Báo cáo kết quả thực hiện đề tài về cây ngô - Pdf 22

ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây ngô là một trong những cây lương thực quan trọng không chỉ đối với
thế giới mà còn quan trọng đối với cả Việt Nam. Theo thống kê của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn diện tích trồng ngô tại Việt Nam trong những
năm gần đây có giảm, nhưng vẫn đạt vào khoảng 1,1 triệu/ ha/ năm, năng suất
bình quân gần 4,0 tấn / ha/ vụ, sản lượng chưa đến 4,0 triệu tấn, vì thất thoát trên
đồng ruộng do sâu bệnh (nấm, mối, mọt) sau thu hoạch ước tính thất thoát từ 10
– 13%. Trong khi đó nhu cầu sử dụng ngô cho ngành chăn nuôi lên đến 5,5 triệu
tấn. Và, Việt Nam hàng năm phải bỏ ra nửa tỷ USD để nhập khẩu ngô hạt. Theo
số liệu mới nhất của tổng cục thống kê năm 2008 giá trị thu nhập nguyên liệu thô
(ngô, đậu tương) cho sản xuất thức ăn chăn nuôi lên tới 1,3 tỷ USD.
Tỉnh Hải Dương cây ngô đã được quan tâm phát triển từ những năm 1970
của thế kỷ trước và diện tích tăng dần, diệm tích cao nhất năm 1997 (10.920 ha);
sau đó diện tích cây ngô ngày càng giảm đi, năm 2000 là 5.180 ha và đến năm 2007
còn 4.519 ha (trong đó diện tích ngô đông là 3.545 ha) bằng 41% của năm 1997.
Nguyên nhân diện tích ngô giảm có nhiều lý do, trong đó có lý do chi
phí đầu tư cho vật tư phân bón, thuốc sâu chiếm trên 30% và chi phí về công
lao động cũng quá cao, chiếm khoảng 30% giá thành sản phẩm, trong khi đó
năng suất ngô bình quân thấp nhiều so với thế giới, do vậy người nông dân
không mặn mà với việc trồng cây ngô, từ đó diện tích ngô giảm dần.
Từ những lý do trên năm 2009 - 2010 Trạm khuyến nông huyện
Thanh Miện đề nghị và được UBND tỉnh Hải Dương giao cho thực hiện đề
tài “Sản xuất thử giống ngô nếp lai F1 King 80 mật độ cao theo phương
pháp làm đất tối thiểu và đặt bầu chỉnh tán lá tại huyện Thanh Miện, tỉnh
Hải Dương”, nhằm giảm lượng phân bón, giảm công lao động, và tăng năng
suất trên một đơn vị diện tích, hiệu quả kinh tế cao hơn, làm điểm trình diễn
để mọi người học tập áp dụng ra diện rộng.
1
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN

bằng chứng nói trên còn rời rạc. Nhiều bộ phậnnhỏ của cây ngô như silic
điôxit trong tế bào gọi là phytoliths, phấn hoa và hạt tinh bột được bảo quản
ở cả điều kiện ẩm ướt cũng như khô ráo. Các bằng chứng này, cùng với dữ
liệu di truyền và khảo cổ, đang được sử dụng để tái lập lại lịch sử canh tác
tìm đến cội nguồn của cây ngô trên toàn thế giới.
Ngô ở Mỹ La-tinh có nhiều hình dạng và màu sắc đa dạng. (Ảnh:
Keith Weller/ USDA/ Ngành nghiên cứu nông nghiệp)
Ngô là cây thụ phấn nhờ gió, phát tán rất nhiều phấn hoa bám
trên đất và nước. Lớp màng ngoài cứng của hạt phấn bảo vệ nó không bị
hư hỏng dù hàng ngàn năm trôi qua. Trong khi có thể phân biệt hạt phấn ngô
và các họ hàng gần gũi của nó với cỏ, thì lại rất khó để phân biệt hạt phấn
ngô (Zea mays) với hạt phấn của cây cỏ dại teosinte được cho là tổ tiên của
cây ngô (Zea sp) nếu không xét đến những chuẩn mực có phạm vi lớn nhất.
Do đó, tuy rằng hạt phấn có thể mang bằng chứng về sự xuất hiện của cây
ngô đã được thuần hóa, cùng với hạt phấn của các loài cây khác khi có họat
động canh tác, trồng trọt, nhưng hạt phấn cây ngô cũng chưa phải là bằng
chứng có tính thuyết phục cho loài cây được thuần hóa này.
Phytoliths là một dạng khác của vi hóa thạch thực vật được bảo tồn
đến hàng ngàn năm. Nó có thể được dùng trong quá trình phân biệt cây ngô
thuần hóa và cây ngô dại. Chúng thực chất là silic điôxit hay trầm tích canxi
oxalat tích lũy lại bên trong tế bào thân cây, lá và rễ. Chúng có hình dạng
đặc trưng tùy theo giống loài. Chúng vẫn có khả năng bảo tồn ngay cả khi
cây bị đốt cháy hay phân hủy. Các nhà khoa học nhận thấy có thể phân biệt
chất microliths trong cây cỏ dại teosinte với thành phần trong ngô và
các loại cỏ khác, từ đó cho phép họ xác định niên đại và vị trí của họat
động canh tác thời kì đầu. Phytoliths cũng được lưu giữ trong các đồ tạo
tác bằng đá và gốm dùng để chế biến thức ăn.
3
Jones cùng các cộng sự đã tiến hành phân tích trầm tích tại San
Andrés thuộc bang Tabasco bên bờ biển vịnh Mexico. Phân tích tiết lộ thông

nước. Họ cũng phải đấu tranh để duy trì nguồn thức ăn cung cấp cho lượng
miệng ăn ngày một tăng thêm.
Ngô là cây trồng quan trọng thứ ba trên thế giới sau lúa mì và lúa gạo.
Tất cả các bộ phận của cây ngô từ hạt, đến thân, lá ngô đều có thể sử dụng
được để làm thức ăn cho người, gia súc hoặc sản xuất ethanol để chế biến
xăng sinh học. Ngày nay, khi mà nguồn xăng dầu hóa thạch đang cạn kiệt và
ngày càng tăng giá thì ngành trồng ngô trên thế giới để sản xuất xăng sinh
học càng phát triển. Ngô là cây trồng có năng suất rất cao, năng suất kỷ lục ở
Mỹ đã đạt tới 22 tấn hạt/ha. Những nước trồng ngô nhiều là Mỹ, Nga,
Braxin, Ấn độ, Inđônixia.
- Đặc điểm chung
Ngô là cây trồng nhiệt đới, được trồng phổ biến trong khoảng vĩ độ 30–
55. Ngô thích hợp với thời tiết ấm, nhiệt độ thích hợp cho giai đoạn sinh trưởng
mạnh là từ 21-27
o
C. Khi nhiệt độ dưới 19
o
C ngô sinh trưởng phát triển chậm
lại. Lượng mưa thích hợp nhất cho ngô trong khoảng 600-900 mm/năm. Ngô là
cây có thể trồng được nhiều vụ trong năm, nước ta trồng vụ đông xuân và hè
thu ở miền Nam, vụ xuân, vụ đông ở miền Bắc. Cây ngô không kén đất, do vậy
có thể trồng được trên nhiều loại đất khác nhau, song thích hợp nhất là đất
trung tính (pH từ 6,0-7,2), tơi xốp, thoát nước tốt, giàu mùn và dinh dưỡng.
Giống ngô King80 mà đề tài nghiên cứu được gieo trồng nhiều tại
Thái Lan và các nước trong khu vực.
- Dinh dưỡng cây ngô hút/ lấy đi
Ngô là cây rất phàm ăn, chính vì vậy nếu trồng độc canh ngô liên tục
nhiều năm đất trồng sẽ bị giảm độ phì rất đáng kể. Cây ngô hút nhiều kali
nhất, sau tới đạm, lân và các chất trung vi lượng.
Lượng dinh dưỡng cây hút, cây lấy đi tuỳ thuộc vào năng suất. Với

89
47
188
235
18
55
73
2,1
55,0
57,1
12
9
21
Vi lượng
Cl Fe Mn Cu Zn B
Hạt
Thân
Tổng
4,5
76,0
80,5
0.11
2,02
2,13
0,06
0,28
0,34
0,02
0,09
0,11

đầu bắp (bắp đuôi chuột), năng suất thấp.
Ngoài các chất dinh dưỡng đa lượng, cây ngô hút nhiều chất trung
lượng và vi lượng. Đối với cây ngô, các chất vi lượng thường thiếu là kẽm
và molypđen. Thiếu kẽm lá có màu trắng (bệnh bạch tạng), giữa các gân lá
có những dải màu vàng sáng, các lóng ngắn lại. Hiện tượng thiếu kẽm
thường xảy ra trên đất kiềm, nghèo mùn, đất giàu lân dễ tiêu hay bón quá
nhiều lân. Thiếu molypđen lá chuyển xanh nhạt, lá non teo lại và héo, nặng
hơn lá ngọn không bung ra được, có nhiều vết xém vàng.
- Bón phân cho ngô:
Lượng phân bón cho ngô tùy theo giống, ngô lai cần bón nhiều hơn
ngô thường và ngô thu trái non (ngô rau, ngô bao tử). Trên các loại đất
nghèo dinh dưỡng như đất xám, đất cát cần bón nhiều lân và kali hơn so với
đất phù sa, đất đỏ bazan. Thông thường bón phân cho cây ngô cần chia ra
7
làm 3 đợt là : Bón lót khi trồng, khi cây đạt 4-6 lá và khi ngô xoắn nõn
chuẩn bị trổ cờ. Tuy nhiên trong thực tế sản xuất hiện nay, đợt bón thứ 3
thường ngô đã cao cây, lá rậm rạp nên rất khó để bón phân.
2. Tình hình nghiên cứu trong nước
2.1. Trung ương
Cây ngô là cây có bộ rễ chùm, là cây có giá trị sau cây lúa, dễ trồng,
thích ứng với mọi chất đất. Nhờ có cuộc cách mạng về giống đã có hàng loạt
những giống ngô lai ra đời, đó là bước đột phá về giống làm cho năng suất
tăng, chất lượng ngô được nâng lên, thời gian sinh trưởng của giống ngô
được rút ngắn. Trong thập kỷ 90, những giống ngô đơn như MSB49, P848,
L4, L999, Bioxit 9681… là những giống ngô có thời gian sinh trưởng từ 115
- 130 ngày, dẫn đến những năm thời tiết bất thuận và thu hoạch muộn, năng
suất thấp hoặc thất thu. Trong những năm sau, nhờ có công nghệ lai tạo đã
lai tạo được hàng loạt giống ngô có có thời gian sinh trưởng ngắn từ 80 - 100
ngày như MX2, MX4, MX6, ,…và gần đây nhất là giống ngô King80 là
giống ngô có đặc điểm vượt trội hơn hẳn đã hội tụ đủ được các yếu tố: thời

- Tiết kiệm được phân bón (phân không bị rửa trôi như làm luống
thông thường).
- Tiết kiệm được nước tưới: khi tưới nước, nước láng một lần mặt
ruộng.
- Phủ rạ sau khi trồng làm cỏ không mọc được, giảm được lượng
phân, rạ mục ra làm phân cho vụ sau.
- Tăng số cây/ m
2
.
- Tăng được năng suất do tăng được số cây/ m
2
.
Năm 2002 Kỹ sư nông học Chu Văn Tiệp và Trịnh Thị Thanh đã được
Nhà nước cấp bằng sáng chế và đạt giải thưởng VIFOTEX Việt Nam năm
2004 công trình nghiên cứu "trồng ngô mật độ cao theo phương pháp điều
chỉnh tán lá". Nội dung cơ bản của sáng chế này là: các cá thể trong hàng có
tán lá song song với nhau và vuông góc với hàng ngô, rút ngắn khoảng cách
9
giữa các cá thể trên hàng xuống còn 12-15 cm nhờ đó phá vỡ hằng số mật
độ trước đây để trồng được 8-10 cây/m
2
, bón tăng 10-25 % lượng phân bón
so với quy trình thì có thể tăng năng suất từ 30-50 % so với trồng theo
phương pháp cũ 4-5 cây/m
2
.
2.2. Các tỉnh
Giống ngô King80 được đưa vào nước ta với số lượng khá lớn, khoảng 25
tấn (năm 2009) và bán trên toàn quốc, đặc biệt là ở một số tỉnh như : Hà Nội, Hải
Dương, Bắc Giang, Thái Nguyên, Thái Bình, Tây Ninh, Tiền Giang,

, lượng phân bón ở mật độ cao tăng
10
25 %, kết quả năng suất ngô trồng ở mật độ cao tăng hơn so với đối chứng
30 %.
- Vụ đông năm 2004: Trung tâm ứng dụng TBKH mở rộng mô hình
trồng ngô mật độ 7-9 cây/m
2
theo phương pháp điều chỉnh tán lá tại 2 huyện
Tứ Kỳ và Thanh Miện với quy mô 8,0 ha với 44 hộ nông dân tham gia trên 3
giống ngô LVN4, LVN99, nếp nù; lượng phân bón cho mô hình tăng 20 % so
với phương pháp canh tác thông thường và mật độ 4-5 cây/m
2
; kết quả năng
suất ngô trên toàn mô hình ở hai huyện tăng 25 % so với phương pháp trồng
cũ của bà con nông dân.
- Vụ đông năm 2005, UBND tỉnh Hải Dương đã giao cho Sở KHCN
phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT, UBND các huyện trong tỉnh mở
rộng diện tích trồng ngô mật độ cao theo phương pháp đặt bầu chỉnh tán lá
nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế cho người trồng ngô trên địa
bàn tỉnh. Kết quả, toàn tỉnh đã triển khai thực hiện được mô hình với tổng
diện tích 410,0 ha trên 7 huyện: Gia Lộc 70,0 ha; Thanh Miện 100,0 ha; Kim
Thành 45 ha; Nam Sách 70 ha; Tứ Kỳ 50,0 ha; Chí Linh 60,0 ha; Kinh Môn
15,0 ha. Năng suất thực thu tăng từ 20-23 % đối với mật độ 6,5-7,0 cây/m
2
.
- Vụ đông năm 2007 có một số hộ nông dân thuộc xã Hùng Sơn huyện
Thanh Miện đã áp dụng kỹ thuất trồng ngô đông với phương pháp làm đất
tối thiểu do Trạm khuyến nông huyện Thanh Miện triển khai bước đầu đã
cho hiệu quả tốt.
- Hải Dương : 2.000 m

- Xây dựng mô hình trồng ngô đông mật độ cao theo phương pháp làm
đất tối thiểu và đặt bầu chỉnh tán lá tại huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương
nhằm tận dụng tối đa thời vụ, tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích, giảm chi
phí lao động, giảm lượng phân bón và nâng cao hiệu quả kinh tế cho người sản
xuất.
- Đánh giá năng suất, hiệu quả, khả năng chống chịu sâu bệnh của giống
ngô King80.
- Hoàn thiện quy trình kỹ thuật trồng ngô đông mật độ cao theo phương
pháp làm đất tối thiểu và đặt bầu chỉnh tán lá.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình làm cơ sở mở rộng diện tích ra
đại trà trong các vụ tiếp theo.
2. Nội dung thực hiện
- Xây dựng mô hình trông ngô đông mật độ cao theo phương pháp
làm đất tối thiểu và đặt bầu chỉnh tán lá tại huyện Thanh Miện.
+ Quy mô : 5 ha.
+ Địa điểm tại 3 : Đoàn Kết, Thanh Tùng, Ngô Quyền
+ Thời gian : Vụ đông năm 2010.
+ Các chỉ tiêu theo dõi :
* Sinh trưởng và phát triển : Theo dõi quá trình sinh trưởng, phát triển
của trồng ngô đông mật độ cao theo phương pháp làm đất tối thiểu và đặt
bầu chỉnh tán lá so với phương pháp trồng ngô theo cách truyền thống (mật
độ thấp, có làm đất, có vun xới).
* Tốc độ ra lá
* Thời gian phun râu và trổ cờ
* Khả năng thụ phấn
* Khả năng chống chịu sâu bệnh
* Khả năng chống đổ
12
* Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình

13
+ Khả năng chống đổ
+ Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất (số bắp, số hạt/bắp,
trọng lượng hạt, ).
Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu trên: cán bộ kỹ thuật của đề tài
dùng thước mét để đo chiều cao cây, đếm số lá (10 ngày/lần), dùng cân đĩa
để cân trọng lượng bắp ngô.
- Phương pháp đánh giá năng suất thực thu của các hộ nông dân tham
gia mô hình: cán bộ kỹ thuật của đề tài thống kê năng suất trực tiếp tại các
hộ nông dân.
- Phương pháp theo dõi đánh giá sâu bệnh: theo thang điểm của Viện
bảo vệ thực vật.
- Phương pháp xử lý số liệu viết báo cáo: sử dụng phần mềm office
Excel.
14
Chương 2
KẾT QUẢ XÂY DỰNG MÔ HÌNH VÀ HOÀN THIỆN QUY
TRÌNH SẢN XUẤT THỬ GIỐNG NGÔ NẾP LAI F1 KING80
MẬT ĐỘ CAO THEO PHƯƠNG PHÁP LÀM ĐẤT TỐI
THIỂU VÀ ĐẶT BẦU CHỈNH TÁN LÁ
I. Kết quả xây dựng mô hình sản xuất thử giống ngô nếp lai F1 King 80
mật độ cao theo phương pháp làm đất tối thiểu và đặt bầu chỉnh tán lá
vụ đông năm 2010.
1. Tình hình thời tiết vụ đông năm 2010
Vụ đông năm 2010 có nhiệt độ trung bình 22,7
o
C, tháng 9 có nhiệt độ
cao nhất 28,2
o
C, tháng 12 có nhiệt độ thấp nhất 16,8

+ Cách làm bầu : Lấy bùn trộn lẫn với phân chuồng ủ mục sau đó cán
thành luống rộng 0,8 m, dầy 1 cm, để se mặt, dùng dao cắt theo kích thước 5
x 5 cm, sau đó chọc lỗ, tra mỗi bầu 1 hạt ; phủ đất bột lấp hạt ; khi cây được
2,5 – 3 lá đem trồng.
+ Cách trồng: Dùng dây căng thẳng hàng từ 25 – 30 cm thì dùng gót
chân tạo hốc đặt bầu vào đó, xoay lá ngô ra cùng 1 hướng, dùng đất bột trộn
với phân chuồng mục phủ lên bầu. Khoảng cách trồng: hốc cách hốc 25 - 30
cm, hàng cách hàng 40cm, mật độ trồng đảm bảo từ 6,5 cây/m
2
trở lên. Cứ 6
hàng tạo 1 rãnh thoát nước sâu 10 – 15cm, kết hợp với hàng cách hàng là
50cm, xung quanh ruộng tạo rãnh thoát nước. Sau đó bón toàn bộ lượng phân
lân theo quy trình đầu tư kỹ thuật + 4kg đạm urê + 3kg kali, bón xung quanh
bầu và phủ rạ lên (lượng phân bón tính cho 1 sào bắc bộ là 360m
2
).
+ Cách dùng phân bón lá Nông trang 001 :
Ngô sau khi trồng 1 tuần dùng đạm ure pha loãng tưới cho cây kết
hợp phun phân bón lá với liều lượng 1 kg/sào, kết hợp dùng phân bón lá
Nông trang 001 để phun.
Phân bón lá Nông trang 001 phun 4 lần :
- Lần 1 : Khi ngô trồng được 5 – 7 ngày.
- Lần 2 : Khi ngô được 4 – 5 lá.
- Lần 3 : Khi ngô xoắn nõn
- Lần 4 : Khi ngô có hoa đầu.
Khi ngô được 7 – 8 lá bón 8 – 9 kg đạm, bón bằng cách rắc đều lên
mặt luống sau đó đưa nước tưới ẩm đều cho ruộng. Khi ngô có hoa đầu bón
nốt lượng phân đạm và kali còn lại, kết hợp với phun phân bón lá 2 gói
Nông trang 001/sào.
16

vằn
Xã Đoàn
Kết
17 –
21/9
97,0 2/11 20/11 70,0
Nhiễm
nhẹ
Nhiễm
nhẹ
Cấp 3
Xã Thanh
Tùng
17 –
21/9
98,0 5/11 18/11 75,0
Nhiễm
nhẹ
Nhiễm
nhẹ
Cấp 3
Xã Ngô
Quyền
22 –
26/9
95,0 6/11 26/11 72,0
Nhiễm
nhẹ
Nhiễm
nhẹ

+ Trồng theo phương pháp làm đất tối thiểu có đặt bầu chỉnh tán là thì
tình hình bệnh khô vằn gây hại nặng hơn (cấp 3) so với trồng theo phương
pháp truyền thống (cấp 1). Còn những loại sâu bệnh khác thì nhiễm tương
đương nhau.
- Đặt bầu chỉnh tán lá: ngay sau khi cây ngô được 2-4 lá cán bộ kỹ
thuật của đề tài đã phối hợp với các khuyến nông viên ở cơ sở chỉ đạo các hộ
nông dân đặt ngô ra ruộng với hướng lá xoay ra ngoài rãnh luống để tận
dụng tối đa ánh sáng quang hợp của cây ngô khi trồng ở mật độ cao. Các hộ
nông dân đã tiếp thu hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật đề tài và xã Ngô Quyền
có tỷ lệ đặt bầu chỉnh tán lá thấp nhất đạt 70%, cao nhất là xã Đoàn Kết đạt
tỷ lệ 85%, xã Thanh Tùng đạt tỷ lệ 75%. Những diện tích thực hiện đặt bầu
chỉnh tán lá với tỷ lệ cao có năng suất bắp tươi cao hơn do cây ngô được
quang hợp tối đa, bắp to hơn và ít bị sâu bệnh hơn.
Bảng 3 : Tình hình sinh trưởng và phát triển của giống ngô King80 so với
giống ngô Wax44
18
Địa điểm
Số lá/cây Chiều cao cây
(m)
Độ cao đóng bắp
(Cm)
King80 Wax44 King80 Wax44 King80 Wax44
Xã Đoàn Kết 12 14 1,8 1,9 65 – 68 73 – 75
Xã Thanh Tùng 12 14 1,7 2,0 66 – 68 77 – 80
Xã Ngô Quyền 12 14 1,8 2,0 65 – 69 77 – 78
Nhận xét :
- Tổng số lá trên cây tại các điểm triển khai mô hình đạt 12 lá/cây ít
hơn so với Wax 44 là 2 lá/cây.
- Trong vụ đông năm 2010 đã có một số đợt gió mùa ở giữa vụ gây
ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây ngô.

300 320
160,5
171,2 300.000 250.000
Ghi chú: Năng suất bắp tươi TB (tạ/ha) là năng suất lý thuyết.
Nhận xét :
- Mật độ trồng của 3 địa điểm triển khai đạt từ 48.000 – 59.000
cây/ha, so với quy trình hướng dẫn thì mật độ này là phù hợp nên năng suất
vụ đông năm 2010 là khá cao. Ngô trồng theo phương pháp làm đất tối thiểu
có thể trồng được ở mật độ cao hơn do không phải lên luống nên tiết kiệm
được phần rãnh thoát nước. Trồng ngô mật độ cao theo phương pháp làm đất
tối thiểu và đặt bầu chỉnh tán lá làm cho mật độ trồng cao hơn so với trồng
theo phương pháp thông thường khoảng 400 – 600 cây/sào (360m
2
) tương
đương với tăng từ 11.200 – 16.800 cây/ha (trước đó trồng với mật độ 1.400
cây/sào). Trọng lượng bắp tươi đạt 300 – 320 g/bắp.
- Trong vụ đông năm 2010, do điều kiện thời tiết bất thuận, việc thực
hiện quy trình chăm sóc, thu hoạch ở các hộ gia đình có khác nhau nên năng
suất ngô ở từng địa điểm, từng hộ có sự khác nhau, kết quả được thể hiện ở
bảng 5.
Bảng 5: Tổng hợp năng suất bắp tươi theo các nhóm hộ (chi tiết ở phụ lục II)
Địa điểm Năng suất bắp tươi (tạ/ha)
20
Từ 160,5 - 165,85 Từ 165,85 - 171,2
Số hộ % Số hộ %
Xã Đoàn Kết
11/20 55 9/20 45
Xã Thanh Tùng
20/43 46,5 23/43 53,5
Xã Ngô Quyền

suất
(tạ/
ha)
Đơn giá
(1.000đ)
Tổng
thu
(triệu
đồng/
ha)
Tổng chi
(triệu
đồng/
ha)
Chi phí (triệu đồng/ha)
Lợi
nhuận
(triệu
đồng/ha)
Phân
bón lá
Công
làm đất
Thuốc
BVTV
Giống
Đạm
ure
Lân
supe

II. Hoàn thiện quy trình sản xuất thử giống ngô nếp lai F1 King80 mật độ
cao theo phương pháp làm đất tối thiểu và đặt bầu chỉnh tán lá phù hợp với
điều kiện Hải Dương
Trong quá trình xây dựng mô hình trồng ngô đông mật độ cao theo
phương pháp làm đất tối thiểu tại địa phương, Trạm khuyến nông đã theo
dõi đầy đủ các chỉ tiêu về sinh trưởng và phát triển cây ngô, các yếu tố cấu
thành năng suất, việc thực hiện quy trình của các hộ gia đình và có kết quả
như sau :
- Các nội dung cơ bản của quy trình ban đầu đưa ra đều phù hợp với
thực tế sản xuất.
- Hoàn thiện một số nội dung trong quy trình để phù hợp với thực tế
sản xuất, các nội dung hoàn thiện được thể hiện ở bảng 8.
24
Bảng 8 : Những nội dung chính đã hoàn thiện trong quy trình áp dụng
Nội dung Quy trình ban đầu Quy trình hoàn thiện
Thời vụ 25/9 – 5/10 25/9 – 10/10
Mật độ 1.800 – 2.000 cây/360m
2
1.700 – 2.100 cây/360m
2
Cách làm bầu Chọc lỗ sau đó đặt hạt Không chọc lỗ, tra hạt xong
phủ 1 lớp đất bột kín hạt.
Phương pháp
đặt bầu, cách
phủ rơm rạ
Độ ẩm 80 – 85% thì dùng
gót chân tạo lỗ đặt bầu
Nếu độ ẩm lớn hơn thì đặt
trực tiếp
Địa điểm làm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status