong năm
cho thấy: V. parahaemolyticus được tìm thấy ở 11 trong 12 điểm trên. Các chủng đã
được kiểm tra kiểu huyết thanh cho mục đích dịch tễ học và O3 là nhóm huyết thanh
thường gặp nhất. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng nhân tố tác động đến phân bố V.
parahaemolyticus trong môi trường bao gồm nhiệt độ nước, muối, nồng độ oxy, sự
tương tác với thực vật nổi, sự có mặt của các trầm tích, chất hữu cơ trong huyền phù,
cá và hải sản cũng như sự lên xuống của thủy triều ở cửa sông (Maria và cộng sự,
2004).
Chile: Tóm tắt dịch bệnh tiêu chảy liên quan đến tiêu thụ hải sản và V.
parahaemolyticus xảy ra trong mùa hè năm 2004 và 2005 ở các vùng quanh của
Puerto Montt, Chile. V. parahaemolyticus thu được từ động vật có vỏ và mẫu lâm
sàng trong thời gian dịch bệnh chủ yếu thuộc nhóm O3: K6 (Loreto và cộng sự,
2005).
Đài Loan : Từ năm 1983 đến 1993, có 786 chủng Vibrio parahaemolyticus đã
được thu thập từ các dịch bệnh truyền qua thực phẩm và một số các trường hợp tiêu
chảy ở miền bắc Đài Loan, gồm 42 kiểu huyết thanh. Năm kiểu huyết thanh thường
gặp là K8 (36,8%), K15 (10,8%), K12 (8,7%), K56 (7,9%) và K63 (4,7%). Đa số
chủng gây ra bệnh có kiểu huyết thanh là O3:K6 (Wong và cộng sự, 2000).
Gần đây, bệnh tiêu chảy do V. parahaemolyticus đã được báo cáo từ Việt
Nam, Úc, Hoa Kỳ, Trung Mỹ và Anh. Tại châu Phi, V. parahaemolyticus lần đầu
tiên được xác định trong các dịch bệnh tại Togo. Do triệu chứng phát bệnh tương tự
với tả nên người ta đẩy mạnh về công tác y tế công cộng (Bockemuhl và Triemer,
1974).
V. parahaemolyticus là nguyên nhân chính gây ngộ độc thực phẩm như viêm
dạ dày ruột ở người thông qua tiêu thụ hải sản nấu chưa chín hoặc vết thương tiếp xúc

29 (5,3%)
187 (6,9%)
Trái cây, rau và sản phẩm từ chúng
25 (4,5%)
98 (3,6%)
Nhóm khác (chƣa rõ)
33 (4,3%)
123 (4,6%)
Tổng
552 (100%)
2725 (100%)
(Nguồn: Risk Assessment Studies, Report No.20, 2005 ) 5
Bảng 1.2. Ngộ độc thực phẩm gây ra bởi V. parahaemolyticus do tiêu thụ thực
phẩm hải sản 1993 -2000 Hồng Kông
Nhóm thực phẩm
Loại thực phẩm
Số ca mắc bệnh
Số ngƣời mắc phải

Giáp xác

Cua
46 (14,7%)
180 (12,3%)
Tôm
43 (13,7%)
299 (20,4%)

Tổng
49 (15,7%)
188 (12,8%)
Các sản phẩm khác
từ biển

49 (15,7%)
255 (17,4%)


43 (13,7%)
170 (11,6%)
Tổng

313 (100%)
1465 (100%)
(Nguồn: Risk Assessment Studies, Report No.20, 2005 )
Bảng 1.3. Các triệu chứng lâm sàng viêm dạ dày ruột gây ra bởi Vibrio
parahaemolyticus
Triệu chứng
Tỷ lệ của triệu chứng
Trung bình
Phạm vi (khoảng)
Tiêu chảy
98%
80 - 100%
Đau thắt bụng
82%
68 - 100%
Nôn

Riêng tại tỉnh Khánh Hòa, tình hình ngộ độc thực phẩm xảy ra tính từ năm 2001 đến
2008 có 215 ca ngộ độc, trong đó có 7 ca tử vong. Nguyên nhân của các vụ ngộ độc
thực phẩm là do cá nóc (25 ca), vi sinh vật (48 ca), nấm dại (46 ca). Thời điểm trong
năm hay xảy ra ngộ độc thực phẩm là từ tháng 7 đến tháng 12. Loại thực phẩm gây
ngộ độc thực phẩm thường gặp là rau, thịt, nhưng hải sản cũng chiếm 11,11% các ca
ngộ độc.
Theo báo cáo của Tuyet và cộng sự (2002) đã có 548 ca nhiễm bệnh do V.
parahaemolyticus gây ra được xác định giữa 1/1995 đến 9/2001 ở Khánh Hòa.
Trong thời gian này, các nhà nghiên cứu ghi nhận trong số này có 471 người lớn và
có 57 trẻ em. Phân tích vi sinh cho thấy trong số 548 trường hợp tiêu chảy, có 53%
dương tính với vi khuẩn V. parahaemolyticus. Nhiều địa phương trên cả nước hiện
phải đối mặt với tình trạng ngộ độc thực phẩm ngày càng tăng do nhu cầu ăn hải sản
ngày càng nhiều, có nơi ngộ độc thực phẩm đã xảy ra hàng loạt. Điều kiện để dịch
bệnh xuất hiện là do tình trạng vệ sinh môi trường, nước, thực phẩm kém, đặc biệt là
thói quen, sở thích ăn gỏi, ăn tái hải sản.
Tuy các phương tiện truyền thông đưa tin về ngộ độc thực phẩm do loài này
gây ra rất nhiều do chúng gây bệnh trên các loài hải sản như tôm, cá (Võ Văn Nha 7
và cộng sự, 2006) nhưng ở nước ta còn có ít nghiên cứu cơ bản về gen độc tố của vi
khuẩn V. parahaemolyticus gây bệnh. Đề tài được thực hiện để đáp ứng tình hình
thực tế ấy, làm cơ sở cho nghiên cứu chẩn đoán và điều trị bệnh kịp thời.
1.2 . Tổng quan về vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus
1.2.1. Phân loại chi Vibrio
Vibrio thuộc chi vi khuẩn Gram âm, hình dấu phẩy và di động bằng tiêm mao
đơn cực dinh dưỡng theo phương thức dị dưỡng hữu cơ (Thompson và cộng sự,
2004). Chúng là loài lên men tùy tiện (facultative) và hầu hết dương tính với phản
ứng oxydase. Chi Vibrio được chia ra thành các loài không ưa mặn (V. cholerae) và
các loài ưa mặn (V. parahaemolyticus, V. alginolyticus). Chúng khác nhau về kích

AliiVibrio salmonicida và V. harveyi, là tác nhân gây bệnh trên các loài hải sản và
chúng gây ra thiệt hại lớn về kinh tế. Photobacterium profundum, đại diện cho một
chi khác trong họ Vibrionaceae, cũng được kể đến trong danh sách các loài gây
bệnh trên hải sản (Rujiwat, 2007).
Bảng 1.4. Các đặc tính khác nhau của các loài thƣờng gây bệnh trên ngƣời liên
quan đến việc tiêu thụ hải sản

**
**
TCBS agar
V
V
V
V
Km
V
X
X
X
V
X

KK
KA
KA
KA
KK
0
Oxidase
+
+
+
+
+

+
+
+
+
+
Arginine dihydrolase


+
+

+



+
+


+




+


+
+
3% NaCl
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
6% NaCl
+

+
+
+
+

+
+
T

0
T
+
+
+
T
+
Khả
năng
lên
men
Sucrose
+
+
+
+

+


T
T

D-cellobiose




T
− 9
D-Mannose
+
+
+
+
+
+
+
+
+
T

D-Mannitol
+
+
+
+

+
+
+
T
+


K
K
0
N
N
K
N
K
N
150 µg O/129
N
N
N
N
0
N
N
N
N
K
N
Gelatinase
+
+
+
+

+
+
+

Giới : Vi khuẩn
Ngành : Proteobacteria
Lớp: Gamma Proteobacteria
Bộ : Vibrionales
Họ: Vibrionaceae
Chi: Vibrio
Loài: V. parahaemolyticus
Theo khóa phân loại của Bergey, V. parahaemolyticus là một loại vi khuẩn
Gram âm, hình dấu phẩy, có tiêm mao ở một đầu, di động, kỵ khí tùy tiện và ưa môi
trường kiềm mặn. Chúng có thời gian thế hệ 8-9 phút (Daniels và cộng sự, 2000),
thường sống ở các cửa sông và ven biển của hầu hết các vùng trên thế giới. Người ta
cũng đã phân lập được chúng trong cát, bùn và nước biển, cũng như ở hải sản
(Maria và cộng sự, 2004).
Các đặc tính sinh hóa đặc trưng cho V. parahaemolyticus theo như mô tả trên
gồm: phản ứng oxydase (+), khả năng sử dụng lysin (+), ornithin (+), arginine (+),
khả năng lên men đường arabinose (+), lactose (-), sucrose (-), mannitol (+),
mannose (+), sống được trong phạm vi muối từ 3-8%, không mọc ở môi trường
không có muối (0%) hoặc muối quá cao (10%).
Các chủng V. parahaemolyticus phân lập có thể phân biệt nhau bằng kiểu
huyết thanh (serotyping). Hệ thống để xác định các kiểu huyết thanh của V.
parahaemolyticus dựa trên các cấu trúc kháng nguyên khác nhau của các nhóm
lipopolysaccharides (gọi tắt là nhóm O) và các loại nang (gọi tắt là các loại K)
(Joseph và cộng sự, 1983). Theo nguồn từ FDA, có 12 nhóm O và 65 loại K đã được
xác định (Bảng 1.5). 11
Bảng 1.5. Các kháng nguyên của V. parahaemolyticus (1986)
Nhóm O
Loại K

Không phải tất cả các chủng V. parahaemolyticus đều gây bệnh ở người. Thực tế,
phần lớn các chủng phân lập từ môi trường hoặc hải sản không gây bệnh. Các chủng
gây bệnh thì sản xuất ra thermostable direct hemolysin (TDH). TDH là một enzyme
có thể làm tan (phá vỡ) các tế bào hồng cầu trên môi trường thạch máu Wagatsuma,
được gọi là hiện tượng Kanagawa. Vai trò của các độc tố trong cơ chế gây bệnh
chưa được biết rõ ( Kozo và cộng sự, 2003).
Dịch bệnh do V. parahaemolyticus gây ra có xu hướng tập trung dọc theo
vùng ven biển trong mùa hè và đầu mùa thu khi nhiệt độ nước cao hơn mức nhiệt độ
bình thường. Các loại thực phẩm liên quan đến các vụ ngộ độc thường là mực ống,
cá thu, cá ngừ, cá mòi, cua, tôm, và các loại động vật hai mảnh vỏ như hàu, sò, trai. 12
Thời kì ủ bệnh thường là 12 đến 24 giờ, kèm theo các triệu chứng nôn, mửa, đau
bụng, tiêu chảy đôi khi sốt. Các triệu chứng thường kéo dài trong 72 giờ, nhưng có
thể kéo dài đến 10 ngày đối với người có hệ thống miễn dịch suy giảm.
1.2.3. Các phƣơng pháp kiểm tra sự có mặt của V. parahaemolyticus
Có nhiều phương pháp được sử dụng để phát hiện V. parahaemolyticus như
dựa vào quan sát hình thái dưới kính hiển vi, các đặc tính sinh hóa và các kĩ thuật
sinh học phân tử như PCR, RAPD, miễn dịch phân tử.
Khi quan sát dưới kính hiển vi, V. parahaemolyticus có hình dấu phẩy, di
động bằng tiêm mao đơn cực. Về kích cỡ tùy thuộc vào chủng, có chủng thì dài,
mảnh hoặc ngắn, mập. Khi nhuộm Gram, chúng được phát hiện là Gram âm.
Các loài V. parahaemolyticus khi nuôi cấy trên môi trường thạch chọn lọc
Thiosulfate Citrate Bile Salt Sucrose (TCBS) có màu xanh lá cây hoặc màu xanh
đậm trên thạch (Kudo và cộng sự, 2003). Ngoài ra, V. parahaemolyticus còn phát
triển trên môi trường chọn lọc khác là CHROMagar
TM
Vibrio cho thấy các khuẩn lạc
có màu tía hoặc tím.

Khi gây bệnh trên người, sự lây nhiễm có thể qua đường ăn uống, lây nhiễm
từ người sang người do tiếp xúc với mầm bệnh (chất nôn, phân, dụng cụ, ), người
bệnh không rửa tay kỹ, ăn thực phẩm tươi sống hay chưa nấu chín. Đây là nguyên
nhân chủ yếu gây ra viêm dạ dày ruột (gastroenteritis) cấp tính. Sự lây nhiễm qua
vết thương cũng có, nhưng ít phổ biến hơn ngộ độc do ăn hải sản và thực phẩm bị
nhiễm chéo với các loại thực phẩm hải sản khác. Theo trung tâm an toàn thực phẩm
Hồng Kông, quá trình chế biến bị lây nhiễm hoặc nguồn nước sử dụng bị nhiễm và
xử lý không đúng cách. Ngoài ra, bơi lội hoặc làm việc ở vùng bị ảnh hưởng có thể
dẫn đến nhiễm trùng mắt hoặc tai và các vết thương hở .
Bên cạnh loài V. parahaemolyticus, các loài Vibrio khác cũng gây ra các vấn
đề nghiêm trọng trong hoạt động nuôi tôm và hầu hết là tác nhân gây bệnh trên vật
chủ hải sản. Các loài Vibrio được phân lập từ bệnh tôm là V. parahaemolyticus, V.
harveyi, V. alginolyticus, V.vulnificus, V. damsela, V. anguillarum và V. fluvialis
(Leangphibul và cộng sự, 1985; Lightner, 1988; Ruangpan và Kitao, 1991; Nash và
cộng sự, 1992; Jiravanichpaisal và cộng sự, 1994). Vibrio spp. đều có thể xâm nhập
và gây bệnh khi điều kiện môi trường thuận lợi đến các giai đoạn phát triển của tôm
như ấu trùng, hậu ấu trùng, tiền trưởng thành và trưởng thành. 14
1.2.5. Gen độc tố của V. parahaemolyticus
V. parahaemolyticus được công nhận là nhân tố gây ra viêm dạ dày ruột liên
quan đến sự tiêu thụ hải sản, nhưng không phải chủng nào của loài này cũng gây
bệnh. Một yếu tố độc tính từ lâu đã được coi liên quan đến dịch tễ học liên kết với
bệnh là hemolysin. Hemolysin là ngoại độc tố, tấn công vào màng tế bào máu và
làm tan tế bào. Hemolysin chuyển các ion liên kết với protein như hemolysin,
transferrin, lactoferrin thành dạng tự do. Các ion này (Fe
3+
) sẽ liên kết với các phức
chất dạng chelator ở ngoài tế bào (Zhang và Austin, 1998). Trong nhiều trường hợp,

+
, Mg
+
, Ca
+
. Khi TDH tăng lên thì cũng tăng lên các
kênh này làm cho các ion này tràn vào tự do và tế bào căng lên hết mức và phá vỡ tế
bào do mất cân bằng thẩm thấu.
Năm 1988, Honda và các đồng nghiệp phát hiện ra một hemolysin mới trong
khi phân lập các chủng lâm sàng KP dương tính (Honda và cộng sự, 1988).
Hemolysin này được gọi là TDH-related haemolysin (TRH), có tính chất hóa lý,
miễn dịch và sinh học tương tự như TDH. TDH và TRH được mã hóa bởi gen tdh và
trh tương ứng, chúng được coi là yếu tố độc tính quan trọng trong gây bệnh của V.
parahaemolyticus (Nishibuchi và cộng sự, 1992; Honda và Iida, 1993; Xu và cộng
sự, 1994). Gen tdh, trh lần lượt có kích thước 250 và 251bp. Giữa các chủng V.
parahaemolyticus có các gen độc tố khác nhau. Hầu như tất cả các mẫu lâm sàng có
tdh hoặc trh, hoặc cả hai, trong khi gần như tất cả các mẫu từ môi trường không có
(Shirai và cộng sự, 1990; Suthienkul và cộng sự, 1995; Iida và cộng sự, 1997) hoặc
có với tỉ lệ thấp 1-5% (Nishibuchi và Kaper, 1995, Robert và cộng sự, 2004).
Các chủng V. parahaemolyticus gây bệnh là các chủng KP dương tính, có
chứa gen tdh và gen trh mã hóa các protein độc tố TDH, TRH nằm trên operon độc
tố V. parahaemolyticus toxRS (Vp-toxRS), được điều hòa bởi gen toxR. Operon Vp-
toxRS có tên này là do cấu trúc và chức năng của nó tương tự với operon của V.
cholerae là toxRS, là bộ mã hóa cho gen nội độc tố tả. Giữa hai operon của hai loài
V. parahaemolyticus và V. cholerae chiếm lần lượt 52% và 62% trình tự tương
đồng. Giống operon toxRS của V. cholerae, operon Vp-toxRS không chỉ điều khiển
sự phiên mã của gen độc tố ruột tdh mà còn các gen khác nữa. Trình tự của operon
Vp-toxRS còn được phát hiện có trong tất cả các chủng V. parahaemolyticus
(Nishibuchi và cộng sự, 1995).
Ở các loài V. mimicus, V. cholerae, V. hollisae (Nishibuchi và Kaper, 1995)

17 Hình 1.2. Hai nhiễm sắc thể dạng vòng của V. parahaemolyticus
(Từ ngoài vào trong, mỗi một vòng tròn và mỗi một màu sắc là các vùng gen
quy định các chức năng riêng của gen trong nhiễm sắc thể)
T3SS (Type III Secretion System) là một trong những hệ thống bài tiết ra các
protein của vi khuẩn vào môi trường ngoại bào hoặc vi khuẩn cũng có thể tiêm
những protein này vào tế bào vật chủ eucaryote của chúng. T3SS cần thiết cho phát
sinh bệnh ở các loài vi khuẩn gây bệnh. T3SST không xuất hiện ở bộ gen vi khuẩn
Nhiễm sắc thể số 2
Nhiễm sắc thể số 1 18
V. cholerae. Qua các thí nghiệm phân tích về bộ gen, người ta cho thấy ở loài V.
parahaemolyticus có hai hệ thống T3SS (Thomson và cộng sự, 2004), chúng đóng
vai trò trong phát sinh bệnh của vi khuẩn này (Honda và cộng sự, 2006). Đó là
T3SS1 và T3SS2, mỗi một hệ thống phân bố lần lượt ở hai nhiễm sắc thể I và II. Jun
và cộng sự (2001) đã báo cáo một đảo gen gây bệnh Vp-PAI dài 80 kp trên nhiễm
sắc thể II bảo tồn trong các chủng KP (+) và không có trong KP (-) (Kodama và
cộng sự, 2010). Vp-PAI không chỉ chứa gen tdh mà còn chứa cụm gen T3SS2. Do
vậy, Vp-PAI liên quan đến phát sinh bệnh của V. parahaemolyticus gây ra ở người.
1.3. Mục tiêu và tính cấp thiết của đề tài
1.3.1. Mục tiêu
Phân lập và định danh loài V. parahaemolyticus ở các chợ thành phố Nha
Trang có mặt trong một số hải sản tươi sống (tôm, mực, cá, cua…).

STT
Ngày lấy mẫu
Địa điểm
Số lƣợng mẫu lấy
Tôm
Cua
Mực
1
15.03.2010
Vĩnh Hải
3

2
2
08.04.2010
Vĩnh Thọ
3
2

3
15.04.2010
Chợ biển
(Bãi Dương)

3
3
2.1.2. Thiết bị chuyên dụng
Máy ly tâm ( Eppendorf Centrifuge 5417R, Mỹ)
Máy PCR ( IQ
TM


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status