Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
1
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CAM ĐOAN
Chuyên đề thực tập chuyên ngành với đề tài: "Giải
pháp nâng cao sức cạnh tranh mặt hàng may của
công ty Sản xuất - Xuất nhập khẩu Dệt may trên thị
trường EU" là công trình nghiên cứu của em với sự
hướng dẫn tận tình của TS. Tạ Văn Lợi. Chuyên đề
không sao chép từ bất kỳ một Chuyên đề thực tập hay
khóa luận tốt nghiệp nào mà các tài liệu đó chỉ được sử
dụng là tài liệu tham khảo. Các số liệu, tài liệu sử dụng
trong chuyên đề đều trung thực và có nguồn gốc rõ
ràng.
Nếu những điều trên đây không đúng sự thật, em
xin chịu trách nhiệm hoàn toàn.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU......................................................................................................1
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH, SỨC CẠNH
TRANH CỦA HÀNG HOÁ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO SỨC
CẠNH TRANH MẶT HÀNG MAY CỦA CÔNG TY SẢN XUẤT-XUẤT
NHẬP KHẨU DỆT MAY TRÊN THỊ TRƯỜNG EU ......................................
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1: Sơ đồ tổ chức bộ máy sản xuất và quản trị của công ty....................34
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
tranh hàng may của công ty trên thị trường EU.
* Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu là lý luận và thực tiễn sức cạnh tranh hàng may
của công ty trên thị trường EU.
- Phạm vi nghiên cứu là tập trung vào thực trạng sức cạnh tranh hàng may
mặc của công ty trên thị trường EU và các giải pháp để nâng cao sức cạnh tranh
của hàng may mặc cho công ty trên thị trường, đồng thời đưa ra một số kiến
nghị đối với chính phủ và các bộ ngành liên quan.
- Thời gian nghiên cứu là từ năm 2003 đến năm 2006.
* Phương pháp nghiên cứu.
Nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận duy vật biện chứng, phương pháp thống
kê, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh.
* Bố cục của chuyên đề.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các bảng biểu, danh mục tài liệu
tham khảo và mục lục chuyên đề chia làm ba chương:
Chương I: Lý luận chung về cạnh tranh, sức cạnh tranh của hàng hoá
và sự cần thiết phải nâng cao sức cạnh tranh mặt hàng may của công ty Sản
xuất-Xuất nhập khẩu dệt may trên thị trường EU
Chương II: Thực trạng nâng cao sức cạnh tranh mặt hàng may của
công ty trên thị trường EU
Chương III: Phương hướng và giải pháp nâng cao sức cạnh tranh mặt hàng
may của công ty Sản xuất-Xuất nhập khẩu dệt may trên thị trường EU
4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH, SỨC CẠNH
TRANH CỦA HÀNG HOÁ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO SỨC
CẠNH TRANH MẶT HÀNG MAY CỦA CÔNG TY SẢN XUẤT-XUẤT
NHẬP KHẨU DỆT MAY TRÊN THỊ TRƯỜNG EU
1.1 Cạnh tranh hàng hoá
1.1.1 Khái niệm cạnh tranh hàng hoá
1.1.2 Vai trò, chức năng của cạnh tranh hàng hoá
1.1.2.1 Vai trò của cạnh tranh hàng hóa
Trong nền sản xuất hàng hoá, cạnh tranh đóng vai trò to lớn nó buộc con
người sản xuất kinh doanh phải thường xuyên cải tiến kỹ thuật, áp dụng công
nghệ mới nhạy bén năng động và tổ chức quản lý có hiệu quả. Do đó, cạnh tranh
hàng hoá có những vai trò sau:
Thứ nhất: Cạnh tranh hàng hoá là động lực cho sự phát triển kinh tế, là
cách hữu hiệu nhất tối đa hoá lợi ích của cả doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Một mặt nó loại bỏ những doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả ra khỏi thị
trường, mặt khác nó tạo điều kiện cho các doanh nghiệp làm ăn tốt có cơ hội
phát triển. Cạnh tranh hàng hoá là sự thay thế các doanh nghiệp sử dụng lãng
phí nguồn lực, gây tổn hại cho nhà nước và xã hội bằng các doanh nghiệp hoạt
động hiệu quả đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của xã hội.
Thứ hai: Cạnh tranh hàng hoá làm cho tiêu dùng gắn liền với sản xuất, do
cạnh tranh mà ngày nay các doanh nghiệp phải tìm hiểu nghiên cứu nhu cầu để
từ đó đáp ứng nhu cầu một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất. Sản xuất với năng
suất chất lượng ngày càng tăng giúp người tiêu dùng có thể tiêu dùng những
hàng hoá có chất lượng cao với giá có thể chấp nhận được, chủng loại phong
phú. Khi đó, nhu cầu của người tiêu dùng được đáp ứng ngày một tốt hơn.
Thứ ba: Cạnh tranh hàng hoá buộc các doanh nghiệp phải sử dụng tài
nguyên có hiệu quả hơn và phải áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản
xuất. Chỉ có như thế doanh nghiệp mới có thể giảm chi phí hạ giá thành để giành
thị phần với các đối thủ cạnh tranh. Áp dụng khoa học công nghệ mới không
những cho phép doanh nghiệp sử dụng nguồn lực tối ưu mà còn cho phép hiện
6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
đại hoá dây chuyền sản xuất, tăng năng suất góp phần tăng chất lượng hàng hoá.
1.1.2.2 Chức năng của cạnh tranh hàng hoá
Chức năng sử dụng các nguồn tài nguyên một cách tối ưu: Bởi vì cạnh
tranh làm cho tài nguyên chuyển đến những nơi mà chúng được sử dụng với
tự hạn chế vai trò hỗ trợ. Trước khi hành động, Chính phủ phải cân nhắc xem có
cần thiết hay không, bởi vì không có lý do gì để Chính phủ can thiệp vào những
nơi cạnh tranh có hiệu quả, theo nghĩa này thì cạnh tranh cũng làm hạn chế sức
mạnh chính trị.
Chức năng tự do lựa chọn và hành động của cá nhân: Sự cạnh tranh có
hiệu quả tạo ra quyền tự do tối đa cho sự lựa chọn và hành động của từng doanh
nghiệp tham gia vào các hoạt động kinh doanh.
1.1.3 Phân loại cạnh tranh hàng hoá
Hiện nay, tuỳ theo các giác độ nghiên cứu mà các nhà kinh tế đã phân loại
cạnh tranh hàng hóa thành các loại rất khác nhau.
1.1.3.1 Căn cứ vào mức độ tích chất cạnh tranh trên thị trường
Nếu căn cứ vào mức độ tích chất của cạnh tranh trên thị trường thì có thể
phân loại cạnh tranh hàng hóa thành các loại cạnh tranh sau:
Thứ nhất: Cạnh tranh hoàn hảo: Là hình thức cạnh tranh mà trên thị
trường có nhiều người bán và không có người nào có ưu thế để cung cấp một số
lượng hàng hoá quan trọng mà có thể ảnh hưởng tới giá cả. Các hàng hoá làm ra
được người mua xem là đồng nhất tức là ít có sự khác biệt về quy cách phẩm
chất mẫu mã. Người bán tham gia trên thị trường chỉ có cách thích ứng với giá
cả trên thị trường, họ chủ yếu tìm cách giảm chi phí và sản xuất một mức hàng
hoá đến mức giới hạn mà tại đó chi phí cận biên bằng doanh thu cận biên.
Thứ hai: Cạnh tranh không hoàn hảo: Là cuộc cạnh tranh trên thị trường
mà phần lớn hàng hoá là không đồng nhất với nhau, mỗi hàng hoá có thể có
nhiều nhãn hiệu khác nhau. Mỗi nhãn hiệu đều mang hình ảnh hay uy tín khác
nhau mặc dù khác biệt giữa các hàng hoá là không đáng kể. Người bán lôi kéo
khách hàng về phía mình bằng nhiều cách như quảng cáo, dịch vụ bán hàng, tín
dụng ưu đãi… Đây là loại hình cạnh tranh phổ biến trong giai đoạn hiện nay.
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Thứ ba: Cạnh tranh độc quyền: Là cạnh tranh trên thị trường mà ở đó chỉ
có một số người bán hàng hoá thuần nhất. Họ có thể kiểm soát gần như toàn bộ
của mình với giá cao nhất, còn người mua lại muốn mua ở mức giá thấp nhất.
Sự cạnh tranh này được thực hiện thông qua quá trình “mặc cả” với giá chấp
nhận là giá thoả thuận giữa người bán và người mua.
Thứ hai: Cạnh tranh giữa những người mua: Là cuộc cạnh tranh trên cơ sở
quy luật cung cầu. Khi cung một loại hàng hoá dịch vụ nào đó nhỏ hơn mức cầu
thì cuộc cạnh tranh sẽ diễn ra quyết liệt hơn. Gía cả hàng hoá và dịch vụ đó sẽ
tăng nhanh. Kết quả cuối cùng là người bán thu được lợi nhuận cao, tuy nhiên
người mua lại phải chịu thiệt thòi.
Thứ ba: Cạnh tranh giữa những người bán: Là cuộc cạnh tranh gay go và
quyết liệt nhất. Cuộc cạnh tranh này thường diễn ra trong trường hợp cung lớn
hơn cầu. Khi đó, những người bán sẽ cạnh tranh gay gắt với nhau nhằm làm tăng
lượng hàng hoá tiêu thụ của doanh nghiệp mình. Thực chất cạnh tranh giữa các
chủ doanh nghiệp là sực giành giật các lợi thế trong sản xuất và tiêu thụ hàng
hoá, dịch vụ nhằm thu được lợi nhuận lớn nhất.
1.2 Sức cạnh tranh của hàng hoá
1.2.1 Khái niệm sức cạnh tranh của hàng hoá
Một hàng hoá được coi là có sức cạnh tranh và có thể đứng vững khi có
mức giá thấp hơn hoặc khi cung cấp các hàng hoá tương tự với chất lượng hay
dịch vụ ngang bằng hoặc cao hơn.
Theo lý thuyết thương mại truyền thống, sức cạnh tranh được xem qua lợi
thế so sánh về chi phí sản xuất và năng suất lao động.
Theo M.Porter, sức cạnh tranh phụ thuộc vào khả năng khai thác các năng
lực độc đáo của mình để tạo ra hàng hoá có giá phí thấp và sự khác biệt của
hàng hoá.
Muốn nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp cần phải xác định lợi thế
cạnh tranh của mình. Lợi thế cạnh tranh của hàng hoá được hiểu là những thế
mạnh mà hàng hoá có hoặc có thể huy động để đạt thành công trong cạnh tranh.
Trên thực tế có hai nhóm lợi thế cạnh tranh của hàng hoá bao gồm:
10
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
vì vậy nói đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là phải nói đến sức cạnh
tranh của hàng hóa.
Sức cạnh tranh của hàng hoá được nhận biết qua lợi thế cạnh tranh của
hàng hoá đó với các hàng hoá khác cùng loại. Lợi thế của hàng hoá bao gồm
nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài tác động đến. Đó là giá cả, chất lượng, hình
thức, chủng loại hàng hoá…Doanh nghiệp được đánh giá là tạo ra hàng hoá có
sức cạnh tranh khi hàng hoá đó có chi phí/ 1đơn vị thấp hơn, hàng hoá có chất
lượng cao hơn so với đối thủ cạnh tranh. Còn nếu so sánh với các hàng hoá cùng
loại mà doanh nghiệp nhập khẩu thì yếu tố lợi thế cạnh tranh được thể hiện
không chỉ qua giá bán, chất lượng hàng hoá mà còn là thương hiệu, nguồn gốc
xuất xứ của hàng hóa.
Qua các khái niệm trên, có thể thấy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
và sức cạnh tranh của hàng hoá có mối quan hệ mật thiết, phụ thuộc vào nhau,
tạo điều kiện cho nhau phát triển. Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao
phải có hàng hoá có sức cạnh tranh vì biểu hiện năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp là tạo ra những hàng hoá có sức hút lớn với người tiêu dùng. Như
vậy,sức cạnh tranh của hàng hoá là cốt lõi năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp. Còn một hàng hoá có sức cạnh tranh trên thị trường nhất là trong môi
trường quốc tế như hiện nay, thì cả doanh nghiệp và Chính phủ cùng phải phát
hiện, nuôi dưỡng, phát huy các lợi thế của hàng hoá đó.
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới sức cạnh tranh của hàng hoá
Hàng hoá là sản phẩm trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, vì vậy, các nhân tố ảnh hưởng tới sức cạnh tranh của doanh nghiệp cũng
là những nhân tố ảnh hưởng tới sức cạnh tranh của hàng hóa.
1.2.3.1 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội thì môi trường bên ngoài doanh
nghiệp luôn luôn biến đổi và đã ảnh hưởng không nhỏ đến sức cạnh tranh của
hàng hoá của doanh nghiệp. Những nhân tố bên ngoài doanh nghiệp có thể là
các nhân tố thuộc tầm vĩ mô ngoài ngành mà doanh nghiệp tham gia kinh doanh,
Thứ hai: Các nhân tố vi mô
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Theo các trường phái kinh tế trước đây thì các nhà nghiên cứu coi các nhân
tố ảnh hưởng đến cạnh tranh bao gồm chủ thể là chính phủ, doanh nghiệp, cá
nhân tham gia cạnh tranh. Nhưng theo M. Porter thì có 5 lực lượng tác động đến
cạnh tranh của doanh nghiệp đó là các nhân tố cạnh tranh liên quan đến cùng
một ngành của doanh nghiệp như về khách hàng, nhà cung ứng, hay đối thủ
cạnh tranh trực tiếp đang và sẽ tham gia vào lĩnh vực kinh doanh của doanh
nghiệp như đối thủ cạnh tranh tiềm tàng, đối thủ cạnh tranh hiện tại và các sản
phẩm thay thế. Để tìm hiểu về các nhân tố này ảnh hưởng như thế nào đến sức
cạnh tranh của hàng hoá chúng ta đi phân tích mô hình 5 nhân tố của M.Porter
Mô hình cạnh tranh 5 nhân tố của M. Porter
Nguồn: Giáo trình quản trị dự án và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
FDI( tập 2)
Đối thủ cạnh tranh hiện tại
Các đối thủ cạnh tranh hiện tại là những công ty, doanh nghiệp đang hoạt
động kinh doanh trong một ngành công nghiệp nhất định, những công ty, doanh
nghiệp này đã vượt qua được những rào cản để xâm nhập vào ngành hoặc những
hãng muốn rút lui khỏi ngành nhưng chưa có cơ hội.
Khi phân tích các đối thủ cạnh tranh hiện tại, chúng ta cần tìm hiểu được
bốn vấn đề cơ bản sau: (1) mục đích tương lai, (2) các nhận định, (3) các tiềm
năng và (4) chiến lược hiện tại của đối thủ cạnh tranh.
Sản phẩm thay
thế
Nhà cung ứng Khách hàng
Đối thủ tiềm tàng
Đối thủ cạnh
tranh hiện tại
14
15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
và trình độ quản lý, khả năng về công nghệ, những cơ hội đầu tư, các quan hệ xã
hội của đối thủ,…
Những điểm mạnh, điểm yếu; cơ hội và thách thức phản ánh khả năng
thích nghi của đối thủ cạnh tranh trước những thay đổi của môi trường kinh
doanh. Nếu đối thủ cạnh tranh nào có nhiều điểm mạnh hay cơ hội thì khả năng
thíhc nghi của họ với những thay đổi của môi trường kinh doanh càng lớn và
ngược lại.
Khách hàng
Thực tế cho thấy rằng tất cả các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
đều nhằm làm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Nếu doanh nghiệp nào càng
đáp ứng tốt nhu cầu của người tiêu dùng so với các đối thủ cạnh tranh thì họ
càng nhận được sự ủng hộ và sự trung thành từ phía khách hàng.
Về mặt lý thuyết, lợi ích của khách hàng và của nhà sản xuất thường mâu
thuẫn với nhau. Khách hàng mong muốn có được những chủng loại hàng hóa và
dịch vụ với chất lượng tốt nhất và giá cả thấp nhất. Còn nhà sản xuất lại mong
muốn khách hàng trả cho những hàng hóa của họ mức giá cao.
Trong điều kiện một ngành có sự cạnh tranh gay gắt thì vai trò của khách
hàng càng trở nên quan trọng và cần được ưu tiên hơn. Một doanh nghiệp không
thể thỏa mãn được tất cả nhu cầu của các loại khách hàng. Cho nên, nhất thiết
các doanh nghiệp phải phân loại khách hàng thành các nhóm khác nhau. Trên cơ
sở đó mới tiến hành phân tích và đưa ra các chính sách thích hợp để thu hút ngày
càng nhiều khách hàng về phía mình.
Các nhà cung ứng
Các nhà cung ứng bao gồm các nhà cung cấp các yếu tố đầu vào cho hoạt
động của một số công ty, như các nhà cung cấp vốn, nguyên vật liệu cho sản
xuất, nhân công, … Các nhà cung ứng có thể gây một áp lực khá mạnh tới hoạt
động của công ty. Cho nên, việc phân tích và tìm hiểu các nhà cung ứng là vấn
đề quan trọng trong quá trình phân tích cạnh tranh.
nghiệp sẽ thay đổi. Vì vậy, doanh nghiệp cần phải tự tạo ra một hàng rào ngăn
cản sự xâm nhập của các đối thủ mới. Những hàng rào này là lợi thế sản xuất
17
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
theo quy mô, đa dạng hóa sản phẩm, sự đòi hỏi có nguồn tài chính lớn, chi phí
chuyển đổi mặt hàng cao, khả năng hạn chế xâm nhập các kênh tiêu thụ.
Sản phẩm thay thế
Sức ép do xuất hiện sản phẩm thay thế làm hạn chế lợi nhuận tiềm năng
của ngành do mức giá cao nhất bị khống chế. Nếu không chú ý đến các sản
phẩm thay thế tiềm ẩn, doanh nghiệp có thể bị tụt lại ở các thị trường nhỏ bé. Vì
vậy, các hãng không ngừng nghiên cứu và tung ra các mặt hàng thay thế.
Phần lớn các sản phẩm thay thế là kết quả của sự phát triển bùng nổ về
công nghệ trong vài thập kỷ trở lại đây. Muốn đạt được thành công, các hãng
phải luôn ứng dụng các công nghệ mới vào sản xuất.
1.2.3.3 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
Ngoài các nhân tố bên ngoài ảnh hưởng tới sức cạnh tranh của doanh
nghiệp thì các nhân tố thuộc bên trong doanh nghiệp cũng ảnh hưởng không nhỏ
tới sức cạnh tranh của hàng hoá. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp bao gồm
nguồn nhân lực, năng lực tài chính, năng lực về vật chất kỹ thuật, trình độ tổ
chức quản lý và một loạt các hoạt động Maketing, mạng lưới phân phối để đưa
sản phẩm tới khách hàng một cách tốt nhất.
Thứ nhất: Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp được chia làm ba cấp:
- Quản trị viên cấp cao: Gồm ban giám đốc và các trưởng phó phòng ban.
Đây là đội ngũ có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả sản xuất kinh doanh. Nếu họ có
trình độ quản lý cao, có nhiều kinh nghiệm kinh doanh trên thương trường, có
khả năng đánh giá và quan hệ đối ngoại tốt thì doanh nghiệp đó sẽ có sức cạnh
tranh cao và ngược lại.
- Quản trị viên cấp trung gian: Là đội ngũ trực tiếp quản lý sản xuất hàng
hoá đòi hỏi phải có kinh nghiệm công tác, khả năng ra quyết định điều hành
của hàng hoá.
Thứ tư: Trình độ tổ chức quản lý
Trình độ tổ chức quản lý thể hiện thông qua cơ cấu tổ chức, bộ máy quản
trị, hệ thống thông tin quản lý, bầu không khí và đặc biệt là nề nếp hoạt động
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp biết tập hợp sức mạnh đơn lẻ của các
thành viên và biến thành sức mạnh tổng hợp thì doanh nghiệp đó sẽ vững mạnh.
Đây là đòi hỏi của nhà quản trị cấp cao, để tạo ra một cơ cấu tốt. Một cơ cấu tốt
đồng nghĩa với việc có được một cơ cấu phòng ban hợp lý, quyền hạn và trách
nhiệm được xác định rõ ràng. Bên cạnh đó, ở mỗi phòng ban việc thực hiện tốt
nề nếp tổ chức cũng ảnh hưởng rất lớn tới phương thức thông qua quyết định
của nhà quản trị, quan điểm của họ đối với các chiến lược của doanh nghiệp.
Một nề nếp tốt có thể dẫn dắt mọi người tích cực hơn trong công việc và lôi kéo
họ vào quá trình đạt tới mục tiêu chung của doanh nghiệp.
Thứ năm: Hoạt đông Marketing
Nhiệm vụ chính của Marketing là phát triển các nhu cầu thị hiếu, nhu cầu
thị trường và hoạch định các chiến lược hữu hiệu về sản phẩm, giá cả, phân
phối phù hợp với thị trường mà doanh nghiệp đang vươn tới. Từ đó, xây dựng
mạng lưới phân phối phù hợp để đưa hàng hóa tới người tiêu dùng một cách
nhanh nhất.
Thứ sáu: Mạng lưới phân phối
Để tiêu thụ hàng hoá, doanh nghiệp cần lựa chọn các kênh phân phối, từ đó
có các chính sách phân phối sản phẩm hợp lý, hiệu quả đúng nhu cầu của khách
hàng. Tuỳ vào chủng loại hàng hoá mà doanh nghiệp xây dựng cho mình kênh
phân phối riêng cho phù hợp.
1.2.4 Các chỉ tiêu phản ánh sức cạnh tranh của hàng hoá
1.2.4.1 Nhóm chỉ tiêu định tính
Chất lượng
Chất lượng hàng hoá là hệ thống nội tại của hàng hoá được xác định bằng
cho hàng hoá.
Uy tín thương hiệu
Uy tín thương hiệu được hình thành dựa trên chất lượng, giá trị sử dụng
của hàng hoá, các dịch vụ sau bán hàng, thời gian giao hàng,… Một thương hiệu
có uy tín với khách hàng thì đồng nghĩa với việc có lợi thế trong cạnh tranh.
Khách hàng khi đó tin rằng họ đang tiêu dùng một hàng hoá có chất lượng cao,
21
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
dịch vụ sau bán hàng tốt…Do đó, hàng hoá đưa ra thị trường có thể nhanh
chóng thu hút được người tiêu dùng. Điều này sẽ giúp doanh nghiệp giảm một
phần chi phí cho việc thu hút khách hàng, khách hàng sẽ trung thành với thương
hiệu hàng hoá hơn.
1.2.4.2 Nhóm chỉ tiêu định lượng
Gía thành, giá cả
Gía thành hàng hoá là giá trị của tất cả các yếu tố đầu vào hình thành nên
hàng hoá như chi phí nguyên vật liệu, chi phí lương công nhân sản xuất… trên
cơ sở đó xác định giá cả của hàng hoá.
Gía thành sản phẩm Z = Z
1
+ Z
2
+..............+ Z
n
Trong công thức trên Z
1
,
Z
2
, ........., Z
x Q
i
i=1
TR: Doanh thu
P
i
: Gía cả của một đơn vị hàng hoá i
Q
i
: Số lượng hàng hoá i được tiêu thụ
n: Số nhóm hàng hoá được tiêu thụ
Doanh thu của hàng hoá đạt mức cao trên thị trường chứng tỏ được thị
trường chấp nhận, khách hàng ưa chuộng. Sự chấp nhận của khách hàng thể hiện
hàng hoá đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Nếu cơ hội lựa chọn là như nhau, thì
doanh thu là tiêu chí phản ánh chính xác mức độ thoả mãn nhu cầu khác nhau
của khách hành đối với hàng hoá. Như vậy, tăng doanh thu nghĩa là hàng hoá
thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng, mức độ thoả mãn tốt hơn nhu cầu
khách hàng phản ánh sức cạnh tranh của hàng hoá cao hơn.
Tăng doanh thu của hàng hoá có thể đạt được thông qua tăng giá bán,
trong khi giữ nguyên số lượng hàng may mặc cung ứng trên thị trường. Điều đó
khó có thể xảy ra đối với hàng hóa chưa có thương hiệu nổi tiếng trên thị trường
và trong môi trường tự do hoá thương mại. Hơn nữa, khi tự do hoá thương mại
diễn ra. Xu hướng chung của hàng hoá trên thế giới đều giảm giá bán.
Tăng doanh thu bán hàng bằng cách bán giá thấp hơn và đưa ra thị trường
số lượng hàng hoá lớn hơn, đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại. Đây
chính là xu hướng chung của các nhà sản xuất và kinh doanh hàng hoá trên thế
giới nhằm nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá.
Tốc độ tăng thị phần
23
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
24
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
phần hàng may mặc của công ty tăng giảm không ổn định nhất là năm 2004,
2005 doanh thu và thị phần hàng may mặc của công ty trên thị trường EU liên
tục giảm. Việc sút giảm này, nguyên nhân chính là do sức cạnh tranh hàng may
mặc của công ty trên thị trường EU chưa cao so với đối thủ cạnh tranh.
1.3.2 Phát triển các hoạt động sản xuất của công ty
Hàng may mặc của công ty với sức cạnh tranh nhất định chỉ phù hợp với
một thời điểm nào đó khi tiến hành cạnh tranh, trong khi các đối thủ cạnh tranh
thì luôn luôn thay đổi cách thức cạnh tranh của mình điều đó buộc hàng may
mặc của công ty muốn tồn tại được trên thị trường EU thì buộc phải thay đổi
theo như tích cực đầu tư cho máy móc thiết bị để nâng cao chất lượng hàng may
mặc tạo chất lượng đồng đều cho sản phẩm...Vì vậy, nâng cao sức cạnh tranh
hàng may mặc của công ty trên thị trường EU có tác động ngược trở lại đối với
công ty trong việc sản xuất và kinh doanh.
1.3.3 Thay đổi hình ảnh mặt hàng may của công ty
Hiện nay, hình ảnh hàng may mặc của công ty trên thị trường EU còn rất
mờ nhạt trong quyết định mua hàng của khách hàng EU. Bên cạnh đó, hàng may
mặc của công ty còn bị hàng may mặc của Trung Quốc lấn át về chất lượng,
mẫu mã, giá cả, sự khác biệt, uy tín thương hiệu… những yếu tố này nếu được
khai thác hiệu quả sẽ làm tăng sức cạnh tranh cho hàng may mặc của công ty
trên thị trường EU. Khi sức cạnh tranh hàng may mặc của công ty trên thị
trường EU tăng lên sẽ làm thay đổi hình ảnh hàng may mặc của công ty trong
tâm trí khách hàng EU theo chiều hướng tích cực hơn.
1.3.4 Khai thác lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh của công ty
Nâng cao sức cạnh tranh hàng may mặc của công ty trên thị trường EU
giúp công ty khai thác tốt lợi thế so sánh bởi vì hàng may mặc của công ty có
nhiều lợi thế so sánh hơn một số mặt hàng xuất khẩu khác. Trong nhiều năm
qua, hàng may mặc vẫn là mặt hàng mũi nhọn trong xuất khẩu sản phẩm của
công ty và tỏ ra có khả năng cạnh tranh hơn so với các mặt hàng khác trên thị