đánh giá ảnh hưởng của thời điểm chọc hút noãn đến chất lượng noãn và chất lượng phôi đối với phác đồ dài, phác đồ gnrh antagonist - Pdf 22

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Năm 1978, Louise Brown, đứa trẻ đầu tiên trên thế giới ra đời bằng
phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm, từ đó đến nay đã có khoảng 4 triệu trẻ
em thuộc mọi màu da, quốc tịch đã được sinh ra bằng phương pháp này. Năm
2010 Robert Edwards đã được Viện Hàn lâm Thuỵ Điển trao giải Nobel Y học
với công trình “ Phát triển kỹ thuật Thụ tinh trong ống nghiệm ”. Thụ tinh trong
ống nghiệm ra đời đem lại niềm vui vô bờ bến cho các cặp vợ chồng hiếm muộn
giúp họ được hưởng niềm hạnh phúc chính đáng.
Thụ tinh trong ống nghiệm là một phương pháp thụ tinh theo đó trứng
được thụ tinh bằng tinh trùng bên ngoài cơ thể, trong ống nghiệm, được áp dụng
cho những cặp vợ chồng hay những người phụ nữ đang ở độ tuổi sinh sản vì bất
kỳ lý do nào đó mà tinh trùng không thể thụ tinh cho trứng bằng phương pháp tự
nhiên.
Trong quá trình thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm thì một
trong những giai đoạn quan trọng là kích thích buồng trứng bằng phác đồ kích
thích buồng trứng tạo những nang noãn cần thiết. Một nghiên cứu cho thấy sau
khi tiêm hCG 6000 IU đánh giá bằng siêu âm trên những bệnh nhân kích thích
buồng trứng bằng Clomiphen. hCG được tiêm sau khi có ít nhất một nang ≥
18mm. Quan sát thấy nang bị vỡ sau 38,3 giờ. Thời gian vỡ nang thay đổi theo
từng bệnh nhân từ 1- 6 giờ. Một nghiên cứu khác cho thấy thời gian phóng noãn
trung bình là 44,4 giờ và dao động từ 36 – 48h [1].
Để xác định thời điểm tối ưu để chọc hút noãn thì phải cân nhắc đến thời
điểm mà hCG có hoạt tính và nồng độ đủ để gây trưởng thành noãn. Nếu chọc
hút quá sớm thì phần lớn là noãn GV hoặc ở giai đoạn M I, trong khi đó chọc
hút muộn thì có thể sẽ phóng noãn sớm và giảm phức hợp noãn tế bào hạt.
2 Mansour nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên trên 90 bệnh nhân

và nằm chính giữa hệ viền. Vùng dưới đồi có đường liên hệ trực tiếp theo hai
hướng: hướng đi lên qua nhiều vùng của não, đặc biệt vùng đồi thị trước và
vùng vỏ của hệ viền, hướng đi xuống qua thân não và chủ yếu đi đến cấu trúc
lưới của não giữa, cầu não và hành não. Vùng dưới đồi có nhiều neurone tập
trung thành nhiều nhóm nhân. Nhân quan trọng nhất ở vùng dưới đồi là nhân
trên thị và nhân cạnh não thất.
Các neurone của vùng dưới đồi ngoài chức năng dẫn truyền xung động thần
kinh như các neurone của cấu trúc thần kinh nó còn có chức năng tổng hợp và
bài tiết các hormone. Vùng dưới đồi có mối liên hệ mật thiết qua đường mạch
máu và đường thần kinh đối với tuyến yên. Các hormone do vùng dưới đồi bài
tiết sẽ theo những con đường này đến dự trữ hoặc tác động ( kích thích hoặc ức
chế ) đến chức năng tuyến yên. Nhân cung ở vùng lồi giữa có ý nghĩa rất lớn
trong việc tổng hợp và chế tiết GnRH (Gonadotropin Relearing Hormone). Từ
các nhân này các tế bào thần kinh có hoạt tính chế tiết sẽ đi vào vùng có hệ
thống động mạch của tuyến yên tạo nên hệ thống thần kinh mạch máu của thuỳ
trước tuyến yên. Như vậy vùng dưới đồi là một trung tâm điều phối hệ thống
trao đổi thông tin thần kinh và thể dịch.
GnRH có vai trò quan trọng đối với sự sinh sản, kích thích hoạt động của
tuyến yên. GnRH là một phân tử decapeptit, nó không những được sản xuất từ
4

các neuron của vùng dưới đồi mà còn được tạo ra tại buồng trứng, tuyến yên,
tuyến vú và rau thai [3].
GnRH được tiết ra theo dạng xung vào hệ thống mạch cửa của thuỳ trước
tuyến yên, xung tiết GnRH dao động từ 3 cho đến 14 lần một ngày tuỳ vào giai
đoạn của chu kỳ kinh [4]. GnRH gắn kết với các thụ thể màng đặc hiệu của các
tế bào sản xuất hormone hướng sinh dục sẽ tổng hợp mới và chế tiết FSH và
LH theo cơ chế: gắn vào các thụ thể làm tăng tính thấm calci, khiến calci nội
bào tăng và hoạt hoá các tiểu đơn vị của gonadotropin.
Khi sử dụng GnRH liều cao hoặc liên tục sẽ làm nghẽn kênh calci và dẫn

Nồng độ FSH và LH thay đổi trong một chu kỳ kinh nguyệt, chúng ở mức
độ thấp khi mới bắt đầu chu kỳ kinh nguyệt, sau đó tăng dần và đạt đỉnh cao
trước khi phóng noãn khoảng một ngày.
Thuỳ sau của tuyến yên gồm các tế bào giống như tế bào thần kinh mô
đệm, các tế bào này không có khả năng chế tiết hormone. Chúng chứa các
hormone do vùng dưới đồi bài tiết ra là Vasopressin và Oxytoxin.
1.1.3 Buồng trứng.
Mỗi phụ nữ có 2 buồng trứng nằm ở 2 hố chậu, mỗi buồng trứng nặng từ 4
đến 8gam, chiều dài – chiều rộng – chiều dày khoảng : 4,2cm – 2,1cm – 1,3cm
[5]. Buồng trứng có rất nhiều nang noãn, số lượng nang noãn này giảm rất nhanh
theo thời gian. Ở tuổi thai 20 tuần thì hai bên buồng trứng có 6 – 7 triệu nguyên bào
noãn [6], khi ra đời thì số lượng nang noãn chỉ còn khoảng 1 – 2 triệu nang, số
lượng nang noãn này không tăng thêm mà chỉ giảm đi [7] . Đến tuổi dậy thì chỉ còn
6

khoảng 300.000 nang [8]. Trong suốt thời kỳ sinh sản chỉ có khoảng 400 - 500
nang phát triển tới trưởng thành và phóng noãn hàng tháng, số còn lại bị thoái hoá
[4]. Buồng trứng trái và buồng trứng phải có số lượng nang noãn chưa phát triển là
tương đương nhau [9].
Buồng trứng hoạt động chịu sự kiểm soát của tuyến yên qua 2 hormone
hướng sinh dục FSH và LH. Buồng trứng có 2 chức năng: chức năng ngoại tiết
tạo ra noãn và chức năng nội tiết tạo các hormone sinh dục.
1.1.3.1 Chức năng ngoại tiết (sinh noãn)
Nang noãn nguyên thủy có đường kính 0,05 mm. Dưới tác dụng của FSH
nang noãn lớn lên, trưởng thành. Nang noãn trưởng thành có đường kính xấp xỉ
20 mm. Noãn chứa trong nang này cũng trưởng thành có đường kính khoảng
100 m [10]. Dưới tác dụng của LH nang noãn trưởng thành phóng ra một noãn
có thể thụ tinh được vào giữa chu kỳ kinh nguyệt [11].
1.1.3.2 Chức năng nội tiết (chế tiết hormon sinh dục)
Buồng trứng chế tiết ra 3 hormon chính: estrogen, progesterone và androgen là

Khi bắt đầu khởi động phân bào giảm nhiễm các tế bào noãn trở thành
noãn bào và kết hợp với tế bào hạt để hình thành các nang nguyên thủy dường
như để bảo vệ noãn khỏi thoái hóa, bởi vì chúng không thể tồn tại ngoài tháng
thứ bảy của thai kỳ mà không bước vào phân bào giảm nhiễm. Vì vậy, buồng
trứng ở trẻ sơ sinh thường không có tế bào noãn.

Hình 1.2: Sự chuyển đổi từ nang nguyên thủy thành nang thứ cấp.
(Nguồn Principles and Practice of Fertility Preservation 2011)
Trong thời gian từ khi sinh đến khi dậy thì số nang nguyên thuỷ và nang
noãn giảm nhanh từ vài triệu xuống còn khoảng 1000 khi bước vào tuổi mãn
kinh [5].
Mỗi chu kỳ, có khoảng vài trăm nang noãn nguyên thủy được huy động vào
nhóm nang noãn phát triển để sau khoảng 12 tuần có một nang noãn đạt đến giai
đoạn trưởng thành và phóng noãn. Cơ chế của sự huy động các nang noãn
nguyên thuỷ vẫn chưa được hiểu rõ, dường như không phụ thuộc vào sự kiểm
soát của tuyến yên và có thể phụ thuộc vào các yếu tố nội tại của buồng trứng.
9

1.2.2 Nang sơ cấp (Primary follicle)
Nang sơ cấp chứa noãn đang trưởng thành, bao quanh bởi một lớp tế bào
hạt một hàng, tế bào hạt bắt đầu chuyển sang hình khối. Noãn thay đổi tăng kích
thước 50 μm rồi 100 μm. Giữa tế bào hạt và noãn xuất hiện một màng trong
chứa glycoprotein gọi là màng trong suốt. Giai đoạn cuối của nang sơ cấp, noãn
có đường kính 100 μm bao quanh là màng trong suốt, một hàng tế bào hình khối
rồi đến màng đáy. Ở giai đoạn này các tế bào hạt bắt đầu trình diện các thụ thể
của FSH [5].

Hình 1.3: Sự chuyển đổi nang tiền hang thành nang hang.
(Nguồn Principles and Practice of Fertility Preservation 2011)
1.2.3 Nang thứ cấp (Secondary follicle)

Nơi sản xuất
Tác dụng
Kích thích sự tăng trưởng của nang SCF (Yếu tố tế bào
gốc), Kit-ligand
Tế bào hạt
Khởi động noãn tăng trưởng của nang
nguyên thủy và kích thích tế bào vỏ
nguyên phân; duy trì tăng trưởng tế bào
hạt ở nang tiền hang và nang hang, tăng
tổng hợp androgen ở tế bào vỏ.

FGF2
Noãn nguyên thuỷ và noãn
đang tăng trưởng,
Tế bào hạt
Thúc đẩy tuyển mộ nang nguyên thủy;
ngăn chặn chết theo chương trình của tế
bào hạt; kích thích tế bào hạt, tế bào kẽ

IGF2: Yếu tố tăng
trưởng giống
Insulin
Tế bào noãn ở giai đoạn
nguyên phân của nang


Tăng cường cảm ứng của tế bào vỏ
hoàng thể với LH để tăng sản xuất
Androgen, Progesterone
TGF-β
Tế bào vỏ của nang hang
Ức chế tăng sinh tế bào hạt, tế bào vỏ
nhưng kích thích biệt hóa tế bào hạt ,
tăng sản xuất Inhibin và Inhibits E
2

Ức chế tăng trưởng nang hoặc thúc đẩy sự thoái hoá của nang
12

MIH
Từ GC, dừng khi đến giai
đoạn sớm của nang hang
Ức chế tuyển mộ nang nguyên thủy và
nang tiền hang
Activins
GCs ở giai đoạn tiền hang,
giảm khi nang trưởng
thành, có thể làm ngưng
trệ tăng trưởng nếu vẫn
còn cao.
Kích thích sự trình duyệt thụ thể FHS ở
tế bào hạt khi mới hình thành và kích
thích tăng sinh tế bào hạt; giảm sản xuất
Androgen do sự kích thích của LH; giảm
sản xuất Progesterone từ tế bào vỏ.

những tế bào cơ vân chứa actin và myosin, những tế bào này được phân bố bởi
thần kinh giao cảm và phó giao cảm, kích thích sự co thắt tế bào ở vỏ ngoài.
1.2.6 Nang thoái triển (atretic folliele)
Nếu nang nguyên thuỷ được chọn thì: hoặc nó trưởng thành và được phát
triển thành nang Graaf, hoặc thoái hoá bởi quá trình thoái triển. Trong quá trình
13

này các tế bào hạt và noãn bị tiên tan nhưng các tế bào vỏ phì đại mạnh và tồn
tại gọi là tế bào tuyến kẽ thứ phát. Xét nghiệm giải phẫu bệnh lý không tìm thấy
noãn và các lớp tế bào hạt thì đó là nang thoái triển.
1.2.7 Sự trưởng thành của noãn
Khi có sự xuất hiện của đỉnh LH noãn sơ cấp hiện diện trong nang de
Graaf sẽ tiến hành quá trình trưởng thành của nhân và của tế bào chất.
Sự trưởng thành của nhân : Là sự tiếp tục quá trình giảm phân, noãn GV
(noãn sơ cấp) sẽ đi qua các giai đọan GVBD (gerninal vesicle break down) 15
giờ sau đỉnh LH; M I 20 giờ sau đỉnh LH, và M II 35 giờ sau đỉnh LH. Phóng
noãn sẽ xảy ra vào khoảng 36 giờ sau đỉnh LH.
Sự trưởng thành của tế bào chất : Các bào quan trong tế bào chất sẽ được
sắp xếp lại, chuẩn bị cho quá trình thụ tinh, và sự tổng hợp protein cũng được
sắp xếp lại để chuẩn bị cho sự phát triển của phôi sau này.
1.2.8 Sự phóng noãn
Thời gian phóng noãn trung bình 34 – 36 giờ sau khi đỉnh LH xuất hiện.
Tuy nhiên hàm lượng đỉnh LH phải được duy trì ít nhất từ 14 – 27 giờ để đảm
bảo cho sự trưởng thành hoàn toàn của noãn. Đỉnh LH thường kéo dài từ 48 – 50
giờ.
Cơ chế của sự phóng noãn:
- Sự phóng noãn xảy ra trước hết là do đậm độ estradiol cao gây hồi tác
dương đối với vùng dưới đồi-tuyến yên làm xuất hiện đỉnh LH.
- Thứ hai là nước nang căng to, áp lực trong nang tăng gây vỡ nang,
- Thứ ba là có vai trò của prostaglandin gây co bóp lưới nhẵn quanh nang,

hoặc hCG đạt yêu cầu thì kích thích phóng noãn. Đây là bước khởi đầu rất quan
trọng liên quan đến các bước tiếp theo của thụ tinh trong ống nghiệm. Kích thích
phóng noãn diễn biến 2 bước.
Bước 1: Kích thích nang noãn phát triển và chín.
16

Bước 2: Kích thích nang chín phóng noãn [17].
Sau khi kích thích buồng trứng:
- Tăng số lượng các nang noãn trưởng thành.
- Vượt quá giai đoạn chọn lọc và vượt trội của các nang noãn.
- Giảm đi sự hoạt hoá các nang noãn làm nhiều nang noãn phát triển ở giai
đoạn trưởng thành.
- Nội mạc tử cung chuẩn bị tốt thuận lợi cho quá trình làm tổ [18].
+ Mục đích kích thích buồng trứng.
- Đủ số lượng nang noãn cầu thiết (hiệu quả).
- Lượng thuốc sử dụng mức tối thiểu(tiết kiệm).
- Không bị quá kích buồng trứng (an toàn).
1.3.3 Các phác đồ kích thích buồng trứng trong thụ tinh trong ống nghiệm
1.3.3.1 Phác đồ GnRH agonist + gonadotropins
FSH có tác dụng kích thích sự phát triển của nang noãn. GnRH agonist có tác
dụng ngăn ngừa sự xuất hiện đỉnh LH sớm, hạn chế hoàn toàn hiện tượng phóng
noãn và hoàng thể hoá sớm, làm tăng số noãn thu được trong một chu kỳ và tỷ lệ
noãn trưởng thành cao. Có hai phác đồ kích thích buồng trứng phổ biến là phác
đồ dài và phác đồ ngắn.
a Phác đồ dài (long protocol)
Diphereline 0,1mg tiêm dưới da trong 14 ngày liên tục bắt đầu từ ngày 21
hoặc từ ngày đầu của chu kỳ kinh sau đó phối hợp với FSH thì liều Diphereline
giảm một nửa còn 0,05 mg. Thời gian phối hợp này thường kéo dài 10 đến 12
ngày.
17

thấp hơn ở phác đồ GnRH antagonist.
Một nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên kích thích buồng trứng
bằng GnRH antagonist tiêm hàng ngày nhóm 1 nhận 10000 IU hCG khi có 3
nang ≥ 17mm (208 bệnh nhân) nhóm 2 tiêm hCG sau 2 ngày (205 bệnh nhân).
Số noãn, số thụ tinh số phôi chuyển khác biệt không có ý nghĩa. Tuy nhiên tỷ lệ
có thai thấp hơn có ý nghĩa ở nhóm 2 (25% so với 35,6%) [21].
1.3.4 Theo dõi sự phát triển của nang noãn
Theo dõi sự phát triển của nang noãn bằng định lượng hàm lượng
estrogen trong máu và siêu âm nang noãn bằng đầu do âm đạo. Tốc độ phát triển
của nang noãn từ 1 – 2mm/ngày và nang noãn trưởng thành có đường kính 18 –
19 mm. Hàm lượng estradiol khoảng 150 – 250 pg/mL trong một nang noãn
trưởng thành.
1.3.5 Hút noãn
Hút noãn qua siêu âm đầu dò âm đạo được thực hiện sau khi tiêm hCG 34
– 36 giờ, thời gian này tùy từng cơ sở, sau đó sẽ thực hiện IVF hoặc ICSI
1.3.6 Chuyển phôi vào buồng tử cung
Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ có thai và tỷ lệ làm tổ bao gồm sự chấp
nhận của tử cung, chất lượng của phôi và kỹ thuật chuyển phôi. Mục tiêu để
chuyển phôi thành công là đưa phôi và buồng tử cung không gây sang chấn và
đặt phôi vào vị trí làm tổ tối ưu dưới sự hướng dẫn của siêu âm. Chuyển phôi
được thực hiện sau hút noãn vào ngày thứ hai ( giai đoạn bốn tế bào ), ngày thứ
ba ( giai đoạn 8 tế bào) hoặc ngày thứ 5 ( giai đoạn phôi nang - blastocyte)
19

1.3.7 Tiêm tinh trùng vào bào tương của noãn ( Intracytoplasmic sperm
injection – ICSI )
Đây là kỹ thuật trợ giúp cho quá trình thụ tinh giữa noãn và tinh trùng
trong trường hợp số lượng và chất lượng tinh trùng quá kém. Kỹ thuật ICSI
được thực hiện thành công trên thế giới vào năm 1992. Tại Việt Nam, ICSI được
áp dụng thành công đầu tiên tại Bệnh viện Từ Dũ vào năm 1998. Kỹ thuật ICSI

đối với mức độ nặng. Tại trung tâm hỗ trợ sinh sản Bệnh viện Phụ sản Trung
ương năm 2006, tỷ lệ hội chứng quá kích buồng trứng là 8,7%.
Phân loại quá kích buồng trứng theo Golan 1989.
 Độ I (nhẹ): đau tức vùng hạ vị, kích thước buồng trứng trên siêu âm
< 5cm, E2 tăng cao.
 Độ II (trung bình): Đau hạ vị, bụng chướng do có nhiều dịch trong ổ
bụng, kích thước buồng trứng < 12cm.
 Độ III (nặng): Bụng chướng căng, nôn, buồn nôn, khó thở, có thể
tràn dịch màng phổi, màng tim, siêu âm có nhiều dịch trong ổ bụng,
hai buồng trứng ≥ 12 cm. Hematocrit tăng do cô đặc máu.
Các yếu tố nguy cơ gây nên hội chứng quá kích buồng trứng: bao gồm
bệnh nhân trẻ tuổi < 35 tuổi, số lượng nang noãn nhiều > 20 nang, hàm lượng
estradiol > 3000pg/ml. Bệnh nhân có buồng trứng đa nang, có thai, hỗ trợ pha
hoàng thể bằng hCG cũng là yếu tố nguy cơ của hội chứng này.
Phòng ngừa hội chứng quá kích buồng trứng ở những bệnh nhân có
nguy cơ cao bao gồm: giảm liều hCG, ngừng gonadotropins, tiêm hCG khi E2
đã giảm, thay thế hCG bằng GnRH đồng vận, sử dụng liều cao GnRH đối vận
21

trong khi coasting, đông phôi toàn bộ và không chuyển phôi để tránh hCG nội
sinh nếu có thai, hút lại các nang noãn và hoàng thể sớm, truyền albumin trong
và ngay sau khi hút noãn, hỗ trợ pha hoàng thể bằng progesterone. Tuy nhiên
nếu có thai thì hội chứng quá kích buồng trứng càng nặng thêm do hCG nội sinh
trưởng thành noãn non đối với các trường hợp buồng trứng đa nang.
1.4.3 Đáp ứng bình thường với kích thích buồng trứng
Là các trường hợp không có các dấu hiệu của hội chứng quá kích buồng
trứng và không bao gồm các trường hợp đáp ứng kém với kích thích buồng
trứng.
1.5 Các nghiên cứu về thời điểm chọc hút noãn
Nghiên cứu của Gudmundsson, J (1990):

Nghiên cứu hồi cứu trên 533 bệnh nhân đánh giá ảnh hưởng của thời gian
từ khi tiêm hCG đến khi chọc hút noãn đến chất lượng noãn, tỷ lệ thụ tinh, và
kết quả của chu kỳ IVF-chuyển phôi, kết quả cho thấy không có sự khác biệt có
ý nghĩa chất lượng noãn, tỷ lệ thụ tinh, kết quả IVF-chuyển phôi ở các khoảng
thời điểm chọc hút noãn (33h – 41h) sau khi tiêm hCG từ đó Nagrund kết luận
rằng quan điểm chọc hút noãn trên 36 giờ sau tiêm hCG không làm tăng kết quả
thụ tinh trong ống nghiệm.
Nghiên cứu của Raziel, A (2006)
“ In vivo maturation of oocytes by extending the interval between human
chorionic gonadotropin administration and oocyte retrieval ”
23

Mục tiêu của nghiên cứu là tìm xem tỷ lệ phần trăm của noãn trưởng
thành có thể được tăng lên trong chu kỳ ICSI sau hay không trong một nhóm
bệnh nhân có tỷ lệ noãn chưa trưởng thành ≥ 47% bằng việc kéo dài thời gian từ
khi tiêm hCG đến khi chọc hút noãn. Nghiên cứu ngẫu nhiên, được tiến hành ở
đơn vị thụ tinh trong ống nghiệm tại một trung tâm y tế ở Israel từ tháng 1 năm
2003 đến tháng 6 năm 2005, 72 trong tổng số 2650 chu kỳ tiêm tinh trùng vào
bào tương của noãn (2,8%), có tổng số noãn chưa trưởng thành ≥ 47% . Trong
chu kỳ điều trị tiếp theo đối với các bệnh nhân này ( phác đồ kích thích buồng
trứng tương tự ) thời gian tiêm hCG đến khi hút noãn được chia thành hai nhóm,
nhóm A có thời gian trung bình từ khi tiêm hCG đến khi chọc hút noãn là (35,3
± 0,7 giờ), nhóm B là (38,6 ± 1,2 giờ). Kết quả là số lượng noãn trưởng thành
chọc hút được cao hơn ở nhóm B so với nhóm A, đồng thời cũng có sự cải thiện
chất lượng phôi do đó cũng làm tăng tỷ lệ có thai.
Nghiên cứu của Son, W. Y.2008
“ A 38 h interval between hCG priming and oocyte retrieval increases in
vivo and in vitro oocyte maturation rate in programmed IVM cycles ”
Một nghiên cứu hồi cứu về ảnh hưởng của việc kéo dài thời gian từ khi
tiêm hCG đến khi chọc hút noãn đến số lượng noãn trưởng thành khi chọc hút
25

CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng được chọn vào nghiên cứu là các trường hợp làm IVF/ICSI tại
trung tâm hỗ trợ sinh sản Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ 1/2010 đến 1/2013
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
- Tuổi ≤ 38 tuổi
- FSH ≤ 10 IU/L
- Số lần IVF ≤ 2 lần
- Dùng FSH tái tổ hợp
- Phác đồ dài
- Phác đồ GnRH antagonist
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
Loại trừ khỏi nghiên cứu những trường hợp sau đây
- Các trường hợp dùng các loại FSH khác như Gonal-f, Menopur,
Follitrope.
- Chọc hút tinh trùng từ mào tinh (PESA)
- Lạc nội mạc tử cung
- Các dị dạng đường sinh dục
- U xơ tử cung
- Tiền sử mổ bóc u buồng trứng, cắt buồng trứng
- Siêu âm chỉ có một buồng trứng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status