Lời nói đầu
Giao thông vận tải là một ngành sản xuất phi vật chất không thể thiếu đợc ở bất
cứ một quốc gia nào. Giao thông vận tải cũng là một bộ phận quan trọng của cơ sở
hạ tầng. Nó quyết định rất lớn đến sự phát triển kinh tế đất nớc. Có thể nói giao
thông vận tải là huyết mạch của nền kinh tế.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trờng, đời sống nhân dân ngày càng đ-
ợc cải thiện hơn. Nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hoá, hành khách ngày càng phát
triển. Trong giao thông vận tải thì xe ô tô là một phơng tiện phổ biến nhất, đợc sử
dụng rông rãi nhất với những u điểm nổi bật về tính cơ động cao, khả năng vận
chuyển lớn, tốc độ tơng đối nhanh, giá thành vận chuyển thấp. Vận chuyển bằng xe
ôtô đã đảm bảo đợc một phần quan trọng nhu cầu vận tải của toàn bộ nền kinh tế
quốc dân.
Hiện nay, bên cạnh tốc độ xây mới,mở rộng hoặc nâng cấp hệ thống đờng xá,
cầu cống không tơng xứng với tốc độ tăng phơng tiện giao thông mà tình trạng vi
phạm luật lệ an toàn giao thông nh phóng nhanh vợt ẩu... Đã dẫn đến tình hình giao
thông đờng bộ ngày càng gây thiệt hại rất lớn về tính mạng và tài sản cho các chủ
xe cũng nh toàn xã hội.
Vì vậy, để bảo vệ cho chủ xe ôtô trong thời gian lu hành, bảo hiểm vật chất xe
ôtô ra đời và phát triển. Sự ra đời của bảo hiểm vật chất xe ôtô là một nhu cầu khách
quan nhằm giúp cho các chủ xe ổn định cuộc sống, ổn định sản xuất kinh doanh
trong trờng hợp không may gặp rủi ro tai nạn bất ngờ.
Từ khi ra đời, nghiệp vụ này đẫ khẳng định đợc tính u việt và tầm quan trọng của
nó. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt đợc, nghiệp vụ vẫn còn nhiều vấn đề
phải tiếp tục giải quyết, xem xét để đa ra các biện pháp khắc phục tốt hơn để có thể
nâng cao hiệu quả, chất lợng của nghiệp vụ, chính vì vậy, trong thời gian thực tập
tại phòng bảo hiểm phi hàng hải của công ty bảo hiểm Hà Nội em đã chọn đề tài :
Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe
ôtô tại công ty bảo hiểm Hà Nội để làm chuyên đề thực tập và luận văn tốt
nghiệp.
Nội dung chính của đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận đợc chia làm ba phần.
Phần I: Lý luận chung về bảo hiểm vật chất xe ôtô
mọi nơi, mọi lúc năng gây tại nạn lớn. Bởi vì bản thân quá trình hoạt động của xe ô
tô là nguy hiểm cao, ngoài ra nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố nh tình trạng đờng
xá, tinh thần trách nhiệm của ngời điều khiển xe ô tô, tình trạng kỹ thuật của xe và
mức độ sử dụng phơng tiện.
Trong những năm gần đây, gắn liền với sự phát triển kinh tế của đất nớc, giao
thông vận tải nớc ta, đặc biệt là vận tải bằng xe cơ giới nói chung và bằng xe ô tô
nói riêng phát triển rất mạnh, nó không thể thiếu đợc cho sự phát triển kinh tế của
đất nớc. Nó là cầu nối về quan hệ kinh tế văn hoá giữa các trung tâm kinh tế, các
vùng với nhau.
Nhng trong điều kiện nớc ta hiện nay, thì hệ thống đờng giao thông còn chật
hẹp, chất lợng nhiều đoạn đờng còn kém và việc tu sửa đờng xá còn mang tính chất
tạm thời. Có những con đờng mới đợc thi công có mặt đờng tốt lại thiếu các biện
3
pháp giảm thiểu tai nạn nh xây dựng cầu vợt dân sinh, biển báo. Bên canh đó số đầu
xe tham gia giao thông ngày càng tăng, trong đó có rất nhiều xe cũ đợc tân trang lại
rồi cho lu hành nhng không đảm bảo độ an toàn. Mặt khác, lái xe không chấp hành
nghiêm chỉnh luật lệ giao thông, phóng nhanh vợt ẩu, say rợu ngày càng tăng.
Theo thống kê, trong năm 1998 ở Việt Nam có 20.668 vụ tai nạn giao thông đ-
ờng bộ gây thiệt hại rất lớn về ngời và của.
Năm 1999 cả nớc đã xảy ra 21.420 vụ tai nạn giao thông khiến cho 7061 ngời
thiệt mạng và làm bị thơng 24.171 ngời, có thể nói cứ mổi ngày trong năm 1999 có
gần 20 ngời chết vì tai nạn giao thông. Thiệt hại về tài sản hàng năm do tai nạn giao
thông lên đến hàng trăm tỷ đồng. Nếu tính bình quân thiệt hại của một vụ tai nạn
giao thông thông thờng có thể lên tới hàng chục triệu đồng. Do vậy, tai nạn giao
thông vẫn là mối đe doạ hàng ngày hàng giờ đối với các tài sản của các chủ phơng
tiện xe ô tô.
2 Sự cần thiết của bảo hiểm vật chất xe ô tô
Trong cuộc sống sinh hoạt cũng nh hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày dù
đã luôn luôn chú ý ngăn ngừa và đề phòng, nhng con ngời vẫn có nguy cơ gặp phải
những rủi ro bất ngờ xảy ra. Rủi ro luôn hiện diện ở trong mọi hoạt động của con
nhanh chóng ổn định kinh tế khôi phục đời sống và sản xuất kinh doanh, đó là mục
đích chính của hoạt động bảo hiểm. Khi tai nạn giao thông xảy ra cho những rủi ro
đợc bảo hiểm gây nên những thiệt hại về vật chất xe ô tô, từ đó dẫn đến những khó
khăn về mặt tài chính cho chủ xe, cho nên ngời bảo hiểm đã thông qua nghiệp vụ
bảo hiểm của mình tiến hành chi bồi thờng cho các chủ xe một cách kịp thời góp
phần khắc phục những khó khăn về mặt tài chính cho các chủ xe.
Ví dụ: Năm 2000 công ty bảo hiểm Hà Nội phải bồi thờng 43.522tr.đ ,trong đó
nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe ôtô là 12.972tr.đ chiếm 0,298% trong tổng số tiền
bồi thờng .
- Hai là, góp phần đề phòng và hạn chế tổn thất. Thông qua công tác bồi thờng
bảo thiểm vật chất xe ô tô đã thúc đẩy các chủ xe tham gia bảo hiểm thực hiện tốt
các biện pháp an toàn khi lái xe, đề phòng những thiệt hại xảy ra và luôn chăm lo
5
giữ gìn xe đợc tốt hơn. Vì khi bị tai nạn công ty bảo hiểm không phải chịu tất cả
trấch nhiệm mà chủ xe (lái xe) cũng phải chịu một phần trách nhiệm. Tứ đó dẫn đến
số vụ tai nạn giảm, điều đó có ý nghĩa xã hội rất lớn. đồng thời công ty bảo hiểm
cũng thực hiện các biện pháp để đề phòng và hạn chế tổn thất nh: đặt những tấm
biển báo ở những con đờng nguy hiểm, lắp gơng cầu lồi ở những đoạn rẽ trên những
con đờng ngoằn ngèo nguy hiểm nh đèo Hải Vân, Đèo Ngang... Ngoài ra, thông
qua các quy định các điều khoản loại trừ trong hợp đồng bảo hiểm đã góp phần tích
cực đối việc thực hiện an toàn khi lái xe.
Ví dụ: Năm 1997 công ty đã chi hơn 200tr.đ để lắp những gơng cầu lồi ở đèo hải
vân, đèo ngang ở một số nơi khác.
- Ba là, đóng góp tích luỹ cho ngân sách. Khi tham gia bảo hiểm các chủ xe phải
nộp phí bảo hiểm cho các công ty bảo hiểm, đó là một khoản thu tơng đối lớn đối
với các công ty bảo hiểm ở Việt Nam hiện nay, góp phần vào nguồn vốn để đầu t để
phát triển kinh tế và nộp cho ngân sách nhà nớc một lợng không nhỏ thông qua
thuế.
Ví dụ: Công ty bảo hiểm Hà Nội năm 2000 phải nộp thuế là 3.120.000.000VNĐ
chiếm 4% tổng doanh thu, trong đó nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe ôtô là: :
xe .Ngoài ra có một số xe còn có tổng chuyên dùng nh : cần cẩu , bồn téc, ytế, cứu
hoả, ben tự đổ , nâng hạ hàng, đào xúc ...
Khác với bảo hiểm trách nhiệm dân sự của xe cơ giới đối với ngơi thứ ba và đối
với hành khách đợc áp dụng bắt buộc băng pháp luật đối với chủ xe, bảo hiểm vật
chất xe ô tô cũng là một nghiệp vụ bảo hiểm tài sản nên nó đợc thực hiện dới hình
thức tự nguyện trên cơ sở chủ xe yêu cầu và nộp phí bảo hiểm cho các công ty . Chủ
xe tham gia bảo hiểm vật chất xe ô tô là để đợc bồi thờng những thiệt hại vật chất
gây nên . Thông thờng, các chủ xe có thể tham gia bảo hiểm vật chất xe ô tô theo
một trong hai hình thức bảo hiểm sau :
-Bảo hiểm toàn bộ , hoặc
-Bảo hiểm thân vỏ.
7
2 - Phạm vi bảo hiểm
2.1. Rủi ro đợc bảo hiểm
Phạm vi bảo hiểm là giới hạn rủi ro đợc bảo hiểm mà cũng là giới hạn trách
nhiệm của ngời bảo hiểm .
Với nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe ô tô, các rủi ro đợc bảo hiểm thông thờng
bao gồm :
- Tai nạn do đâm va, lật đổ : là những thờng hợp xe bị va quyệt hoặc đâm va vào
một vật nào đó hoặc bị đờng trơn .
-Cháy nổ :
+ Cháy có thể do nhiều nguyên nhân nhng ngời bảo hiểm chỉ bồi thờng
những thờng hợp do sự cố bất ngờ và những nguyên nhân khách quan .
+ Nổ trên xe hoặc bên ngoài xe ô tô làm tổn thất đến ô tô đợc bảo hiểm đều
phải bồi thờng. Nổ có thể do chở hoá chất (đã có giấy phép của cơ quan có thẩm
quyền ) hoặc do tác động nào đó gây nổ mà là nguyên nhân khách quan dẫn đến nổ.
- Những tai hoạ bất khả kháng do thiên nhiên : Bão, lũ lụt, sụt lở, sét đánh, động
đất, ma đá ...
- Mất cắp toàn bộ xe : Mất cắp ở đây không chỉ là hành động cố ý của ngời đợc
bảo hiểm mà là nguyên nhân khách quan dẫn đến mất cắp .
khác trong khi điều khiển xe.
+ Xe chở chất cháy, chất nổ trái phép .
+ Xe chở quá trọng tải hoặc số hành khách quy định .
+ Xe đi vào đờng cấm .
+ Xe đi đêm không đèn .
9
+Xe sử dụng để tập lái, đua thể thao, chạy thử sau khi sửa chữa.
- Những thiệt hại gián tiếp nh : giảm giá trị thơng mại, làm đình trệ sản xuất
kinh doanh.
- Thiệt hại do chiến tranh .
- Những thiệt hại ngoài lãnh thổ quốc gia trừ khi có thoả thuận riêng.
3 - Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm
3.1. Giá trị bảo hiểm
Giá trị bảo hiểm của xe ô tô là giá trị thực tế trên thị trờng của xe tại thời điểm
ngời tham gia bảo hiểm mua bảo hiểm .
Việc xác định đúng giá trị của xe tham gia bảo hiểm là rất quan trọng vì đây là
cơ sở để bồi thờng chính xác thiệt hại thực tế cho chủ xe tham gia bảo hiểm . Tuy
nhiên , giá xe trên thị trờng luôn biến động và có thêm nhiều chủng loại xe mới gây
khó khăn cho việc xác định giá trịxe .Trong thực tế , các công ty bảo hiểm thờng
dựa trên các yếu tố sau để xác định giá trịxe :
- Loại xe
- Năm sản xuất .
- Mức độ mới, của xe cũ.
- Thể tích làm việc của xi lanh .
Một phơng pháp xác định giá trị bảo hiểm mà công ty bảo hiểm hay áp dụng đó
là căn cứ vào giá trị ban đầu của xe và mức khấu hao, cụ thể:
Giá trị bảo hiểm = giá trị ban đầu khấu hao
Hiện nay trên thị trờng Việt Nam ngày càng xuất hiện nhiều xe ô tô đời mới đợc
nhập khẩu từ nớc ngoài, vì vậy giá trị thực tế của xe nhập khẩu trên thị trờng Việt
Nam đợc tính nh sau:
định và có thể thu ngay trực tiếp hoặc uỷ nhiệm cho các đơn vị khác thu hộ.
4.2 ph ơng pháp xác định phí bảo hiểm
Trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm, việc tính phí bảo hiểm là rất cần thiết và
quan trọng, đòi hỏi sự chính xác cao. Phí bảo hiểm đợc xác định vừa phù hợp với
khả năng tài chính của mổi chủ xe khi tham gia bảo hiểm, đồng thời vừa hình thành
quỹ bảo hiểm đủ lớn để có thể bù đắp cho những thiệt hại bất ngờ xảy ra do tại nạn,
góp phần đảm bảo cho quá trình sản xuất đợc một cách thờng xuyên liên tục đảm
bảo đời sống cho mọi ngời dân trong xã hội.
Khi xác định phí bảo hiểm cho từng đối tợng tham gia bảo hiểm cụ thể các công
ty bảo hiểm thờng căn cứ vào những nhân tố sau:
Loại xe: Do mổi loại xe có những đặc điểm kỷ thuật khác nhau, có mức độ rủi
ro khác nhau nên phí bảo hiểm vật chất xe ô tô đợc tính cho từng loại xe. Thông th-
ờng, các công ty bảo hiểm đa ra những biểu phí bảo hiểm phù hợp cho hầu hết các
xe thông dụng thông qua phân loại xe thành các nhóm. Việc phân loại này đợc dựa
trên cơ sở tốc độ tối đa của xe, tỷ lệ gia tốc, chi phí và mức độ khó khăn khi phải
sửa chữa và sự khan hiếm của phụ tùng. Đối với các xe hoạt động thông dụng nh xe
kéo, rơ moóc, xe chở hàng nặng... Do có mức độ rủi ro cao nên phí bảo hiểm thờng
đợc cộng thêm một tỷ lệ nhất định dựa trên mức phí cơ bản.
Khu vực giữ xe và để xe: Trong thực tế không phải công ty bảo hiểm nào cũng
quan tâm đến nhân tố này.Tuy nhiên, cũng có một số công ty bảo hiểm tính phí bảo
hiểm dựa theo khu vực giữ xe và để xe.
Mục đích sử dụng xe: Đây là nhân tố rất quan trọng khi xác định phí bảo hiểm.
Nó giúp công ty bảo hiểm biết đợc mức độ rủi ro có thể xảy ra. Ví dụ:
Xe do một ngời về hu sử dụng cho mục đích kinh doanh đơn thuần chắc chắn sẽ
đóng phí bảo hiểm thấp hơn so với xe do một thơng gia sử dụng để đi lại những khu
vực rộng lớn. Rõ ràng xe lăn bánh trên đờng càng nhiều thì rủi ro tai nạn càng lớn.
Tuổi tác kinh nghiệm lái xe của ng ời yêu cầu bảo hiểm và những ng ời sử
dụng th ờng xuyên chiếc xe đ ợc bảo hiểm. Số liệu thông kê cho thấy rằng các lái xe
12
trẻ tuổi bị tai nhiều hơn so với các lái xe lớn tuổi. Trong thực tế, các công ty bảo
+ Tình hình bồi thờng tổn thất của những năm trớc đó. Căn cứ vào số liệu thống
kê, công ty bảo hiểm sẽ tính toán đợc phần phí bồi thờng f cho mỗi đầu xe nh sau:
Trong đó: + Si số vụ tai nạn xảy ra trong năm thứ i
+ Ti thiệt hại bình quân một vụ trong năm thứ i
+ Ci Số xe hoạt động thực tế trong năm thứ i
+ Các chi phí khác hay còn gọi là phần phụ phí d bao gồm các chi phí nh: chi đề
phòng hạn chế tổn thất, chi quản lý, một phần bổ sung cho quỹ dự phòng nghiệp vụ,
một phần để nộp cho ngân sách nhà nớc và các loại chi phí khác. Nh vậy, phí bồi
thờng đợc xác định dựa vào số liệu thống kê còn phụ phí thờng chiếm từ 20 đến 30
% số phí thu đựơc.
Vì đây là nghiệp vụ bảo hiểm tài sản cho nên số tiền bảo hiểm đợc xác định quá
đơn giản, chủ yếu dựa trên cơ sở đánh giá thực tế chiếc xe khi tham gia bảo hiểm
hoặc chứng từ hoá đơn khi mua bán xe, sau đó hai bên toả thuận với nhau về số
tiền mua bảo hiểm. Tuy vậy công tác này đòi hỏi nhân viên phải có đủ trình độ
chuyên môn nhất định khi đánh giá xe. Căn cứ vào số tiền bảo hiểm hai bên cũng
có thể xác định đợc phí bảo hiểm dựa trên tỷ lệ phí bảo hiểm:
F = S
BH
xR
Trong đó: + S
BH
: số tiền bảo hiểm
+ R: tỷ lệ phí
Tỷ lệ phí đợc xác định căn cứ vào các yếu tố sau:
14
ì
=
Ci
công ty bảo hiểm căn cứ vào tài
liệu thống kê của một số năm trớc đó :
Tổng số tiền bồi thờng trong một số năm trớc đó
R
1
= x 100
Tổng số phí thu đợc trong những năm trớc đó
Nếu công ty mới thành lập việc xác định tỷ lệ này thờng căn cứ vào tài liệu của
cảnh sát giao thông ở các tỉnh, vùng hoặc trực tiếp tiến hành điều tra chọn mẫu để
xác định tỷ lệ phí và có một số trờng hợp mua biểu phí.
Biểu phí bảo hiểm vật chất xe ô tô của Bộ tài chính :
Phạm vi bảo hiểm Phí bảo hiểm
Bảo hiểm toàn bộ 1,36% số tiền bảo hiểm
Bảo hiểm thân vỏ xe 2,27% số tiền bảo hiểm
15
Đối với những xe hoạt đông mang tính chất thời vụ, tức là chỉ hoạt đông một số
ngày trong năm thì chủ xe chỉ phải đóng cho ngững ngày hoạt động đó theo công
thức sau:
Số tháng xe hoạt động trong năm
Phí bảo hiểm = Mức phí cả năm x
12 Tháng
Tuy nhiên, ở Việt Nam đối với những trờng hợp xe tham gia dới một năm thì
nhiều công ty bảo hiểm đã áp dụng theo biểu phí ngắn hạn sau:
Dới 3 tháng : 30% phí bảo hiểm của cả năm
Trên 3 tháng đến 6
tháng : 60% phí bảo hiểm của cả năm
Trên 6 tháng đến 9 tháng : 90% phí bảo hiểm của cả năm
Trên 9
tham gia bảo hiểm cho chiếc xe đợc bảo hiểm theo một gía trịnhất định thấp hơn
giá trị thực tế của xe . Khi tính phí bảo hiểm cần phải lu ý đến các yếu tố : giá trị
của xe, giá trị còn lại, số tiền bảo hiểm để làm cơ sở tính toán chính xác:
GTTT-STBH
Phí bảo hiểm =số tiền bảo hiểm x tỷ lệ phí cơ bản (100%+
x 80%)
GTTT
Trong đó: GTTT-gía trị thực tế
STBH-Số tiền bảo hiểm
- Bảo hiểm có áp dụng mức miễn bồi thờng :chủ xe có thể lựa chọn mức miễn
bồi thờng có khấu trừ tuỳ ý từ 1.000.000đ đến 10.000.000đ hoặc từ 100$ đến
1.000$
Khi áp dụng mức miễn bồi thờng thì tỷ lệ giảm phí so với tổng phí đợc quy
định nh sau:
Mức miễn bồi thờng Tỷ lệ giảm phí
1.000.000đ hoặc 100USD
2.000.000đ hoăc 200 USD
3.000.0000đ hoặc 300USD
4.000.000đ hoặc 400USD
17
5.000.000.đ hoặc 500USD
6.000.000đ hoặc 600USD
7.000.000đ hoặc 700USD
8.000.000đ hoặc 800USD
9.000.000đ hoặc 900USD
10.000.000đ hoặc 1000 USDGiảm 0,5% tổng số phí
Giảm 0,8% tổng số phí
Giảm 11% tổng số phí
Giảm 14% tổng số phí
số tháng không hoạt động
Phí hoàn lại = Phí cả năm x
x Tỷ lệ hoàn lại phí.
12
tháng
Mỗi công ty bảo hiểm có tỷ lệ hoàn phí là khác nhau .Nhng thông thờng tỷ lệ
này là 80%
19
Nếu chủ xe muốn huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm khi cha hết thời hạn hợp đồng thì
thông thờng công ty bảo hiểm cũng hoàn lại phí bảo hiểm cho thời gian còn lại đó
theo công thức trên nhng với điều kiện là chủ xe cha có lần nào đợc công ty bảo
hiểm trả tiền bảo hiểm.
Trách nhiệm nộp phí của chủ xe tuỳ thuộc vào thoả thuận giữa chủ xe với ngời bảo
hiểm. Thông thờng trách nhiệm của chủ xe là từ khi hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực.
Việc nộp phí có thể đợc tiến hành từ một hoặc hai lần . Đối với các chủ xe có số l-
ợng trên 50xe thì thờng nộp hai lần , mỗi lần nộp phải theo đúng thời hạn thoả
thuận. Nếu trong trờng hợp chủ xe không nộp phí đầy đủ và đúng theo thoả thuận
thì hợp đồng bảo hiểm mất hiệu lực cho đến khi chủ xe tiếp tục nộp phí.
5 - Giám định và bồi th ờng tổn thất
5.1. Giám định
Thông báo tại nạn : cũng nh các loại đơn bảo hiểm khác, ngời bảo hiểm yêu cầu
chủ xe (hoặc lái xe )khi xe bị tai nạn một mặt phải tìm cách cứu chữa , một mặt
phải tìm cách cứu chữa và hạn chế tổn thất, mặt khác nhanh chóng báo cho công ty
bảo hiểm biết . Chủ xe không đợc di chuyển , tháo dỡ hoặc sửa chữa xe khi cha có ý
kiến của công ty bảo hiểm , trừ trờng hợp phải thi hành chỉ thị của cơ quan có thẩm
quyền .
Giám định tổn thất: thông thờng đối với bảo hiểm vật chất xe ôtô việc giám định
+ Bản án quyết định của toà án trong trờng hợp có tranh chấp tại toà án.
+ Các biên bản, tài liệu xác định trách nhiệm của ngời thứ ba.
+ Các chứng từ xác định thiệt hại do tai nạn, ví dụ : chứng từ xác định chi phí sửa
chữa xe, thuê cần cẩu ...
Nguyên tắc bồi thờng tổn thất
Việc tính toán số tiền bồi thờng của cơ quan bảo hiểm cho các chủ xe ôtô đợc dựa
trên cơ sở thiệt hại thực tế của xe ô tô. Khi yêu cầu bồi thờng, chủ xe ô tô có trách
21
nhiệm chuyển cho cơ quan bảo hiểm những giấy tờ cần thiết liên quan đến tai nạn.
Thông thờng việc tính toán vật chất xe ôtô và xác định số tiền bồi thờng nghiệp vụ
bảo hiểm vật chất xe ôtô đợc tiến hành nh sau:
- Trờng hợp xe tham gia bảo hiểm bằng hoặc dới giá trị thực tế số tiền bồi thờng là :
số tiền bảo hiểm
số tiền bồi thờng = Thiệt hại thực tế x
Giá trị thực tế của xe
-Trờng hợp xe tham gia trên giá trị thực tế : theo nguyên tăc hoạt động của bảo
hiểm để tránh việc lợi dụng bảo hiểm công ty bảo hiểm chỉ chấp nhận số tiền bảo
hiểm nhỏ hơn hoặc bằng giá trị bảo hiểm, tuy nhiên nếu ngời tham gia bảo hiểm vô
tình hoặc cố tình tham gia lớn hơn giá trị bảo hiểm trong trờng hợp này số tiền bồi
thờng cũng chỉ bằng thiệt hại thực tế và luôn nhỏ hơn hoặc bằng giá trị bảo hiểm.
Trờng hợp công ty bảo hiểm chấp nhận trên giá trị thực tế, ví dụ theo giá trị thay
mới trong trờng hợp này đợc gọi là bảo hiểm theo giá trị thay mới chủ xe phải
đóng phí bảo hiểm khá cao theo các điều khoản bảo hiểm rất nghiêm ngặt.
*Trờng hợp tổn thất bộ phận
Khi tổn thất bộ phận xảy ra, chủ xe sẽ đợc giải quyết theo một trong hai nguyên tắc
trên .
+ Nếu xe ô tô đợc bảo hiểm với số tiền bảo hiểm bằng hoặc thấp hơn giá trị thực tế
thì số tiền bồi thờng đợc tính theo tỷ lệ giữa số tiền bảo hiểm nhân với giá trị thực tế
của xe nhng không đợc vợt quá tỷ lệ phần trăm của bộ phận h hỏng đó trong bảng
cơ quan công an, công ty bảo hiểm để lập kế hoạch điều tra xử lý vụ việc. Trong
vòng 5 ngày kể từ ngày xe bị mất cắp, mất tích chủ xe phải gửi ngay văn bản cho
công ty bảo hiểm .
Trong trờng hợp quá 2 tháng mà xe bị mất cắp, mất tích không tìm thấy đợc thì
công ty bảo hiểm Hà Nội sẽ bồi thờng cho chủ xe ô tô toàn bộ số tiền bảo hiểm đã
23
ghi trong đơn bảo hiểm. Nếu sau khi bồi thờng mà tìm lại đợc chiếc xe ô tô đó thì
công ty bảo hiểm có quyền sở hữu chiếc xe đó và thu hồi giá trị còn lại theo tỷ lệ
phần trăm giã giá trị bảo hiểm và giá trị thực tế của xe.
*Đối với trờng bảo hiểm trùng: Trờng hợp tham gia bảo hiểm trùng theo hai hay
nhiều giấy chứng nhận bảo hiểm (đợc cấp bởi hai hay nhiều công ty bảo hiểm
trong và ngoài hệ thống Bảo Việt) thì số tiền bồi thờng theo mỗi giấy chứng nhận
bảo hiểm sẽ chỉ giới hạn nh sau:
Mức trách nhiệm bảo hiểm ghi
Số tiền bồi thờng Thiệt hại thực tế trên giấy chứng nhận bảo hiểm
theo mỗi giấy chứng = thuộc trách nhiệm x
nhận bảo hiểm bảo hiểm Tổng mức trách nhiệm của tất cả
giấy chứng nhận bảo hiểm
Trong mọi trờng hợp tổng số tiền bồi thờng theo mỗi giấy chứng nhận bảo hiểm
không vợt quá mức trách nhiệm bảo hiểm ghi trên chính giấy chứng nhận bảo hiểm
ấy.
*Mức miễn bồi thờng
Các công ty bảo hiểm áp dụng mức miễn bồi thờng không khấu trừ đối với những
vụ tổn thất dới 200.000VNĐ.
*Tuy nhiên, để giải quyết vấn đề xeô tô tham gia bảo hiểm thấp hơn gía trị thực tế,
trong đó cóp xe nhập khẩu miễn thuế các công ty bảo hiểm đã áp dụng theo các tr-
ờng hợp sau:
- Bảo hiểm theo gía trị thực tế tại thị trờng Việt Nam : khi có tai nạn xảy ra thì bồi
thờng theo quy tắc kết hợp về bảo hiểm xe cơ giới hiện hành.
- Bảo hiểm dới giá trị : số tiền bảo hiểm bằng giá trị chủ xe yêu cầu bảo hiểm . Phí