nghiên cứu giải pháp đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ cho người nhiễm hiv aids được điều trị arv tại thành phố hà nội - Pdf 22

DANH MỤC CÁC CHỮ, KÝ HIỆU VIẾT TẮT
AIDS Acquired Immune Deficiency Syndrome (Hội chứng suy
giảm miễn dịch mắc phải )
ARV Anti-retroviral (thuốc kháng retrovirus)
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHYT Bảo hiểm Y tế
BYT Bộ y tế
HAART highly active antiretroviral therapyphác đồ điều trị tích cực)
HIV Human Immunodeficiency Virus (vi rút gây suy giảm miễn
dịch ở người)
NCMT Nghiện chích ma túy
NTCH Nhiễm trùng cơ hội
OPC Out-patient Clinic (Phòng khám ngoại trú)
PKĐK Phòng khám đa khoa
PKNT Phòng khám ngoại trú
SPSS Statistical Package for the Social Sciences (Phần mềm thống
kê xã hội học)
TTYT Trung tâm y tế
UNAIDS Chương trình Liên hợp Quốc về HIV/AIDS
USAID Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ
VCT Tư vấn xét nghiệm tự nguyện
WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
2.3. Cỡ mẫu và cách chọn 36
2.4. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang định lượng kết hợp
với định tính 37

CHƯƠNG III 55
KẾT QUẢ 55
3.1. Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu 55

-HI3D$$%&,
3.4.2.1. Giải pháp nhân lực Y tế 102
3.4.2.2. Giải pháp về đầu tư kinh phí 102
3.4.2.3. Giải pháp phối hợp liên ngành 102
3.4.2.4. Nhóm các giải pháp về pháp luật, chế độ chính sách 102
3.4.2.5. Các nhóm giải phát can thiệp 103
Các giải pháp chăm sóc và hỗ trợ dinh dưỡng của người nhiễm HIVchủ yếu được
thực hiện tại các cơ sở cung cấp dịch vụ Y tế được thực hiện theo các bước sau: 103
3.4.2.6. Nhóm giải pháp chung 105
-HI3D()*+,!
3.4.3.1. Giải pháp về nhân lực: số lượng và chất lượng 107
a. Điều kiện nhân lực 107
3.4.3.2. Giải pháp liên quan đến cung cấp dịch vụ y tế 109
* Tư vấn tuân thủ 110
* Tư vấn hỗ trợ khi quên liều 110
* Xử trí tác dụng phụ của ARV 111
3.4.3.3. Giải pháp về chuyển tuyến và nhận chuyển tuyến 111
Nắm chắc thực trạng hệ thống các dịch vụ chuyển tuyến 111
Xác định nhu cầu của người bệnh 111
Thảo luận và hỗ trợ người bệnh tiếp cận với các dịch vụ chuyển tuyến 111
Kiểm tra kết quả giới thiệu dịch vụ chuyển tuyến và phản hồi nhận chuyển tuyến. .111
--HI3D()*./0
3.4.4.1. Các giải pháp nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động Thông tin - Giáo dục -
Truyền thông 112
3.4.4.2. Giải pháp nâng cao chất lượng & phát triển dịch vụ chăm sóc xã hội cho
người nhiễm HIV/AIDS 113
3.4.4.3. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực tham gia vào hệ thống chăm sóc sức khỏe
cho người nhiễm 114
3.4.4.4. Giải pháp quản lý nhà nước, cơ chế phối hợp liên ngành trong quản lý, chăm
sóc, hỗ trợ cho người nhiễm HIV/AIDS 114

4.5. Xây dựng mô hình chăm sóc sức khỏe cho người nhiễm HIV/AIDS đang
điều trị ARV tại các phòng khám ngoại trú 134
-1;3()*+J3);KLL8MG8NO-
O 
5PQ8RE
GST*M%#M2DRI;7IMU);!
1%#RO282DEBF@4
>"#()*;$4
-1;37I23 %<=)>?@AB?C1J3)%V88
W8)XYZ4
-[)\2%#W8)XY]+U8^8S2^)-
KẾT LUẬN 146
1. Nhu cầu và thực trạng chăm sóc sức khỏe của người nhiễm HIV/AIDS
đang điều trị ARV tại thành phố Hà Nội: 146
Tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS điều trị tại phòng khám nhưng biết phòng khám có
hoặc không tổ chức sinh hoạt CLB/NTL rất thấp chỉ chiếm 19,59% 147
2. Đánh giá sự đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe và một số yếu tố liên
quan đến khả năng đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe người nhiễm
HIV/AIDS tại các Phòng khám ngoại trú: 147
Đánh giá về sự đáp ứng nhu cầu được cung cấp kiến thức: trong 3.379 đối tượng
phỏng vấn, chỉ có 27,94% đạt 21 điểm trở lên và được đánh giá đạt về đáp ứng nhu
cầu cung cấp kiến thức. Trong đó, phòng khám số ngoại trú TTYT Quận Đống Đa
có tỷ lệ đạt về khả năng đáp ứng kiến thức là lớn nhất (38,46%). Tỷ lệ đạt về khả
năng đáp ứng kiến thức thấp nhất là tại TTYT huyện Ba Vì (11,63%) 147
HI3D$$%&ZR8;_)I3GX`aH3;$baG+DXD$$%&
20$$%&cHI3OdcHI3D2%ScHI3#6
c*)3I3D3M20S3c53*)I38c*)
I3-'
HI3D()*+ZR8;_)HI3DOcHI36782$E
b+cHI3D+DX2^3eEMOR2.f-'

Bảng 6. Tỷ lệ các nội dung kiến thức được cung cấp 58
Bảng 7. Tỷ lệ người nhiễmHIV/AIDS được cung cấp kiến thức từ cán bộ
truyền thông tại phòng khám 59
Bảng 8. Tỷ lệ một số dinh dưỡng mà người nhiễm HIV/AIDS điều trị ARV
được hỗ trợ 60
Bảng 9. Các loại thuốc nâng cao thể trạng bệnh nhân được cung cấp 62
Bảng 10. Tỷ lệ các địa điểm mà người nhiễm HIV/AIDS điều trị ARV từng
bị kỳ thị, phân biệt đối xử 63
Bảng 11. Tỷ lệ hình thức mà người nhiễm HIV/AIDS điều trị ARV bị kỳ
thị, phân biệt đối xử tai PKNT 63
Bảng 12. Tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS điều trị ARV tham gia CLB/NTL.64
Bảng 13. Tỷ lệ các lý do người nhiễm HIV/AIDS điều trị ARV không tham
gia câu lạc bộ, nhóm tự lực 64
Bảng 14. Nguồn thu nhập chính của người nhiễm HIV/AIDS điều trị ARV
65
Bảng 15. Tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS điều trị ARV được các PKNT cho
vay vốn hay gợi ý giới thiệu việc làm 65
Bảng 16. Phân bố đối tượng có thẻ bảo hiểm y tế theo các nguồn 66
Bảng 17. Nội dung kiến thức phù hợp với bệnh nhân 68
Bảng 18. Nội dung kiến thức phù hợp với bệnh nhân giai đoạn chuẩn bị
điều trị 68
Bảng 19. Nội dung kiến thức phù hợp với bệnh nhân giai đoạn điều trị 68
Bảng 20. Hình thức tổ chức có phù hợp và hiệu quả với bệnh nhân 69
Bảng 21. Khả năng tuyên truyền cho người khác sau khi được cung cấp
kiến thức 69
Bảng 22. Kinh phí hỗ trợ tổ chức, đi lại 69
Bảng 23. Phương tiện phục vụ giảng dạy 70
Bảng 24. Bảng tổng điểm và kết quả đánh giá sự đáp ứng nhu cầu hỗ trợ
kiến thức cho bệnh nhân đang điều trị ARV 70
Bảng 25. Bảng tỷ lệ phân bố khả năng đáp ứng về hỗ trợ kiến thức cho

nhân điều trị ARV theo từng PKNT 79
Bảng 43. Trung bình điểm đánh giá khả năng đáp ứng về chăm sóc y tế tại
các phòng khám 79
Bảng 44. Tỷ lệ người nhiễm được tuyên truyền về Luật phòng, chống
HIV/AIDS 80
Bảng 45. Tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS điều trị ARV và người nhà tham gia
các hoạt động xã hội 80
Bảng 46. Tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS điều trị ARV bị kỳ thị, phân biệt đối
xử tại PKNT 80
Bảng 47. Tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS điều trị ARV bị phân biệt đối xử ở
cộng đồng dân cư và gia đình 81
Bảng 48. Tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS điều trị ARV có được PK giới thiệu
tham gia các CLB/NTL 83
Bảng 49. Tỷ lệ bệnh nhân tham gia sinh hoạt đánh giá CLB / NTL người
nhiễm HIV/AIDS là hữu ích 83
Bảng 50. Tỷ lệ bệnh nhân điều trị ARV được hỗ trợ cung cấp thẻ BHYT. 85
Bảng 51. Tỷ lệ bệnh nhân được PK hỗ trợ khi khám, chữa bệnh bằng thẻ
BHYT 85
Bảng 52. Điểm tổng và kết quả đánh giá sự đáp ứng nhu cầu chăm sóc xã
hội 85
Bảng 53. Bảng tỷ lệ phân bố khả năng đáp ứng về hỗ trợ xã hội cho bệnh
nhân điều trị ARV theo từng PKNT 86
Bảng 54. Trung bình điểm đánh giá khả năng đáp ứng về hỗ trợ xã hội tại
các phòng khám 86
Bảng 55. Mối liên quan giữa nội dung kiến thức với khả năng đáp ứng về
kiến thức cho người nhiễm HIV/AIDS trong giai đoạn chuẩn bị điều trị
ARV 87
Bảng 56. Mối liên quan giữa nội dung kiến thức với khả năng đáp ứng về
kiến thức cho người nhiễm HIV/AIDS trong giai đoạn đang điều trị ARV 87
Bảng 57. Mối liên quan giữa phương tiện truyền thông với khả năng đáp

Bảng 74. Tỷ lệ sử dụng thẻ bảo hiểm y tế khám chữa bệnh 122
Bảng 75. Tỷ lệ các bệnh được khám chữa bằng thẻ bảo hiểm y tế 122
Bảng 76. Tỷ lệ bệnh nhân nhận được thuốc nâng cao thể trạng 124
Biểu đồ 1. Nghề nghiệp của các đối tượng 56
Biểu đồ 2. Tỷ lệ các nội dung hoạt động hiệu quả của CLB/NTL 64
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự lan truyền dịch HIV/AIDS gây ra một thách thức lớn trên thế giới đặt ra một
nhu cầu cấp bách cho các nước trong việc thiết kế thực hiện các chương trình dự
phòng điều trị và chăm sóc cho người nhiễm HIV và người bệnh AIDS. Tại Việt Nam,
theo “Báo cáo tổng kết công tác phòng chống HIV/AIDS năm 2012 và kế hoạch
công tác năm 2013”, tính đến hết ngày 30/11/2012 số trường hợp nhiễm HIV/AIDS
hiện còn sống là 208.866 trường hợp, số bệnh nhân AIDS hiện còn sống là 59.839 và
62.184 trường hợp tử vong do AIDS. Về địa bàn dịch HIV/AIDS ghi nhận tăng lên
79.1% số xã/phường/thị trấn báo cáo có người nhiễm HIV ở 98% quận/huyện trong cả
nước. [1] Tính đến tháng 2/2013, trên địa bàn Hà Nội số người nhiễm HIV lũy tích là
trên 24.100 người, số người nhiễm HIV hiện còn sống là hơn 20.300 người (trong đó
số bệnh nhân AIDS còn sống là hơn 5.200 trường hợp) và trên 3.700 trường hợp tử
vong, tỷ lệ nhiễm 283/100.000 dân…100% các quận, huyện đều đã có người nhiễm
HIV/AIDS, 536/577 xã, phường đã phát hiện có người nhiễm HIV (chiếm 92,7%);
5.458 bệnh nhân đang điều trị ARV.
Bắt đầu từ năm 2004, chương trình điều trị thuốc kháng vi rút (ARV) cho bệnh
nhân nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam đã được thực hiện, tuy nhiên, độ bao phủ các
dịch vụ chăm sóc y tế cho người nhiễm HIV ở nước ta vẫn còn ở mức độ thấp, mới chỉ
có 25% số huyện. Trung bình mỗi năm có khoảng 10.000 người nhiễm HIV được đưa
vào điều trị ARV. Điều trị ARV là phải điều trị suốt đời phải tuân thủ chế độ điều trị,
phải có chế độ dinh dưỡng nghỉ ngơi hợp lý để không kháng thuốc. Trong khi bắt đầu
từ năm 2012 các nguồn tài trợ rút vì nước ta thoát nghèo cũng như tình hình lạm phát
toàn cầu. Cạn nguồn tài chính, nếu không hỗ trợ điều trị cho bệnh nhân bằng bảo hiểm
y tế (BHYT) thì chắc chắn họ không đủ kinh phí điều trị, vì người nhiễm HIV/AIDS
chủ yếu là người nghèo, không có công ăn việc làm ổn định chiếm tỷ lệ 81,3%, thu

b. Nhu cầu:
Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện
vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ
nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có.
Nhu cầu chi phối mạnh mẽ đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con
người nói riêng. Nhu cầu được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu và sử dụng
ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống, xã hội.
Tháp nhu cầu của Maslow
Những nhu cầu cơ bản ở phía đáy tháp phải được thoả mãn trước khi nghĩ đến
các nhu cầu cao hơn. Các nhu cầu bậc cao sẽ nảy sinh và mong muốn được thoả mãn
3
ngày càng mãnh liệt khi tất cả các nhu cầu cơ bản ở dưới (phía đáy tháp) đã được đáp
ứng đầy đủ.
Tầng thứ nhất: Các nhu cầu về căn bản nhất thuộc "thể lý" (physiological) -
thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi
]
.
Tầng thứ hai: Nhu cầu an toàn (safety): cần có cảm giác yên tâm về an toàn
thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo.
Tầng thứ ba: Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc
(love/belonging): muốn được trong một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình
yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy.
Tầng thứ tư: Nhu cầu được quý trọng, kính mến (esteem): cần có cảm giác được
tôn trọng, được tin tưởng.
Tẩng thứ năm: Nhu cầu về tự thể hiện bản thân (self-actualization) - muốn sáng
tạo, được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công
nhận là thành đạt.
c. Sức khoẻ : [20]
Sức khoẻ được định nghĩa là “một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh
thần và xã hội chứ không chỉ là không có bệnh và tật (WHO, 1948)” và được xác định

- Đối với các thuốc uống 2 lần / ngày khoảng cách giữa các lần uống thuốc phải
cách nhau 12 giờ.
I.1.2. Nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của người nhiễm HIV/AIDS trên thế giới
I.1.2.1. Nhu cầu về cung cấp kiến thức, thông tin
Một nhu cầu quan trọng được đề cập đến trong báo cáo về nghiên cứu “Đánh giá
nhu cầu của chăm sóc và điều trị HIV/AIDS năm 2011 ở Colorado” là nhu cầu được
cung cấp thông tin. Người nhiễm HIV/AIDS nhấn mạnh rằng họ muốn được cung cấp
thông tin về HIV nói chung và tình hình sức khỏe cá nhân nói riêng, tất cả những gì
cần để họ tự chăm sóc mình và nơi họ có thể tiếp cận được với các dịch vụ. Nhu cầu
thông tin về HIV và những ảnh hưởng của nó đến người bệnh như thế nào được xếp
thứ tư trong số các vấn đề cần được trợ giúp với những người được khảo sát trong
nghiên cứu lúc mới biết tình trạng HIV. Tỷ lệ này chiếm 43% trong tổng toàn bộ số
mẫu và 39% số mẫu được lấy tại Denver; phụ nữ lựa chọn ưu tiên cho thông tin nhiều
hơn ở nam giới (52% ở phụ nữ và 39% ở nam giới); 58% là người Mỹ gốc Phi, 41% là
người Latinh và 39% là người da trắng. Khi được hỏi về nhu cầu nào cần thiết nhất khi
họ biết mình nhiễm HIV thì những người tham gia trả lời phỏng vấn đã thảo luận về
tầm quan trọng của thông tin và xếp chúng đứng thứ hai trong các nhu cầu cần được
hỗ trợ. Những loại thông tin mà người bệnh muốn được cung cấp bao gồm về HIV và
5
ảnh hưởng của chúng, làm thế nào để HIV không còn là một bản án tử hình và họ cần
làm gì để có thể tiếp cận được với các dịch vụ gồm cả theo dõi quản lý bệnh cho cá
nhân [43]. Ngoài ra những người nhiễm HIV/AIDS cũng rất cần các thông tin về sức
khỏe để tự chăm sóc bản thân và những thông tin về chính sách cho người nhiễm.
I.1.2.2. Nhu cầu về hỗ trợ dinh dưỡng
Chu kỳ của suy dinh dưỡng và nhiễm trùng trong hoàn cảnh nhiễm HIV/AIDS
Nguồn: RCQHC/FANTA, 2003
Cụ thể hơn với vấn đề dinh dưỡng của người nhiễm HIV/AIDS, theo nghiên cứu
“Nhu cầu dinh dưỡng cho người nhiễm HIV/AIDS-WHO” của Bác sĩ, Phó giáo sư
Steven Grinspoon Đại học Y Harvard và cộng sự năm 2003 cho thấy: đầy đủ dinh
dưỡng đạt được tốt nhất thông qua sự tiêu thụ của một chế độ ăn uống lành mạnh và

độ RDA có thể không đủ để sửa chữa thiếu sót về dinh dưỡng trong các cá nhân nhiễm
HIV.
Ảnh hưởng của sự sụt cân và suy dinh dưỡng đối với người nhiễm HIV:
Nguyên nhân chính khiến người nhiễm HIV bị sụt cân và suy dinh dưỡng là do: nhu
cầu năng lượng gia tăng do bị nhiễm trùng. Sự liên quan giữa HIV và suy dinh dưỡng
đã được nhiều nghiên cứu trên thế giới chứng minh. Theo như nghiên cứu ở Malawi
năm 2005, ước tính có 14,4% người nhiễm HIV và có khoảng 5% dân số dưới 5 tuổi bị
suy dinh dưỡng nặng, trong đó có rất nhiều trẻ em nhiễm HIV [47].
Theo nghiên cứu của Green năm 1995 thì tình trạng suy dinh dưỡng ở người
nhiễm HIV/AIDS là khá phổ biến [32]. HIV/AIDS thường được mô tả là một chứng
bệnh giết người. Đó là bởi vì những người nhiễm HIV có nguy cơ cao bị sút cân và trở
thành suy dinh dưỡng. Họ có rủi ro dễ mắc nhiều chứng bệnh và đặc biệt là mắc bệnh
lao dẫn đến tử vong. Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy tình trạng suy dinh
dưỡng và mất cân nặng thường do ba nguyên nhân: do ăn vào không đủ năng lượng,
nhu cầu về năng lượng tăng lên do mắc các bệnh nhiễm trùng và giảm hấp thu các chất
dinh dưỡng. Người nhiễm HIV cũng không cần nhiều protein cung cấp năng lượng
trong khẩu phần hơn người bình thường, mà họ cần nhiều năng lượng hơn [39]. Có
nghĩa là tỷ lệ cân đối giữa các chất sinh năng lượng vẫn như người bình thường nhưng
năng lượng sẽ tăng lên theo tình trạng bệnh của người nhiễm HIV/AIDS. Theo khuyến
cáo của WHO thì trong giai đoạn chưa chuyển thành AIDS thì nhu cầu năng lượng gia
tăng khoảng 10% để duy trì trọng lượng cơ thể [53], nếu mắc bệnh lao thì nhu cầu cần
tăng thêm từ 25-30% [52]. HIV có thể gây ra hoặc ảnh hưởng tới tình trạng suy dinh
dưỡng và do vậy càng gây tổn hại hơn cho hệ miễn dịch vốn đã bị virut HIV tấn công,
tăng khả năng bị nhiễm trùng cơ hội. Các bệnh nhân không ăn uống tốt sẽ rất khó sử
dụng ARV do họ thường bị những tác dụng phụ gây khó chịu và có rủi ro cao khiến họ
rất dễ dẫn tới bỏ thuốc điều trị. Do vậy, rõ ràng mối liên quan giữa điều trị HIV/AIDS
và chăm sóc dinh dưỡng là mật thiết với nhau. Đặc biệt có nghiên cứu cho thấy mối
7
liên quan chặt chẽ khác giữa thiếu hụt vi chất (nhất là kẽm) và tế bào CD4. Điều này
cho thấy vai trò quan trọng của kẽm trong việc hỗ trợ miễn dịch [21]. Tuy nhu cầu

8
Người nhiễm HIV/AIDS có thể phải dùng một số loại thuốc bao gồm: thuốc
kháng vi rút (ARV) và các phương thuốc thảo dược để điều trị các loại nhiễm trùng
khác nhau. Một vài loại cũng cần sử dụng bổ sung vi chất dinh dưỡng như sắt, Vitamin
A hoặc các Vitamin tổng hợp. Thuốc có thể tương tác với chất dinh dưỡng nhất định
gây giảm hiệu quả của các chất này. Ví dụ: isonazid, được sử dụng trong điều trị bệnh
lao, ức chế quá trình trao đổi chất của Vitamin B6 và có thể gây ra thiếu hụt Vitamin
B6. Tương tự như vậy, các kháng sinh Tetracyline ức chế hấp thụ canxi, magie, kẽm
và sắt. Thuốc cũng có thể gây tác dụng phụ như buồn nôn, nôn mửa, mất hoặc thay đổi
vị giác, mất đi cảm giác thèm ăn và bị tiêu chảy. Những tác dụng phụ có thể dẫn đến
giảm hấp thu thức ăn, kém hấp thu chất dinh dưỡng và giảm cân. Một số loại thuốc,
như thuốc kháng vi rút HIV có thể là nguyên nhân của các hiệu ứng bên cạnh việc trao
đổi chất làm tăng nguy cơ của các chất có liên quan đến các bệnh tim mạch và xương.
Thực phẩm cũng có thể ảnh hưởng xấu đến sự phân bố, hấp thụ, trao đổi chất và bài
tiết của thuốc. Cả nguyên tố đa lượng và vi chất dinh dưỡng đều có thể làm giảm hiệu
quả của thuốc. Do đó, việc nhận thức đúng về tương tác thuốc và thực phẩm là quan
trọng để có thể giảm được các tác dụng phụ bất lợi. Vì vậy, cần phải có chế độ hỗ trợ
bổ sung dinh dưỡng đầy đủ và hợp lý cho người nhiễm HIV/AIDS[48].
I.1.2.3. Nhu cầu về chăm sóc y tế
Quyền được chăm sóc sức khỏe nằm trong nội hàm của quyền được sống thích
đáng nên ở Điều 25 Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền (UDHR), theo đó, “mọi người có
quyền được hưởng một mức sống thích đáng, đủ để đảm bảo sức khỏe và phúc lợi của
bản thân và gia đình về các khía cạnh ăn mặc và chăm sóc y tế và các dịch vụ xã hội
cần thiết… Các bà mẹ và trẻ em có quyền được hưởng sự chăm sóc và giúp đỡ đặc
biệt”.
Người nhiễm HIV/AIDS là người bệnh suốt đời vì hiện nay chưa có thuốc điều trị
đặc hiệu mới có thuốc điều trị kháng vi rút HIV (ARV) mặt khác vi rút HIV là vi rút
gây suy giảm miễn dịch nên người nhiễm HIV hay bị mắc các bệnh nhiễm trùng hơn
những người khác (nhiễm trùng cơ hội) chính vì vậy người nhiễm HIV/AIDS có nhu
cầu chăm sóc y tế cao hơn những người bình thường khác.

dụng và buộc phải chuyển sang phác đồ bậc 2. Khi đó người bệnh sẽ phải đối mặt với
nguy cơ bị tác dụng phụ của thuốc và áp lực về tài chính lớn hơn. Thậm chí, người
bệnh phải đối mặt với nguy cơ hết phác đồ điều trị, nhất là khi người bệnh không tuân
thủ uống thuốc phác đồ bậc 2. Cụ thể, nếu tính chi phí thuốc điều trị theo phác đồ bậc
1 (tính theo giá do các chương trình, dự án quốc tế hỗ trợ) thì mỗi bệnh nhân HIV chỉ
mất khoảng 100 - 150 USD/năm (nếu bệnh nhân tự mua ngoài thị trường thì sẽ mất 1,2
10
- 1,5 triệu đồng/tháng). Nhưng nếu phải chuyển lên phác đồ bậc 2, chi phí điều trị ngay
trong các cơ sở y tế đã tăng khoảng 8 lần, khoảng 1.000 - 1.300 USD/năm/người bệnh.
Đặc biệt, khi người bệnh đã bị kháng thuốc bậc 2 thì sẽ khó khăn để tiếp tục điều trị,
hiện tại Việt Nam mới chỉ có đến phác đồ bậc 2 (trên thế giới có phác đồ điều trị bậc
3). Hết phác đồ điều trị, có nghĩa là người bệnh sẽ nhanh chóng phải đối diện với giai
đoạn AIDS, giai đoạn cuối cùng của quá trình nhiễm HIV.
Vì những lý do trên để người nhiễm HIV/AIDS được chăm sóc sức khỏe tốt, được
khám và điều trị nhiễm trùng cơ hội kịp thời, được tư vấn, điều trị ARV, được kiểm tra
sức khỏe xét nghiệm cận lâm sàng phục vụ cho quá trình điều trị đầy đủ thì người
nhiễm HIV/AIDS cần phải được chăm sóc sức khỏe thường xuyên tại tuyến chăm sóc
sức khỏe ban đầu.
Hầu hết người nhiễm HIV/AIDS chỉ ra những nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ đã
không được đáp ứng, đặc biệt là nhu cầu để giảm đau, quản lý triệu chứng , hỗ trợ tài
chính và hỗ trợ dinh dưỡng. Hơn 50% các chuyên gia chăm sóc y tế báo cáo họ đã
không được đào tạo chăm sóc giảm nhẹ. Họ chỉ ra rằng chính sách không bao phủ đầy
đủ và các nguồn lực là trở ngại chính cho sự cung cấp các chăm sóc giảm nhẹ tối ưu.
Đáp ứng nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ cho người nhiễm HIV/AIDS là biện pháp tốt
nhất làm tăng cường chất lượng sống của người nhiễm HIV [34].
Năm 2006, tác giả Addy Chen: thông qua nghiên cứu được thực hiện với 3.148
người trong Mạng lưới của những người đang sống với HIV tại khu vực châu Á Thái
Bình Dương (APN+): 10 nước tham gia gồm Trung Quốc, Cam-pu-chia, Indonesia,
Ấn Độ, Malaysia, Myanmar, Nepal, Singapore, Thái Lan, Việt Nam đã phát hiện [3]:
- 59% những người tiêm chích ma túy và 46% những người nam quan hệ tình

ngày là liên quan đáng kể với tình trạng sức khỏe của người nhiễm HIV (p <0.001).
Những nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ có thể thấy được của người nhiễm HIV là: Nhu cầu
thuốc men, nhu cầu tâm lý và nhu cầu hỗ trợ kinh tế :77%. Nhu cầu chăm sóc tại nhà:
47%. Nhu cầu hỗ trợ dinh dưỡng: 44%.
Nhu cầu giải thoát nỗi đau và giải quyết của các triệu chứng khác: 43%.
I.1.2.4. Nhu cầu về hỗ trợ kinh tế - xã hội
a. Nhu cầu về tâm lý xã hội:
Người nhiễm HIV/AIDS thường là những người có nguy cơ cao, trình độ văn hóa
thấp nên họ thường tự ti, mặc cảm, sợ mọi người phát hiện ra mình bị nhiễm HIV. Mặt
khác, nhiễm HIV hiện nay vẫn chưa điều trị khỏi hẳn, tỷ lệ tử vong cao. Chính vì vậy,
12
việc hỗ trợ tâm lý cho người nhiễm HIV là công việc không thể thiếu.Trong một
nghiên cứu tại Trung tâm Hospitalier de Pneumo-phtisiologie de Akron, Bécnin, cho
thấy: Việc chăm sóc tâm lý xã hội của những người sống chung với HIV/AIDS là một
yếu tố quan trọng để cải thiện sức khỏe của họ. Các nhu cầu của những người sống
chung với HIV không giới hạn trong y học và chăm sóc y tế. Họ yêu cầu các chăm sóc
như hỗ trợ tâm lý, xã hội và tinh thần. Sự hỗ trợ này có thể giúp làm giảm nhận thức
không thể tránh khỏi mối quan hệ nhân quả giữa nhiễm HIV và tử vong. Kết quả
nghiên cứu cho thấy đã có một cơ cấu tổ chức khá tốt, một hiệu suất tương đối tốt của
nhân viên về việc cung cấp chăm sóc và mức độ hài lòng của người sử dụng [27].
b. Nhu cầu về điều kiện nhà ở:
Chỉ với phần “Đánh giá nhu cầu của người nhiễm HIV” từ nghiên cứu về sự kì thị
tại Vương Quốc Anh năm 2001-2002, đã tiết lộ đáng kể về nhu cầu nhà ở và nơi cư
trú. Trong tổng số 1821 người nhiễm HIV tham gia nghiên cứu thì có:
- 18% cảm thấy không hài lòng về điều kiện sống và nhà ở hiện tại của họ.
- 21% gặp phải những vấn đề rắc rối về nhà ở trong 12 tháng qua (bao gồm 4%
những người vô gia cư).
- 16% đang gặp phải những vấn đề nhà ở và rất cần được giúp đỡ và hỗ trợ một
cách hữu ích.
Với mẫu nghiên cứu quốc gia, trong số những người nhiễm HIV báo cáo về vấn đề

ngại thông tin cá nhân bị tiết lộ nên không tiếp tục theo đuổi các vụ kiện cần được trợ
giúp pháp lý. Khách hàng có thể mất kiên nhẫn, không tiếp tục theo đuổi các vụ kiện
cần được trợ giúp pháp lý vì thủ tục hành chính thường phức tạp, mất nhiều thời gian
Đặc biệt với người nhiễm HIV, hỗ trợ tâm lý còn đóng vai trò quan trọng hơn, nhất là
ở người mới bắt đầu nhiễm HIV hoặc mới điều trị ARV. Hiện nay chăm sóc người
nhiễm HIV toàn diện thì không thể thiếu việc chăm sóc về mặt xã hội [8].
Tóm lại nhu cầu hỗ trợ chăm sóc xã hội của người nhiễm HIV rất đa dạng như tiếp
cận đầy đủ các dịch vụ y tế , giáo dục , hướng dẫn về chăm sóc dinh dưỡng cho người
sống chung với HIV, xóa bỏ hoàn toàn kỳ thị và phân biệt đối xử trong báo cáo của tổ
chức Save the children UK tháng 12/2005 số người nhiễm HIV/AIDS gặp khó khăn có
50% nhắc đến sự thiếu thốn về kinh tế, 25% lo lắng thiếu thốn tình cảm, 10% hay bị
ốm đau.
I.1.3. Một số các giải pháp đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ người nhiễm
HIV/AIDS đã được áp dụng trên thế giới
Với những nhu cầu đặt ra của người nhiễm HIV/AIDS được tìm hiểu qua các
nghiên cứu, các nhà chính sách, lập kế hoạch cũng như các bên liên quan cùng tất cả
14

Trích đoạn Giải pháp phát triển nguồn nhân lực tham gia vào hệ thống chăm sóc sức khỏe Giải pháp hỗ trợ duy trì và thành lập các CLB/NTL của người nhiễm Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu Đánh giá thực trạng đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe người nhiễm xuất một số giải pháp đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho ngườ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status