đánh giá kỹ năng và yếu tố ảnh hưởng tới kỹ năng cho con bú của các sản phụ tại khoa sản thường bệnh viện phụ sản trung ương, năm 2011 - Pdf 22

ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Giới thiệu vấn đề nghiên cứu.
Thiên chức của người phụ nữ là được làm mẹ làm vợ. Truyền thống
của các bà mẹ Việt Nam đều mong muốn, nuôi con bằng chính dòng sữa của
mình, đó là một tập quán tốt và đúng khoa học.
Trong giai đoạn từ lúc mới đẻ tới 6 tháng tuổi, bà mẹ giữ vai trò quan
trọng nhất trong việc nuôi trẻ. Do đó kiến thức, kỹ năng nuôi con bằng sữa mẹ
của người mẹ có vai trò ảnh hưởng quyết định tới tình trạng dinh dưỡng, và
gián tiếp tác động tới quá trình phát triển bình thường, toàn diện của trẻ nhỏ
sau này [16,14]. Nuôi con bằng sữa mẹ là cách nuôi trẻ tự nhiên, tiện lợi và
kinh tế nhất mà tạo hóa đã ban cho mọi bà mẹ qua bầu sữa [5,22].
Vấn đề nuôi trẻ trong 6 tháng đầu - cụ thể là thực hành nuôi con bằng
sữa mẹ - bao giờ cũng có nhiều khó khăn và vất vả cho các bà mẹ, .tTrong
giai đoạn này, bởi trẻ bú mẹ theo nhu cầu của trẻ, và sữa mẹ là nguồn thức ăn
cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho sự phát triển của trẻ. Các bà mẹ cần
phải cho trẻ bú đúng và đủ trong thời kỳ cho con bú., trong quá trình nuôi
dưỡng có thể trẻ bị sặc sữa sẽ ảnh hưởng tới hệ hô hấp và sự phát triển của trẻ
sau này.
Nhiều bà mẹ sau khi sinh thường chờ cho hai vú căng sữa mới cho con
bú mà người ta gọi là xuống sữa, như vậy là không đúng mà càng làm sữa
xuống chậm và dễ bị mất sữa. Theo khuyến cáo của Vviện Ddinh dưỡng, để
xuống sữa nhanh và tận dụng nguồn sữa non tuy ít nhưng rất quan trọng, các
bà mẹ nên cho trẻ bú sớm, đặc biệt là trong nửa giờ đầu.
VĐồng thời vấn đề cho con bú còn ảnh hưởng tới sức khỏe của người
mẹ như: vấn đề tiết sữa, tắc tia sữa, viêm đầu vú, co hồi tử cung, cầm máu sau
đẻ Hiện nay tình trạng cho con bú không đúng cách vẫn khá phổ biến ở các bà
mẹ Vviệt Nam mà nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này là do: trình độ
1
học vấn, nghề nghiệp, tôn giáo, lối sống, gia đình, và nơi sống, tình hình kinh
tếđiều kiện kinh tế, của người mẹ [TLTK]


3
tế bào cơ co thắt.
- Từ nang sữa, sữa theo các ống dẫn chảy ra ngoài. ở phần quầng vú, các
ống sữa nở rộng ra tạo thành các xoang sữa, là nơi sữa được gom vào để
chuẩn bị cho một bữa bú.
- Các nan sữa các ống dẫn sữa được bao bọc bởi mô mỡ và mô liên kết.
2. Cơ chế tiết sữa
- Sự tiết sữa được điều khiển và duy trì bởi 2 nội tiết tố chính: prolactin
và oxytocin.
- Khi trẻ mút vú, xung động cảm giác thần kinh từ núm vú lên não, kích
thích thùy trước tuyến yên tiết ra prolactin. Chất này vào máu đến vú làm các
tế bào tiết ra sữa. Nồng độ prolactin trong máu đạt tối đa vào khoảng 30 phút
sau bữa bú, giúp tạo sữa cho bữa bú sau.
- Cũng từ động tác ngậm vú của trẻ, một xung động thần kinh khác tác
động lên thùy sau tuyến yên, kích thích tiết ra oxylactin. Oxylactin vào máu
đến vú làm các tế cơ xung quanh nang sữa co thắt, đẩy sữa theo các ống dẫn
sữa đến các xoang sữa, đôi khi còn làm sữa tự chảy ra ngoài. Oxytocin còn
giúp tử cung co hồi tốt, hạn chế mất máu nhưng có thể làm bà mẹ cảm thấy
đau bụng mỗi khi cho con bú.
- Trong sữa còn có một chất có thể ức chế hoặc giảm tiết sữa. nếu có
nhiều sữa được tiết ra thì chất ức chế này sẽ ngăn chặn các tế bào tiết sữa hạn
chế tiết sữa. Vì vậy, để vú tiếp tục tao sữa thì sữa mẹ phải được chảy ra khỏi
vú. Nếu trẻ không bú được hoặc bú không hết thì sữa mẹ cần phải vắt ra để sự
sản xuất có thể được tiếp tục.
- Như vậy, điểm then chốt của cơ chế tiết sữa lầ động tác mút vú của trẻ
điều khiển tất cả và trẻ càng bú nhiều càng tạo được nhiều sữa.
4
Vỳ c phõn b bi nhỏnh thn kinh da trc v sau th 4 n th 6
ca thn kinh sn. Nỳm vỳ c bi lp da mng T4.
Bờn trong vỳ l h thng sinh sa gm cỏc khoang sinh sa trụng nh

chng a chy, chng nhim khun hụ hp cp tớnh (ca WHO) t chc nhm
xỏc nh cỏc ch tiờu then cht v tỡnh hỡnh c th liờn quan ti vn ỏnh
giỏ vic nuụi con bng sa m [30].
Cỏc nh ngha v nuụi con bng sa m:
- Nuụi con bng sa m l a tr c bỳ m trc tip hoc ung sa
m vt ra.
- Sa non cú t cỏc ngy du sau sinh s lng ớt c v sỏng mu. Sau
vi ngy sa non chuyn thnh sa chuyn tip lng sa nhiu hn. Sa u
cú mu vng nht c sn xut vo u ba bỳ sa cui cú mu trng c
hn c sn lng cht bộo tng dn vo cui ba bỳ. Sa cui c sn
xut vi lng ln cung cp nhiu nng lng v hm lng cht bộo tng
dn vo cui ba bỳ. Sa u c cung tp nhiu protein, ladose v cỏc cht
dinh dng khỏc tr bỳ sa s nhn c mt lng nc ln do ú tr bỳ m
khụng cn phi bỳ thờm nc.
Sa non tuy ớt nhng rt quan trng bi sa non cung cp nhng khỏng
th v cỏc protein khỏng khun giỳp tr chng li cỏc bnh nhim trựng
6
4. Lợi ích của sữa mẹ và của việc nuôi con bằng sữa mẹ
4.1. Lợi ích của sữa mẹ
- Sữa mẹ là thức ăn hoàn thiện cho trẻ từ lúc mới sinh cho đến 6
tháng tuổi.
- Sữa mẹ chứa đầy đủ các chất dinh dỡng cần thiết với thành phần cân đối
giúp trẻ mau lớn.
- Cơ thể trẻ dễ hấp thu và sử dụng có hiệu quả.
- Sữa mẹ bảo vệ cơ thể trẻ chống lại các bệnh nhiễm khuẩn.
- Sữa mẹ không chứa những protein lạ nên không gây dị ứng cho trẻ.
- Sữa mẹ luôn luôn vô trùng, có nhiệt độ thích hợp, không mất thời gian
pha chế.
Ngoài ra, thành phần sữa mẹ cũng không giống nhau từ đầu đến cuối.
Trong vài ngày đầu khi sinh, trớc khi sữa thật đợc tiết ra, vú mẹ tiết ra sữa non,

Mt s b m cú ỏp dng cỏch cho tr bỳ trong t th na ngi na nm,
tuy nhiờn t th ny cng ớt c cỏc bỏc s nhi khuyờn vỡ nh vy m cú th
dn n vic hai m con khụng nhỡn thy mt nhau, lm thiu i s tng tỏc
cn thit trong quan h m con. Cỏc b m chỳ ý gi u vỳ sch, trc khi
cho con bỳ khụng nờn vt nhng git sa u. u, lng,mụng tr c ụm
sỏt v i din vi vỳ m trờn mt ng thng, mt tr cng i din vỳ m
t th ny giỳp bộ mỳt v nut sa tt. Ngi m a u vỳ chm vo ming
tr khi ming tr m rng a tht nhanh vỳ vo ming tr sao cho ming tr
m rng ngm sõu vo qung thõm tt a. Khi tr bt vỳ dựng mỏ tr s
phng do lng sa ó tr nut.
Vỡ vy cỏc b m nờn giỳp tr ngm bt vỳ tt to iu kin cho tr
tha món vn úi v to iu kin thun li cho quan h m v con
8
Nếu má trẻ chưa phồng, đầu lưng mông không đối diện vú mẹ, mồm trẻ
không mở to thì các bà mẹ có nên thử lại. Các động tác này đòi hỏi phải rất
kiên trì.

Trẻ ngậm bắt vú tốt Trẻ ngậm bắt vú tốt Trẻ ngậm bắt vú không tốt
Sau đó đánh giá trẻ bú có hiệu quả dựa vào trẻ mút chậm, sâu thỉnh
thoảng nghỉ sau đó mút tiếp, ta có thể thấy trẻ nuốt. trẻ bú tốt tự ngừng bú, tự
bỏ, thư giãn, buồn ngủ khi no. Có thể thấy trẻ mút nhanh không thấy nuốt đó
là trẻ bú không hiệu quả.
Sau khi bú xong nên bế trẻ một lúc 20-30 phút rồi mới đặt trẻ nằm để
tránh nôn trớ sau khi ăn no. Sau khi trẻ bú xong, người mẹ nên vắt sạch lượng
sữa còn lại trong bầu vú ra để kích thích sữa chảy ra nhiều cho cữ bú sau. Sữa
vắt ra có thể để vào tủ lạnh cho trẻ ăn lần sau.
Số lần cho bú tùy theo yêu cầu của trẻ, không nhất thiết phải theo đúng
giờ giấc, ban đêm vẫn có thể cho trẻ bú được nếu trẻ đòi ăn. Trung bình: 2-
3h/1 lần cho ăn.
Mỗi trẻ có nhịp độ bú khác nhau (có bé bú nhanh, có bé bú chậm, có bé

nóng bức không nên cai sữa, không nên cai sữa quá đột ngột sẽ làm trẻ hay
quấy khóc và không chịu ăn.
Bú sớm ngay nửa giờ sau đẻ, bú theo yêu cầu và cai sữa đúng phương
10
pháp tạo điều kiện cho cơ thể trẻ phát triển phù hợp với lứa tuổi.
5.1.1. Những vấn đề được đề cập đến trước khi cho con bú (vệ sinh,
tư thế )
−Trước khi cho bé bú, rửa tay sạch nên lau đầu vú bằng nước sạch (Vệ
sinh đầu vú không cẩn thận: khiến các tia sữa bị tắc, vi khuẩn có khả năng tấn
công và ảnh hưởng đến sức khỏe của bé.)
−Không nên rửa vú bằng xà phòng hoặc cồn vì dễ gây khô và nứt đầu
vú. Khi vú bị nứt ít vẫn cho trẻ bú trực tiếp để kích thích tiết sữa, bôi đầu vú
bằng vadơlin hoặc mỡ penicilin nếu nứt nhiều, bôi sau khi bú.
−Khi bị áp xe vú thường trong sữa có nhiều mủ và vi khuẩn nên không
được cho trẻ bú nhưng vẫn phải vắt sữa hằng ngày bằng tay hoặc máy vắt sữa.
5.1.2. Những vấn đề có thể xảy ra trong và sau cho con bú:
• Sặc sữa:
- Sau khi cho con bú đặt trẻ nằm ngay
Do nhiều nguyên nhân
- Nằm ngửa, đầu thấp
+ Một số trẻ có thói quen vừa ăn vừa ngủ, miệng ngậm vú sữa vẫn
chảy nhưng không nuốt. Khi thở mạnh, trẻ có thể hít sữa đưa lên mũi vào khí
quản, phế quản gây ra sặc.
+ Để đề phòng sặc sữa, không nên cho trẻ vừa bú vừa ngủ, sau ăn
không đặt trẻ ngay, nếu đặt phải nằm nghiêng mặt sang 1 bên . Khi cho bú
nên bế trẻ cao đầu, ở tư thế thoải mái, không nên để gập cổ hoặc ngửa cổ quá
(gập cổ sẽ gây khó nuốt, còn ngửa cổ thì dễ bị sặc sữa lên mũi). Khi trẻ ho
hoặc khóc thì phải ngừng cho bú ngay, không để sữa tiếp tục chảy xuống
miệng trẻ.
• Ngạt do bú:

+ Như theo nghiên cứu của Lê Thị Hợp và Phạm Thúy Vân năm 1993
trên 611 bà mẹ có con dưới 24 tháng thuộc các vùng nông thôn ở 3 tỉnh, sử
dụng chỉ tiêu của WHO/ UNICEF ; Cho thấy tỷ lệ bà mẹ cho trẻ bú trong nửa
giờ đầu là: 8.4% [31].
5.1.3.4. Nhân viên y tế.
Để thành công việc và tiến hành và duy trì việc NCBSM các bà mẹ cần
được sự ủng hộ tích cực trong quá trình thai nghén và sau sinh bởi các nhân
viên y tế và cộng đồng. Các nhân viên y tế cần có khả năng cung cấp thông
tin thích hợp và có hiểu biết sâu sắc với thái độ tích cực đòi hỏi với việc thực
hiện chương trình nuôi con bằng sữa mẹ.
5.1.3.5. Một số ảnh hưởng khác [17]
+ Kinh tế, chính trị, xã hội.
+ Các kinh nghiệm.
+ Lợi ích cho cộng đồng và cho môi trường: giảm tỷ lệ mắc bệnh các bà
mẹ và trẻ nhỏ khỏe mạnh hơn giúp giảm chi phí chăm sóc sức khỏe cho cộng
đồng.
+ Bảo vệ môi trường sống giảm ô nhiễm rác thải vì gây tốn mặt bằng,
nước kim loại, nhựa, nhiên liệu… những thú gây hao phí và hủy hoại môi
trường
13
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng và địa điểm nghiên cứu:
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu:
Các sản phụ sinh con tại khoa sản thường, Bệnh viện Phụ sản Trung ương
• 2.1.1. Các tiêu chuẩn chọn đối tượng trong nghiên cứu:
Các sản phụ tại khoa sản thường, Bệnh Viện Phụ Sản Trung ương đồng ý
tham gia nghiên cứu và có đủ tiêu chuẩn sau:
- Đẻ thường.
- Đẻ đủ tháng.

1,96Z
α

=
Trong đó:
- N: là cỡ mẫu tính cho nghiên cứu
- P: tỷ lệ những trẻ được cho bú trong nủa giờ đầu sau sinh tại xã Tân
Lập là 68,6% [19]. P = 0.686
- Z: hệ số tin cậy, giá trị của tương ứng với α = 0,05
- ε: giá trị tương đối (ε = 0,13)
Công thức này cộng với 10% sai số xảy ra khi lấy thông tin.
Qua tính toán: cỡ mẫu nghiên cứu sẽ được ước lượng là 114
2.1.5. Phương pháp chọn mẫu:
• Sử dụng phương pháp chọn mẫu tiện lợi.
• Ước tính một ngày thu thập được 5 bệnh nhân trong 3 tháng. Từ tháng
9/2011 – 11/2011
2.2. Phương pháp nghiên cứu:
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu:
Đề tài được tiến hành theo phương pháp mô tả cắt ngang.
2.2.2. Các biến số NC:
Biến số Phân loại
Kỹ thuật thu thập
thông tin
1.Tuổi Tuổi tính theo năm dương
lịch đến lần sinh nhật gần
nhất:
- < 20 tuổi
- 21-30 tuổi
- >30 tuổi
Hỏi

- > 6 giờ đầu sau
đẻ
Hỏi
7. Khoảng cách các lần
cho con bú của các sản
phụ
- 2-3 giờ/ lần
- Trẻ khóc thì cho bú Hỏi
8.Số lần cho bú: - <8 lần một ngày
- 8-10 lần một ngày
Hỏi
9. Một số các yếu tố
liên quan
- Gia đình
- Nhân viên y tế
- Sách báo
- Kinh nghiệm
- Các sản phụ bên cạnh
- Khác
Hỏi
16
2.2.3. Các sai số và cách khống chế:
2.2.3.1. Sai số
− Sai số chọn.
− Sai số phỏng vấn.
2.2.3.2. Cách khắc phục
− Bằng tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu.
− Bằng bộ câu hỏi.
2.2.4. Phương pháp thu thập số liệu:
• Phương pháp thu thập số liệu bằng bảng kiểm (dựa vào quan sát để

Cán bộ 10 8.8
Giáo viên 11 9.7
Công nhân 11 9.7
Nhân viên văn phòng 17 14.9
Y tá 2 1.8
Sinh viên 1 0.9
Nội trợ 25 21.9
Nông dân 22 19.3
Tự do 15 13.2
3. Trình độ văn hóa
Cấp ba 72 63.2
Trung cấp 8 7.0
Cao đẳng 9 7.9
Đại học 25 21.9
4. Địa chỉ
Thành thị 65 57.0
Nông thôn 49 43.0
5. Số con hiện có
>1 con 13 11.4
1 con 101 88.6
Nhận xét:
19
Từ bảng 3.1 ta thấy:
• Các sản phụ tham giarong đối tượng nghiên cứu chiếm nhiều nhất
trong độ tuổi 21-30 (63.2%),. Ttrong đó tuổi trung bình là 27.5 tuổi.
• Các sản phụbà mẹ có trình độ học vấn ở cấp ba (63.2%) và đại học
(21.9%) chiếm tỷ lệ chủ yếu.
• Từ bảng trên ta thấy cCác sản phụ có nghề nghiệp rất phong phú,
trong đó nội trợ (21.9%), văn phòng (14.9%), nông dân (19.3%), tự
do (13.2%), còn lại các nghề khác chiếm một tỷ lệ nhỏ.

21
Biểu đồ 3.3. Đánh giá số lần cho bú của các sản phụ
Nhận xét:
Số lần cho con bú trong một ngày của các sản phụ chủ yếu khoảng 8-
>10 lần/ngày (85.1%) và tỷ lệ trẻ được cho bú <8 lần là 14.9%.
Bảng 3.5: Đánh giá thời gian các sản phụ cho trẻ bú trong một lần
Thời gian một lần bú Số lượng Tỷ lệ %
10-30 phút 96 84.2
Tới khi ngủ 18 15.8
Tổng 114 100
Biểu đồ 3.4. Đánh giá thời gian các sản phụ cho trẻ bú trong một lần
Nhận xét:
Thời gian một lần bú chủ yếu là 10-30 phút (83.3%) và các thời gian cho
bú tới lúc trẻ ngủ chiếm tỷ lệ 15.8%.
Bảng 3.6: Đánh giá tư thế con
22
Tư thế con Số lượng Tỷ lệ %
Bế đầu và mông hoặc toàn cơ thể 101 88.6
Đỡ đầu 13 11.4
Tổng 114 100
Bảng 3.7: Đánh giá tư thế mẹ
Tư thế mẹ Số lượng Tỷ lệ %
Nửa nằm nửa ngồi hoặc ngồi 107 93.9
Nằm 7 6.1
Tổng 114 100

Nhận xét: Từ bảng 3.6 và 3.7 ta thấy:
- Tư thế con được các bà mẹ thực hiện chủ yếu với tư thế bế đầu và
mông hoặc toàn thân trẻ (88.6%) và đỡ đầu chiếm tỷ lệ (11.4%).
- Tư thế mẹ chủ yếu là nửa nằm nửa ngồi hoặc ngồi (93.9%) và tư thế

Khá 23 37.7 6 11.3
Trung bình 2 3.3 20 37.7
Kém 3 4.9 23 43.4
Tổng 61 100 53 100
Biểu đồ 3.5. Đánh giá kỹ năng cho con bú và hiệu quả bú của trẻ
Nhận xét:
- Tỷ lệ sản phụ có kỹ năng tốt và trẻ bú có hiệu quả đạt tốt chiếm tỷ lệ
54.1 % và khá chiếm tỷ lệ 37.7%.
- Tỷ lệ sản phụ có kỹ năng cho con bú và hiệu quả bú của trẻ đạt trung
bình chiếm 3.3% và kém chiếm 4.9 %.
- Tỷ lệ sản phụ có kỹ năng tốt và trẻ bú không hiệu quả đạt tốt chiếm tỷ
lệ 7.6 % và khá chiếm tỷ lệ 11.3 %.
- Tỷ lệ sản phụ có kỹ năng cho con bú và trẻ bú không đạt hiệu quả trung
bình chiếm 37.7% và kém chiếm 43.4 %.
- Kỹ năng cho bú của các bà mẹ ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả cho
bú và sự khác biệt giữa các bà mẹ có kỹ năng cho bú tốt, trung bình,
kém là có ý nghĩa thống kê với p<0.05
3.3. Yếu tố ảnh hưởng tới kỹ năng cho con bú
24
Bảng 3.10: Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới kỹ năng cho con bú.
Yếu tố ảnh hưởng Số lượng %
Nhân viên y tế 24 21.0
Gia đình 57 50
Sách báo 15 13.2
Kinh nghiệm 18 15.8
Tổng 114 100
Nhận xét:
Dựa vào bảng 3.10 trên ta thấy yếu tố ảnh hưởng tới kỹ năng cho con bú của
các sản phụ chủ yếu là gia đình (50%) và nhân viên y tế (21.0%). Ngoài ra,Và các
sản phụ chịu ảnh hưởng bởi yếu tố sách báo là 13.2%, kinh nghiệm là 15.8%.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status