nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và điều trị ngộ độc cấp amphetamin và dẫn xuất - Pdf 22

ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Cơ quan kiểm soát ma túy và tội phạm Liên hợp quốc
(UNODC), ước tính hiện nay trên thế giới có đến 250 triệu người nghiện ma
túy các loại và có chiều hướng gia tăng theo từng năm (chiếm khoảng 5% dân
số thế giới trong độ tuổi từ 15-64), trong đó có khoảng 25 triệu người nghiện
ma túy nặng và chiếm 5,4% ghánh nặng bệnh tật hàng năm trên thế giới [7].
Đến nay nghiện ma túy đã, đang và tiếp tục vẫn là một vấn đề bức xúc
của nhiều quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, trước đây nghiện ma túy chủ
yếu vẫn là nghiện các chất dạng thuốc phiện (CDTP), nhưng trong những năm
gần đây xuất hiện sự gia tăng báo động việc lạm dụng các chất kích thích
thuộc nhóm ma túy tổng hợp ở tuổi trẻ trong quán bar, vũ trường nhằm đạt
cảm giác hưng phấn, tăng hoạt động trong trạng thái ảo giác. Số người nghiện
vẫn ngày một gia tăng nhất là trong giới trẻ và luôn là bạn đồng hành với
nhiễm HIV, viêm gan virus, các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục… cũng
như nhiều rối loạn tâm thần và các tệ nạn xã hội khác [18)
Ma túy tổng hợp là loại ma túy được sử dụng nhiều từ trong chiến
tranh thế giới thứ hai có tác dụng làm cho con người hưng phấn, tỉnh táo, sảng
khoái, chữa trầm cảm nhưng ngày càng bị lạm dụng, sử dụng lan tràn dẫn đến
ảnh hưởng hệ thần kinh trung ương gây kích động, ảo giác, co giật và dẫn đến
tử vong nhanh chóng. Dạng ma túy tổng hơp đang được dùng nhiều ở Việt
Nam là: Amphetamin, Methamphetamin, MDMA…và nó có nhiều tên gọi
khác nhau như thuốc lắc, ectassy, viên lắc, thuốc điên, viên chúa, viên hoàng
hậu, max, xì cọp…
Tuy nhiên, đối với nhóm ma túy dạng thuốc phiện opias đã có rất nhiều
công trình nghiên cứu thành công nhưng với loại ma túy này hiện nay vẫn
1
chưa được biết đến qua các nghiên cứu chính vì vậy còn gặp rất nhiều khó
khăn cho bác sỹ trong công tác chẩn đoán và điều trị, mà trong thời gian gần
đây tại TT Chống Độc tiếp nhận nhiều những bệnh nhân quá liều
Amphetamin và các dẫn xuất của nó, hầu hết là những người trẻ tuổi với các
triệu chứng nhịp nhanh, tăng huyết áp, ảo giác, vì vậy chúng tôi thực hiện đề

nghiện cao hơn chất hướng thần [22], [24].
Amphetamin và các dẫn xuất của nó như methamphetamine, MDMA,
3
là những ma túy tổng hợp có tác dụng lên thần kinh trung ương gây cảm giác
hưng phấn, kích động, ảo giác…
Những loại này rất dễ gây nghiện, dễ gây ngộ độc, dễ sản xuất và độc
hại hơn nhiều loại ma túy khác
1.1.2. Phân loại ma túy
Ma tuý là các chất có nguồn gốc tự nhiên (Morphin) bán tổng hợp
(heroin được bán tổng hợp từ Morphin) hay tổng hợp (Amphetamin) có tác
dụng lên thần kinh trung ương gây cảm giác như giảm đau, hưng phấn, kích
động, ảo giác…mà khi dùng nhiều lần thì sẽ phải sử dụng lại nó nếu không sẽ
rất khó chịu
Ma túy gồm 2 nhóm:
a) Ma túy nhóm Opiats (chất dạng thuốc phiện CDTP) là những chất có
nguồn gốc thuốc phiện và những chất có đặc điểm dược lý tương tự
thuốc phiện, bao gồm: thuốc phiện, Morphin, Heroin, Codein, Pethidin,
Buprenorphin, Methadone, Levo-alpha-acetyl-methadone (LAMM)…
b) Ma túy nhóm các chất kích thích: Amphetamin, Methamphetamin,
MDMA…
Ngoài ra còn phân loại dựa theo nguồn gốc sản sinh các chất ma tuý gồm có:
*Ma tuý tự nhiên:
- Thuốc phiện, cần sa, cocain…đây là các chất ma tuý có sẵn trong tự
nhiên, là những Ancaloit của một số loài thực vật như: Thuốc phiện, Cần sa,
Cocain.
- Nguồn gốc:
+ Từ nhựa cây thuốc phiện (cây anh túc, anh tử túc, a phiến…) có trồng
ở 12 tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam.
4
+ Từ lá, hoa, quả cây cần sa (còn gọi là Bồ Đà, cây Gai Dầu) được trồng ở

sử dụng sẽ có xu hướng tái sử dụng một cách nhanh chóng và hình thành lại
sự lệ thuộc vào ma tuý [18], [66].
1.1.5 Hội chứng cai ma túy:
Là trạng thái phản ứng của cơ thể khi cắt hoặc giảm chất ma túy đang sử dụng
ở những người nghiện ma túy. Biểu hiện lâm sàng của hội chứng cai khác
nhau phụ thuộc vào loại ma túy đang sử dụng [18], [66].
1.1.6. Quen thuốc, nghiện thuốc, và cai thuốc
Khi dùng ma túy thường xuyên sẽ dẫn tới hiện tượng quen thuốc. Điều
này có nghĩa là người nghiện sẽ phải dùng một lượng ma túy lớn hơn để giành
được độ mạnh và tác dụng tương đương. Khi những liều lớn hơn được dùng
nhiều lần, thì sự phụ thuộc về thể chất và nghiện thuốc xuất hiện [28]. Với sự
phụ thuộc về mặt thể chất, thì cơ thể thích nghi với sự có mặt của thuốc và
những triệu chứng cai có thể xuất hiện nếu giảm liều hoặc ngừng thuốc
1.2. Tình hình ngộ độc ma túy ở trên thế giới và ở Việt Nam:
1.2.1. Tình hình ngộ độc ma túy trên thế giới :
Theo WHO vào năm 2007 số người nghiện ma túy lên đến 300 triệu
người gây tổn thất 10 tỷ USD
Tại Mỹ số người nghiện ma túy chiếm 8.5% dân số .đây cũng là nước có
số người nghiện ma túy lớn nhất thế giới
6
Theo số liệu điều tra mà chương trình kiểm soát ma túy của liên hợp
quốc thăm dò 20.000 học sinh đang học trên 100 trường THCS, THPT trong
năm 2000 có 2/3 số học sinh trả lời biết ít nhất một loại ma túy, 44% số học
sinh từng sử dụng chất gây nghiện nói chung, 4,2% có sử dụng ma túy, đặc
biệt 0,2% sử dụng thuốc phiện.
Bất chấp những tác hại chết người của MDMA loại ma túy này vẫn
được sản xuất với số lượng ngày càng nhiều trên thế giới, trong đó châu âu
nổi lên như là trung tâm sản xuất thuốc lắc, kinh doanh MDMA luôn là một
nghành siêu lợi nhuận .
Theo hệ thống cảnh báo lạm dụng thuốc (Drug Abuse Warning

tranh để xua tan sự mệt mỏi, vừa để sử dụng bởi các công nhân nhà máy để
tăng năng xuất. Sau chiến tranh xuất hiện những dịch bệnh lạm dụng
Amphetamin.
1.3.2. Cấu trúc hóa học:

Hình 1. Amphetamine
8

- Công thức hóa học: C9H13N
- Các dạng chế phẩm:
+ Amphetamin Coplex
+ Benzphetamin
+ Dextroamphetamin
+ Methyphenidate
+ Methamphetamin
- Đường dùng: đường uống, tiêm TM, hút, hít
1.3.3. Dược động học:
- Hấp thu: qua niêm mạc miệng, đường tiêu hóa, gắn với protein huyết tương
16-40%
- Chuyển hóa: được chuyển hóa qua gan
- Thải trừ: được thải trừ qua thận
- Thời gian bán hủy: phụ thuộc vào PH niệu
+ PH niệu <6,6: thời gian bán hủy 7-14h
9
+ PH niệu >6,7: thời gian bán hủy 18-32h
-Nồng độ đỉnh đạt được sau tiêm và hít 30 phút, sau uống 2-3h
1.3.4. Tác dụng:
- Liều uống 20-100mg/lần: tác dụng run, bồn chồn, mất ngủ, giãn đồng tử, tim
đập nhanh
- Liều cao gấp 5-10 lần gây kích động, ảo giác

xương rồng.
- Công thức hóa học: C11H15NO2
1.4.3. Dược động học
- Hấp thu: qua đường tiêu hoá
11
- Chuyển hóa: qua gan
- Thải trừ: 65% qua thận, 7% chuyển hoá thành MDA trong vòng 24h
sau khi uống [118]
- Thời gian bán thải: 8h
- Dạng bào chế: viên nang, viên nén ép, dạng bột
- Mỗi viên nén chứa 50-100mg MDMA, thường được pha trộn với các
thuốc khác như: heroin, ketamin, ephedrin
1.4.4. Tác dụng dược lý và độc tính
-Tác dụng 30- 60 phút sau khi uống thuốc
-Đạt nồng độ đỉnh :90 phút
- Gắn nhanh vào nước, tan trong mỡ, qua được hàng rào máu não
-Thời gian tác dụng của thuốc kéo dài 4-8h
- Sau 30 phút uống thuốc xuất hiện các triệu chứng tăng nhịp tim, tăng
phản xạ gân xương, khô miệng, tăng các hoạt động tâm thần, ảo giác.
-Trong vòng 1h sau uống thấy cảm giác lâng lâng, thư giãn, sảng khoái,
ảo giác. Những cảm giác này đạt được cho đến 90 phút và sau đó giảm dần
trong vòng 3-4h.
1.4.5. Liều và tác dụng:
- Liều giải trí là 50 - 150mg
- Thường dùng 1-2 viên, có trường hợp dùng đến 10 viên, kèm theo các
thuốc khác
- Với liều 1-2mg/kg có các tác dụng hội chứng cường giao cảm
- Liều 4-5mg/kg có tác dụng tăng thân nhiệt.
12
- Liều thấp : Tác dụng tự tin, lâng lâng thấy mầu sắc rạng rỡ, thấy thân thiện

- Phenethylamines chứa nhóm đặc trưng của chất kích thích hệ thống
thần kinh trung ương (hình 1) .
14
- Phenylethylamine nguyên mẫu là alpha methyl phenethylamine, được
dùng để đặt tên thông thường cho các loại amphetamine. Amphetamine chứa
một nhóm methyl ở vị trí alpha của chuỗi carbon.
- Methamphetamine: có một nhóm methyl thứ hai
- Công thức hóa học: C10H15N
- Dạng bào chế: viên nén, bột màu trắng và màu vàng
- Đường dùng: uống, hút, hít, tiêm TM
1.5.2.Dược động học:
- Hấp thu: được hấp thu qua đường tiêu hóa
- Chuyển hóa: qua gan
- Thải trừ: qua thận
- Nồng độ: đạt được 5phút sau hút, 20 phút sau uống
Nồng độ đỉnh 2-3h sau uống
-Bán thải: 9-10h
1.5.3.Tác dụng dược lý và độc tính:
Methamphetamine dễ dàng được hấp thụ khi được đưa vào cơ thể qua
đường miệng, phổi, mũi, cơ, tĩnh mạch, trực tràng và các tuyến đường âm
đạo.
Methamphetamine ưa chất béo, dễ dàng vượt qua màng chắn máu-não,
và có thể tích phân phối lớn (3-4 L / kg) . Sự thâm nhập xảy ra trong vòng vài
giây sau khi hút thuốc hoặc tiêm, có tác dụng trong vòng 5 phút sau khi hít
hoặc trong vòng 20 phút sau khi uống. Nồng độ cao nhất trong huyết tương
đạt được sau khoảng 30 phút khi tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp và lên đến 2-3
giờ sau khi uống. Mặc dù Methamphetamine có một nửa thời gian tồn tại
trong huyết tưởng là khoảng 12 - 34 giờ, nhưng thời gian tác động của nó
thường kéo dài hơn 24 giờ.
15

thần kinh này được giải phóng vào các synapse (khớp thần kinh) với sự khử
cực dây thần kinh. Khi ở trong synapse, các chất dẫn truyền thần kinh liên kết
với các thụ thể sau synap và tạo điều kiện cho phản ứng giữa các tác nhân hóa
học của hệ thần kinh (neurochemical respones). Sau đó, nó khuếch tán từ các
thụ thể sau synapse và nhanh chóng bị suy giảm hoặc tái hấp thụ và thay thế
vào tế bào chất. Quá trình tái hấp thu diễn ra với các tác nhân trung gian là
adenosine triphosphate (ATP) hoặc vào ion (Na +) vận chuyển chất dẫn
truyền thần kinh, cũng như bởi các kênh graddien nồng độ.
Methamphetamin là một chất dẫn truyền thần kinh gián tiếp.
Methamphetamine được đưa vào tế bào chất, nơi mà nó chiếm chỗ của
epinephrine, norepinephrine, dopamine và serotonin vào bào tương.
Khi nồng độ cytosolic tăng, chất dẫn truyền thần kinh khuếch tán ra
khỏi tế bào thần kinh và đi vào các synapse, nơi mà nó kích hoạt các thụ thể
sau synapse. Methamphetamine cũng vô hiệu hóa các hệ thống vận chuyển
chất dẫn truyền thần kinh tái hấp thu.
Kết quả của hai quá trình và sự gia tăng kích thích hưng phấn thần kinh
(adrenergic). Các phản ứng điều tiết duy nhất để kích thích bị phân hủy bởi
enzim catechol o-methyl transferase (COMT), quá trình suy thoái bão hòa chậm
Các thụ thể kích thích alpha và beta-adrenergic gây ra tăng huyết áp, nhịp tim
nhanh, thân nhiệt cao, co thắt mạch. Sự kích hoạt chất dẫn truyền thần kinh
serotonin góp phần gây ra sự thay đổi, sự nhạy cảm cũng như phản ứng loạn
trí đói khát. Sự kích thích của thụ thể dopamine tác động đến ham muốn thèm
thuốc và hành vi tìm kiếm thuốc, và các triệu chứng tâm thần.
17
1.7. Triệu chứng lâm sàng:
Chủ yếu biểu hiện lâm sàng 2 hội chứng: h/c kích thích giao cảm và: h/c
serotonin.
1.7.1. Hội chứng kích thích giao cảm:
- Ảo giác hoang tưởng
- Mạch nhanh

1.7.3.1.Tim mạch:
Nhịp tim nhanh và tăng huyết áp xuất hiện gần như toàn bộ ở các bệnh
nhân nhiễm độc không phân biệt mức độ nghiêm trọng. Thiếu máu tim cục
bộ, nhồi máu cơ tim và bệnh cơ tim đã được nhận thấy trên những người sử
dụng methamphetamine cấp tính và mãn tính. Trong một nghiên cứu hồi sức
cấp cứu, 25% số bệnh nhân sử dụng methamphetamine bị đau ngực có những
dấu hiệu của hội chứng mạch vành cấp.
Nhiễm độc methamphetamine nặng thường đi cùng với trụy tim đột
ngột. Sự kích động nghiêm trọng thường báo trước sự ngừng tim, có thể xảy
ra với cảm giác hoảng sợ nhanh chóng được quan sát thấy sau cơn kích động
vài phút.
Trụy tim được cho rằng phát sinh từ sự suy giảm hỗn hợp chất dẫn
truyền thần kinh, nhiễm acid chuyển hóa, và mất nước. Trong năm 2009, the
United States' National Poison Data System đã báo cáo 2183 trường hợp có
sử dụng methamphetamine liên quan đến sự hội trẩn ở Poison Control Center.
Có bảy người chết và 384 người bị đe dọa tính mạng.
Rối loạn chức năng van có thể được liên quan đến các tác động của
methamphetamine với sử dụng chất dẫn truyền thần kinh serotonin, trong
khi việc bóc cơ tim tách và làm rách động mạch chủ có nhiều khả năng do
19
ảnh hưởng của co cứng và cao huyết áp. Tiêm chích ma tuý làm tăng nguy
cơ gây lên di chứng nhiễm trùng như viêm nội tâm mạc do vi khuẩn.
1.7.3.2.Đầu, mắt, tai, mũi và cổ họng:
Giãn đồng tử phản ứng tối thiểu, tổn thương niêm mạc từ bơm (hít),
bỏng vùng miệng - hầu ở những người hút ethamphetamine, và phì đại nướu.
Sâu răng xuất hiện phổ biến ở những trường hợp lạm dụng
methamphetamine mãn tính do thói nghiến răng lúc ngủ, giảm tiết nước bọt,
và vệ sinh răng miệng kém.
1.7.3.3.Phổi:
Tăng nhẹ trao đổi khí, tỷ lệ hô hấp, và thể tích khí thường là những

1.7.3.9.Tâm thần:
Sử dụng methamphetamine cấp tính có thể gây kích động điên cuồng
và hoang tưởng. Sử dụng methamphetamine mãn tính hay quá nhiều liên quan
chặt chẽ tới một loạt các triệu chứng tâm thần bao gồm hoang tưởng và rối
loạn tâm thần, ảo giác, ý định giết người và tự tử, rối loạn tâm trạng, lo lắng .
Tự tử, giết người, rối loạn tâm thần và hành vi, vận động bất thường thường
thấy ở người sử dụng mãn tính cũng như quá nhiều.
1.8. Cận lâm sàng:
- Tìm độc chất amphetamin, MDMA, methamphetamin trong nước tiểu
bằng phương pháp sắc ký miễn dịch
- Công thức máu
- Khí máu
- Hóa sinh: Ure, đường máu, Creatinin, điện giải đồ, men gan, CK.
- X quang tim phổi
- Điện tâm đồ
21
1.9. Điều trị:
1.7.1. Nguyên tắc xử trí ngộ độc
Đánh giá bệnh nhân, bệnh nặng khi có:
- Rối loạn ý thức, hôn mê
- Co giật
- Suy hô hấp: tím tái, ngừng thở
- Tụt huyết áp hoặc không đo được
- Mạch nhanh nhỏ khó bắt
1.7.2. Điều trị cụ thể
* Với đường uống
- Gây nôn : không khuyến cáo do tăng nguy cơ co giật, xuất huyết và
biến chứng tim mạch.
- Than hoạt: tối thiểu 240 ml H2O mỗi 30g than hoạt. 25-100g cho ngời
lớn, 25-50g trẻ em 1-12 tuổi, 1g/kg trẻ <1 tuổi. Nhuận tràng không khuyến

2.2.1. Loại hình nghiên cứu
- Mô tả hồi cứu
2.2.2. Tiến hành nghiên cứu:
Phương pháp thu thập thông tin
- Từ bảng thống kê các bệnh nhân ngộ độc cấp chất kích thích tại trung
tâm chống độc bệnh viện Bạch Mai từ tháng 1/2010 đến tháng 09/2012
- Chọn các bệnh án đủ tiêu chuẩn nghiên cứu và không có các tiêu
chuẩn loại trừ để đưa vào nghiên cứu.
2.2.3. Thời gian và địa điểm
2.2.3.1. Thời gian
- Từ tháng 1/2010 đến hết tháng 9/2012
24
2.2.3.2. Địa điểm
- Tại Trung tâm chống độc bệnh viện Bạch Mai
2.2.4. Mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.2.4.1 Cỡ mẫu:
- Cỡ mẫu thuận tiện
2.2.5. Triển khai nghiên cứu:
2.2.5.1. Chỉ số nghiên cứu:
2.5.1.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu:
- Họ tên, tuổi, giới
- Nghề nghiệp: lao động tự do, học sinh sinh viên, công chức, công nhân
- Địa chỉ
- Hoàn cảnh xẩy ra ngộ độc
- Tiền sử dùng thuốc: dùng lần đầu, thường xuyên dùng
- Loại thuốc sử dụng: Amphetamin, Methamphetamin, MDMA
- Đường dùng thuốc: uống, hút, hít, tiêm TM
- Dạng thuốc dùng: viên, bột
-Thời gian dùng thuốc
- Số lượng thuốc đã dùng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status