Lời nói đầU
Lời nói đầU
Trong điều kiện kinh tế thị trờng, bất cứ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại
và phát triển đều phải có chiến lợc nhằm khuyếch trơng thị trờng của mình. Đó là
yêu cầu sơ đẳng và cũng rất cơ bản của kinh doanh hiện đại.
Ngày nay với sự ra đời của hàng loạt các ngân hàng cổ phần, ngân hàng liên
doanh với nớc ngoài, các chi nhánh ngân hàng nớc ngoài đã và đang hoạt động tại
Việt Nam sẽ làm cho các Ngân hàng thơng mại phải nhảy vào một cuộc cạnh tranh
vô cùng khó khăn và phức tạp.
Cùng với xu hớng mở rộng hoạt động thơng mại, thị trờng hối đoái đóng vai
trò ngày càng quan trọng không chỉ đối với tổng thể nền kinh tế quốc dân mà còn đối
với từng doanh nghiệp.NHTM với chức năng là tổ trung gian cung cấp các dịch vụ
hoàn hảo nhất, đặc biệt trong lĩnh vực thanh toán quốc tế đồng thời có vị trí trung
tâm trong thị trờng hối đoái cũng đã không ngừng phát triển nghiệp vụ kinh doanh
ngoại tệ của mình để cân bằng sự d thừa về cung và cầu ngoại tệ trên thị trờng. Một
mặt để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, mặt khác tìm kiếm lợi nhuận trên thị trờng
và mở rộng mạng lới kinh doanh của mình. Bằng cách nào để các NHTM có thể
chiến thắng trong cạnh tranh, mở rộng đợc thị trờng kinh doanh của mình và có lãi ?
Chính vì nhận thấy sự bức xúc của vấn đề, đồng thời trong thời gian thực tập
và nghiên cứu tại Ngân hàng Ngoại thơng Việt nam, em nhận thấy hoạt động kinh
doanh ngoại tệ ở Ngân hàng Ngoại thơng Việt Nam diễn ra rất đa dạng nên em đã
chọn đề tài Giải pháp thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Ngân hàng
Ngoại thơng Việt Nam .
1
Về kết cấu, em chia đề tài thành 3 phần nh sau:
CHƯƠNG I: Những vấn đề cơ bản về kinh doanh ngoại tệ
tại NHTM
CHƯƠNG II: Thực trạng hoạt động kinh doanh ngoại tệ
tại NHNTVN
CHƯƠNGIII: Giải pháp thúc đẩy hoạt động kinh doanh
ngoại tệ tại NHNT
- Giúp ngời bán và ngời mua gặp nhau khi họ có nhu cầu mua hay bán ngoại
tệ.
2. Đặc điểm của thị trờng hối đoái
- Xét về phạm vi toàn thế giới, thị trờng hối đoái hoạt động liên tục 24/24
giờ do sự chênh lệch múi giờ trên thế giới (trừ các ngày nghỉ).
- Là thị trờng mang tính quốc tế cao.Hiện nay do sự phát triển mạnh mẽ của
các phơng tiện thông tin liên lạc nh : Điện thoại, Telex, Fax từ đó tạo điều kiện
cho các cuộc đàm thoại giao dịch mua bán ngoại tệ đợc nhanh chóng và thông suốt
trên khắp thế giới. Do đó các thị trờng hối đoái đang mở cửa đều có thể liên lạc với
nhau, từ đó dẫn đến việc quốc tế hóa các đồng tiền yết giá. Cụ thể là tỷ giá hối đoái
3
trên các thị trờng không chênh lệch nhau quá lớn. Điều này giải thích với chúng ta tại
sao tỷ giá đóng cửa ngày hôm nay khác với tỷ giá mở cửa ngày hôm sau trên cùng
một thị trờng.
3. Các thành viên tham gia trên thị trờng hối đoái
Về nguyên tắc, những ai muốn đổi một đồng tiền của nớc này sang đồng tiền
của nớc khác đều đợc quyền tham gia vào thị trờng hối đoái, có thể nêu lên các bên
tham gia chính nh sau:
3.1. Ngân hàng Trung ơng (NHTW)
NHTW ngoài việc chịu trách nhiệm trong việc phát hành tiền tệ, quản lý và
điều tiết sự vận động của tiền tệ, cân bằng cán cân quốc tế. NHTW còn có trách
nhiệm can thiệp vào thị trờng ngoại hối để bình ổn đồng tiền bản xứ so với đồng tiền
nớc ngoài thông qua các chính sách hoạt động công khai trên thị trờng hối đoái. Với
sự can thiệp của NHTW, cung và cầu ngoại tệ luôn đợc giữ ở trạng thái cân bằng và
tỷ giá hối đoái tránh đợc những biến động lớn, gây ảnh hởng bất lợi cho nền kinh tế.
3.2. Ngân hàng th ơng mại (NHTM)
Các NHTM là thành phần đông đảo và quan trọng nhất trên thị trờng hối đoái,
là thành phần chủ yếu tạo ra thị trờng mua bán ngoại tệ. Với chức năng trung gian,
các NHTM mua bán ngoại tệ để hỗ trợ cho các khách hàng là những Công ty hoạt
động trong lĩnh vực thơng mại và dịch vụ quốc tế.
5
NHTW
NHTMTW NHTMTWNhà môi giới
CNNHTM CNNHTMCNNHTM
Khách hàng Khách hàngKhách hàng
II. Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHTM
1. NHTM và hoạt động của NHTM trong nền kinh tế
1.1. Định nghĩa NHTM
Theo Luật Ngân hàng và tổ chức tín dụng ngày 12/11/1997: Ngân hàng Thơng
mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thờng xuyên là nhận
tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay,
thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm phơng tiện thanh toán.
1.2. Các hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM
Qua khái niệm về NHTM trên, ta thấy NHTM là một loại hình ngân hàng đặc
biệt trong nền kinh tế thị trờng, có các hoạt động kinh doanh chính sau:
- Huy động vốn bằng việc nhận tiền gửi tiết kiệm và phát hành các chứng chỉ
tiền gửi khác
- Tín dụng ngắn, trung và dài hạn
- Phục vụ nhu cầu thanh toán của khách hàng.
- Các nghiệp vụ khác nh kinh doanh ngoại tệ, kinh doanh vàng, bạc, đá quý,
các dịch vụ t vấn, bảo quản và quản lý tài sản khách hàng
6
2. Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHTM
Kinh doanh ngoại tệ là hoạt động lâu đời nhất của NHTM, nó ra đời và phát
triển cùng với sự phân công lao động và hợp tác quốc tế. Cùng với xu thế hợp tác và
quốc tế hóa kinh tế ngày càng mở rộng, hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHTM
sẽ không ngừng phát triển và trở thành một trong những hoạt động không thể thiếu
của một ngân hàng hiện đại.
2.1.Khái niệm về hoạt động kinh doanh ngoại tệ
- Kinh doanh ngoại tệ theo nghĩa rộng bao gồm việc mua bán ngoại tệ, đảm
ảnh hởng rất quan trọng tới kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng.
Ví dụ trong việc tạo nguồn, nếu ngân hàng có nhiều khách hàng xuất khẩu có
nguồn thu ngoại tệ lớn và ổn định thì đây là điều kiện rất thuận lợi cho ngân hàng để
có đợc nguồn vốn ngoại tệ trực tiếp. Nguồn này rõ ràng có đợc chi phí thấp hơn so
với việc huy động từ các NHTM khác hoặc mua trên thị trờng. Hoặc để hoạt động tín
dụng ngoại tệ của ngân hàng có hiệu quả,trớc hết khách hàng doanh nghiệp phải
có đợc những dự án sinh lời. Sau đó , chữ tín của doanh nghiệp trong vay trả nợ ngân
hàng cũng là yếu tố quan trọng ảnh hởng tới chất lợng tín dụng ngoại tệ. Còn hoạt
động mua bán ngoại tệ theo nghiệp vụ khách hàng cũng xuất phát từ nhu cầu khách
hàng. Số lợng khách hàng, quy mô của khách hàng tham gia vào thơng mại quốc tế
có lớn hay không để tạo nên sự sôi động của hoạt động này trong ngân hàng.
Nh vậy, khách hàng của Ngân hàng có một ý nghĩa quan trọng với việc mở
rộng, phát triển hoạt động kinh doanh ngoại tệ trong Ngân hàng.
3. Các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ của NHTM.
a. Nghiệp vụ hối đoái giao ngay (Spot)
8
Nghiệp vụ hối đoái giao ngay đợc thể hiện bằng hợp đồng mua bán ngoại tệ
giao ngay trong đó việc cung ứng các đồng tiền chuyển đổi đợc thực hiện chậm nhất
là hai ngày làm việc kể từ khi hợp đồng đợc ký kết. Tỷ giá thanh toán ngay trong th-
ơng mại quốc tế gọi là Spot-Rates.
Kỹ thuật giao dịch có thể thực hiện bằng điện thoại, hệ thống màn hình
(computer), bằng điện báo và trên các Sở giao dịch chứng khoán thực hiện băng kỹ
thuật màn hình thực chất là thực hiện qua hệ thống thông tin điện tử, tức là việc thỏa
thuận hay các hợp đồng đợc thực hiện thông qua hệ thống money deating. Thông
qua hệ thống này, các ngân hàng có thể trực tiếp quan hệ với nhau qua các hợp đồng
thơng mại. Việc chuyển thông tin đợc thực hiện bằng bàn phím với những ký tự điện
tử và thông tin sẽ xuất hiện trên màn hình. Đồng thời, một máy in đợc nối mạng với
hệ thống sẽ in lại thành biên bản thông tin đợc chuyển đi. Hệ thống này có u điểm so
vơi hinh thức điện thoại là việc ghi nhận các thỏa thuận bằng văn bản, khắc phục đợc
cả lỗi lầm thờng gặp trong giao dịch điện thoại khi nghe nhầm, viết nhầm. Vì thế, hệ
mua, hợp đồng bán ngoại tệ có kỳ hạn, các ngân hàng vừa đáp ứng nhu cầu của
khách hàng, vừa tránh đợc trạng thái ngoại tệ mở đầy rủi ro đối với ngân hàng khi
tình trạng số d tài khoản kinh doanh ngoại hối của một ngân hàng ở mức không cân
bằng.
d. Nghiệp vụ hối đoái t ơng lai (Future)
Thị trờng ngoại tệ giao sau là thị trờng giao dịch các hợp đồng mua bán ngoại
tệ giao sau, gọi tắt là hợp đồng giao sau. Hợp đồng giao sau là một thỏa thuận mua
bán một số lợng ngoại tệ đã biết theo tỷ giá cố định tại thời điểm hợp đồng có hiệu
lực và việc chuyển giao ngoại tệ đợc thực hiện vào một ngày trong tơng lai. Thị trờng
giao sau thực chất chính là thị trờng kỳ hạn đợc tiêu chuẩn hóa về ngoại tệ giao
dịch,số lợng ngoại tệ giao dịch và ngày chuyển giao ngoại tệ.
10
Các hợp đồng giao sau thờng có tính thanh khoản cao hơn hợp đồng có kỳ hạn
vì phòng giao hoán đã sẵn sàng đứng ra đảo hợp đồng bất cứ khi nào có một bên
yêu cầu. Khi đảo hợp đồng thì hợp đồng cũ bị xóa bỏ và hai bên thanh toán cho nhau
phần chênh lệch giá trị tại thời điểm đảo hợp đồng. Đặc điểm này khiến cho hầu hết
các hợp đồng giao sau đợc thực hiện thông qua chuyển giao ngoại tệ vào ngày đến
hạn.
Tỷ giá trong các hợp đồng giao sau là tỷ giá giao ngay dự đoán tại thời điểm
hợp đồng đáo hạn.
e. Nghiệp vụ hoán đổi tiền tệ hoặc cầm cố tiền tệ(Swap)
Nghiệp vụ hoán đổi tiền tệ (cầm cố tiền tệ) là tổng hợp của hai nghiệp vụ giao
ngay và kỳ hạn.
Đây là nghiệp vụ giao ngay (Spot) ngoại tệ Arbitrage để đổi lấy ngoại tệ B, sau
khi mua lại kỳ hạn ngoại tệ Arbitrage và trả ngoại tệ B (Forward). Nguyên tắc tính tỷ
giá của nghiệp vụ này cũng tơng tự nghiệp vụ kỳ hạn, dựa vào sự chênh lệch lãi suất
của hai đồng tiền.
Nghiệp vụ hoán đổi đợc sử dụng để cân đối nguồn vốn thanh toán tức thời.
Nghiệp vụ hoán đổi có ảnh hởng lớn đến hoạt động phòng ngừa và rủi ro, nó cho
phép các công ty đột phá vào các thị trờng vốn mới và tận dụng những u thế của nó
đến hạn.
4. Các nhân tố ảnh hởng tới hoạt động kinh doanh ngoại tệ của
NHTM .
4.1.Chính sách tỷ giá:
Chính sách tỷ giá là một bộ phận của chính sách tiền tệ có nhiệm vụ đảm bảo
ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát, góp phần tăng tính kinh tế ở mức độ cao, bền
vững. Một chính sách tỷ giá có hiệu quả phải đảm bảo tính ổn định tỷ giá trên mối
12
quan hệ tơng quan cung cầu trên thị trờng, khuyến khích đợc xuất khẩu, cải thiện cán
cân thanh toán quốc tế và tăng dự trữ ngoại tệ quốc gia.
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ gắn liền với sự biến động tỷ giá trên thị trờng,
vì vậy chịu ảnh hởng trực tiếp từ chính sách tỷ giá của nhà nớc.
4.2. Chính sách quản lý ngoại hối quốc gia:
Chính sách quản lý ngoại hối quốc gia là những quy định pháp lý, những thể lệ
của Nhà nớc trong vấn đề quản lý ngoại tệ, quản lý vàng, bạc, đá quý và các chứng từ
có giả trị ngoại tệ cũng nh việc trao đổi, sử dụng, mua bán ngoại tệ trên thị trờng nội
địa và quan hệ thanh toán, tín dụng với nớc ngoài.
Nội dung của chính sách quản lý ngoại hối là quản lý và kiểm soát các luồng
vận động của ngoại hối từ nớc ngoài vào và từ trong nớc ra, có liên quan đến quan hệ
ngoại thơng và các quan hệ kinh tế đối ngoại khác bằng ngoại tệ. Đồng thời, chính
sách quản lý ngoại hối cũng quản lý và kiểm soát lu thông ngoại hối (đặc biệt là
ngoại tệ) trong phạm vi quốc gia.
Nh vậy, một chính sách quản lý ngoại hối đúng đắn sẽ góp phần khuyến khích
ngoại thơng, hợp tác quốc tế, thu hút đầu t nớc ngoài từ đó sẽ thúc đẩy hoạt động
kinh doanh tiền tệ của ngân hàng phát triển.
4.3. Sự phát triển kinh tế chung của đất nớc
Thực tế cho thấy, ở những nớc có nền kinh tế phát triển thì hoạt động kinh
doanh ngoại tệ cũng rất phát triển. Bởi vì hoạt động này gắn liền với hoạt động ngoại
thơng, dịch vụ quốc tế, đầu t quốc tế, chuyển giao công nghệ kỹ thuật quốc tếvà
nhiều hoạt động kinh tế khác. Mỗi hoạt động là một bộ phận của nền kinh tế, chúng
những rủi ro phát sinh vào thời gian hết hạn hợp đồng. Nghiêm trọng hơn là trong tr-
ờng hợp các bên tham gia hợp đồng cũng là ngân hàng phá sản vào ngày đến hạn
thanh toán và sau khi các bớc đầu tiên của giao dịch đã hoàn tất. Rủi ro này sẽ đợc
14
giảm bớt nếu các giao dịch với khách hàng không bị hạn chế, việc tìm hiểu thông tin
về khách hàng đợc thực hiện tốt và các điều khoản hợp đồng phù hợp.
c. Rủi ro tính lỏng: Rủi ro này là rủi ro về luân chuyển vốn ngân hàng. Có thể gặp
rủi ro này bởi vì nhân viên kinh doanh ngoại tệ đầu t các khoản vốn với thời hạn dài
hạn của các khoản cho vay đó. Khi có sự luân chuyển vốn không phù hợp về thời
gian đáo hạn, tỷ lệ lãi suất có thể tăng và do đó ngân hàng sẽ bị lỗ, ngợc lại, lãi suất
giảm thì nhân viên kinh doanh đã đem lại một khoản lãi cho ngân hàng. Giải pháp
của ngân hàng là phải nắm vững thông tin, có kế hoạch luân chuyển nhiều nguồn
ngoại tệ khác nhau để đảm bảo luôn có thể thanh toán vào thời điểm thanh toán của
tng loại ngoại tệ cụ thể.
d. Rủi ro căn bản : Rủi ro này xảy ra khi ngân hàng hoạt động trên thị trờng giao
sau bởi có rủi ro giữa sự chênh lệch tỷ giá giao sau với tỷ giá giao ngay vào thời điểm
tới hạn hợp đồng giao sau. Trong hợp đồng mua ngoại tệ, nếu tỷ giá giao ngay trong
tơng lai lớn hơn tỷ giá trong hợp đồng thì ngân hàng sẽ đợc lợi, còn ngợc lại ngân
hàng sẽ phải chịu một khoản lỗ. Rủi ro này là rủi ro của thị trờng mà ngân hàng
không thể tránh khỏi. Nó sẽ đợc hạn chế ngân hàng có hệ thống thu thập thông tin xử
lý, đa ra các dự đoán về tỷ giá sát với thực tế. Tuy nhiên ngân hàng vẫn luôn phải lập
một quỹ phòng ngừa để bù đắp những thiệt hại do rủi ro này gây ra.
e. Rủi ro hoạt động: Rủi ro này liên quan đến hoạt động kinh doanh của ngân
hàng nh : thanh toán chậm,sai số lợng, sai đối tợng, không tuân thủ các hớng dẫn về
thanh toán, ngoài các khoản tiền phạt còn có các khoản tổn thất khác mà tự ngân
hàng phải gánh chịu,rủi ro này có thể hạn chế bằng cách xác định và thực hiện một
cách chính xác các nhiệm vụ đặt ra : xác định trách nhiệm của từng phòng ban, từng
nhân viên, của việc yết giá, của bộ phận kế toán các nghiệp vụ kinh doanh
Thực tiễn đã cho thấy, công tác quản lý rủi ro hối đoái đóng vai trò quan trọng
trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHTM. Tăng cờng quản lý rủi ro hối đoái
của Ngân hàng không chỉ đóng khung trong những nghiệp vụ Ngân hàng đối ngoại
mà bao gồm cả dịch vụ Ngân hàng đối nội, đầu t tín dụng không chỉ ngắn hạn đơn
thuần mà cả trung và dài hạn, không chỉ đầu t cho kinh tế quôc doanh mà đã mở rộng
ra cả khu vực ngoài quốc doanh.
Công cuộc đổi mới của NHNT bớc đầu đã thu đợc những kết quả đáng khích
lệ nhờ có những chu trơng chính sách đúng đắn, phù hợp với tình hình kinh tế của đất
nớc theo từng giai đoạn sau đây:
17
Giai đoạn 1:
Bắt đầu từ năm 1988 thi hành Nghị định của Hội đồng Bộ trởng ( Nay là Hội
đồng chính phủ ) số 53/HĐBT ngày 26/3/1988 về tổ chức bộ máy Ngân hàng Việt
Nam đã có những nghiên cứu, kiến nghị nội dung và phơng hớng đổi mới các hoạt
động của Ngân hàng. Nhng trên thực tế, VCB vẫn là trung tâm tín dụng và thanh toán
quốc tế, quản lý phần lớn ngoại tệ của quốc gia. Vốn điều lệ của Ngân hàng vẫn cha
đợc xác lập.
Giai đoạn 2:
Từ sau khi có các pháp lệnh về Ngân hàng (ban hành ngày 24/5/1990) chức
năng quản lý Nhà nớc và chức năng kinh doanh trong ngành Ngân hàng đợc phân
định. Ngân hàng Ngoại thơng thực sự đổi mới trong mọi lĩnh vực về phơng thức quản
lý kinh doanh, về bộ máy tổ chức, về phong cách, lề lối, tác phong phục vụ khách
hàng. Nhng quan trọng nhất là đổi mới về cơ chế tài chính và bộ máy điều hành.
*Cơ chế tài chính:
- Ngân hàng Ngoại thơng đã chuyển giao cho ngân sách nhà nớc toàn bộ
nguồn vốn thuộc ngân sách quốc gia, kể cả các khoản vay nợ viên trợ của nớc ngoài.
- Chuyển giao cho Ngân hàng Nhà nớc toàn bộ vốn bằng tiền và bằng hiện vật
thuộc nguồn vốn dụ trũ của Ngân hàng Nhà nớc.
- Ngân hàng Ngoại thơng hoạt động bằng vốn điều lệ do Nhà nớc cấp, vốn tự
có do tích lũy và vốn vay, tự chịu trách nhiệm về tài chính.
*Bộ máy tổ chức:
Chuyển sang kinh doanh, Ngân hàng Ngoại thơng có bộ máy tổ chức độc lập.
Công ty tài chính, Công ty Leasing
*Chính sách khách hàng và bạn hàng dài hạn
19
- Ngân hàng Ngoại thơng Việt nam đã hớng u tiên vào các doanh nghiệp làm ăn
có hiệu quả.
- Đặc biệt, Ngân hàng Ngoại thơng Việt nam đã vận dụng linh hoạt Giữa quy
định của nhà nớc với quy trình nghiệp vụ để đảm bảo quyền lợi cho khách hàng nh:
khách hàng gửi tiết kiệm có kỳ hạn, nếu có nhu cầu rút trớc hạn thì đợc hởng mức lãi
suất không kỳ hạn cho số ngày thực gửi. Nhng khách hàng gửi đợc 2/3 thời gian thì
sẽ đợc hởng 75% lãi suất có kỳ hạn cho số ngày thực gửi.
- Tác phong giao dịch với khách hàng vui vẻ, hòa nhã, tân tình đã tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp, bạn hàng tổ chức tốt hoạt động kinh doanh.
*Chính sách đầu t năng động:
Do nguồn vốn tăng trởng, do nhu cầu vốn của nền kinh tế ngày càng đòi hỏi
lớn, Ngân hàng Ngoại thơng đã đầu t vào các ngành mũi nhọn lớn nh: dầu khí, viễn
thông, hàng không, làm đại lý cho các công ty bảo hiểm nh PJCO, PRUDENTIAL.
*Chính sách kinh doanh đa dạng
Ngân hàng Ngoại thơng Việt nam đã mở rộng hoạt động ra nhiều lĩnh vực để
khai thác lợi nhuận nh: thành lập các công ty trực thuộc, góp cổ phần vào các công
ty lớn, tham gia mua tín phiếu kho bạc, đồng tài trợ và bảo lãnh tín dụng
*Ap dụng công nghệ tiên tiến:
Công nghệ của Ngân hàng Ngoại thơng Việt nam đã đợc đánh dấu bởi những
kết quả hết sức nổi bật trong lĩnh vực triển khai ứng dụng đồng loạt những sản phẩm
mới trên nền tảng ứng dụng công nghệ, tạo ra bớc bứt phá mạnh mẽ trong lộ trình
phát triển của Ngân hàng Ngoại thơng.
Hệ thống VCB onlai- mạnh trực tuyến của Ngân hàng Ngoại thơng Việt namđ-
ợc kết nối trong toàn hệ thống , hỗ trợ cho các sản phẩm ngân hàng khác, phù hợp
với các yêu cầu đặc thù của hệ thống ngân hàng Việt nam. Hệ thống Ngân hàng điện
tử(E- banking)tiếp tục đợc triển khai và hoàn thiện, cung cấp sản phẩm E-banking
cho từng đối tợng khách hàng và trả lơng qua mạng Internet. Ngân hàng ngoại thơng
năng động nhiệt tình và tinh thông nghiệp vụ.
Sơ đồ tổ chức
22
Trụ sở chính
Phòng kiểm tra nội bộ
Phòng quản lý tín dụng
Phòngđầutư&chứngkhoán
Phòng công nợ
Phòng khách hàng
Phòng Kế toánTài chính
Phòng Kế toán quốc tế
Phòng quản lý thẻ
Trung tâm thanh toán
Trung tâm tin học
Phòng QL đề án công nghệ
Phòng tổng hợp thanh toán
PhòngTH&Phân tích KT
Phòng vốn
Phòng Quan hệ Quốc tế
Phòng QLLD&VPđại diện
Phòng Tín dụng quốc tế
Phòng tổ chức CB & ĐT
Văn phòng
Phòng Quản trị
Phòng Báo chí
Phòng pháp chế
Phòng Thông tin tín dụng
Mạng lưới nước ngoài
Mạng lưới trong nước
Sở giao dịch Các chi nhánh Các công ty con
động vốn ngoại tệ bắt đầu từ năm 2001 khi Fed bắt đầu giảm lãi suất chỉ đạo từ mức
6,5%/năm và tiếp tục khó khăn hơn trong năm 2002, khi lãi suất giảm xuống mức
1,25%.
Biểu 1. Tình hình nguồn vốn
Đơn vị : Tỷ đồng
Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002
24
46
40
34
38
20
19
16
39
47
0%
20%
40%
60%
80%
100%
nm 2000 nm 2001 nm 2002
vốn từ LNH
vốn từ TK
vốn từ TCKT
Tổng nguồn
Tăng trởng tuyệt đối
Tăng trởng %
65.631
6.799
33,2
Tỷ trọng 25,39 26,64 33,60
b) Huy động vốn.
Cơ cấu nguồn vốn quy đồng của NHNT năm 2000-2002
- - Tính đến 31/12/2002 tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng ngoại thơng
mại đạt mức 72700 tỷ; Cơ cấu nguồn vốn thay đổi theo xu hớng tăng tỷ trọng nguồn
vốn huy động từ dân c từ 34% năm 2001 lên 38% năm 2002, giảm tỷ trọng nguồn
vốn huy động từ LNH xuống còn 16% so với 19% của năm 2001. Nh vậy, tính ổn
định của nguồn vốn đã thay đổi theo chiều hớng thuận, song giá vốn đầu vào cũng
tăng lên.
- Tốc độ tăng trởng huy động vốn ngoại tệ và vốn VND ở hai trạng thái trái
ngợc nhau. Đối với vốn VND có tốc độ tăng trởng khá cao, đạt mức 33% (tăng gần
gấp 2 lần so với năm trớc) làm thay đổi tỷ trọng cơcấu nguồn vốn VND: ngoại tệ lên
25