LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên
cứu khoa học, độc lập của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong
luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGÔ VIỆT HẠNH
MỤC LỤC
CHƯƠNG I 3
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG 3
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
1.1. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI 3
1.1.1.1. Ngân hàng thương mại 3
1.1.2. Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại 5
1.2. CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 10
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm cho vay tiêu dùng 10
1.2.2. Các hình thức cho vay tiêu dùng 12
1.2.3. Sự cần thiết phát triển cho vay tiêu dùng 14
1.2.4. Chỉ tiêu đánh giá và nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển cho vay tiêu dùng 20
1.2.4.2. Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển cho vay tiêu dùng 25
a. Các nhân tố khách quan 25
b. Các nhân tố chủ quan: 27
1.2.5. Quản lý rủi ro cho vay tiêu dùng 30
1.3.1. Kinh nghiệm của Ngân hàng thương mại các nước 31
1.3.1.1. Tình hình cho vay tiêu dùng tại Mỹ 31
1.3.1.2. Tình hình cho vay tiêu dùng tại Trung Quốc 33
1.3.2. Bài học kinh nghiệm đối với các Ngân hàng thương mại Việt Nam 34
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36
CHƯƠNG II 37
THỰC TRẠNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG 37
ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH HÀ THÀNH 37
3.2.3. Phát triển hoạt động Marketing, đa dạng kênh phân phối. 88
3.2.4. Tăng trưởng cho vay tiêu dùng gắn với đảm bảo an toàn cho vay 90
3.2.5. Một số giải pháp khác 92
3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 95
3.3.1. Kiến nghị với Chính phủ 95
3.3.2. Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 97
3.3.3. Kiến nghị với Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam (BIDV) 98
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NHTM Ngân hàng thương mại
CVTD Cho vay tiêu dùng
NHNN Ngân hàng Nhà Nước
BIDV Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
NHTW Ngân hàng Trung ương
TCTD Tổ chức tín dụng
CIC Trung tâm thông tin tín dụng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
KH Khách hàng
TSBĐ Tài sản bảo đảm
QHKH Quan hệ khách hàng
GTCG Giấy tờ có giá
SX-KD Sản xuất – Kinh doanh
CBCNV Cán bộ Công nhân viên
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
BẢNG
CHƯƠNG I 3
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG 3
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
1.1. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI 3
1.1.1. Ngân hàng thương mại và hoạt động của Ngân hàng thương mại 3
ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH HÀ THÀNH 37
2.1. GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI
NHÁNH HÀ THÀNH 37
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
- Chi nhánh Hà Thành 37
2.1.3. Những kết quả đạt được của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi
nhánh Hà Thành trong thời gian qua 38
Trong giai đoạn 5 năm 2006-2010, mặc dù môi trường kinh doanh khó khăn do
chịu ảnh hưởng tiêu cực từ khủng hoảng tài chính toàn cầu và suy giảm kinh tế trong nước,
nhưng với sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Ban lãnh đạo BIDV cùng với sự cố gắng, nỗ
lực, liên tục phấn đấu của tập thể CBCNV trong Chi nhánh, hoạt động kinh doanh của Chi
nhánh Hà Thành đã phát triển theo đúng định hướng đề ra. Đó là hoạt động phát triển bền
vững, an toàn, hiệu quả, tăng nhanh cả về quy mô và tốc độ, thị phần được mở rộng, sản
phẩm dịch vụ ngân hàng đa dạng với chất lượng cao, thể hiện bằng những kết quả ấn
tượng, toàn diện trên tất cả các mặt hoạt động: 38
Bảng 2.1. Kết quả kinh doanh Chi nhánh Hà Thành (2008-2010) 38
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của Chi nhánh Hà Thành) 39
2.2.1. Sơ lược về thực trạng cho vay tiêu dùng của các ngân hàng thương mại ở Việt
Nam. 43
2.2.2. Thực trạng phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam - Chi nhánh Hà Thành 46
2.2.2.1. Các quy định, quy chế về cho vay tiêu dùng tại Chi nhánh 46
2.2.2.2. Tình hình hoạt động và phát triển cho vay tiêu dùng tại Chi nhánh 49
2.3.2. Những hạn chế 62
2.3.3. Nguyên nhân 64
2.3.3.1. Nguyên nhân khách quan 64
a. Tác động của nền kinh tế 64
b. Môi trường pháp lý chưa hoàn thiện 65
c. Sự cạnh tranh quyết liệt của thị trường 65
d. Việc ban hành các văn bản quy định hướng dẫn của BIDV còn thiếu và chưa
3.2.4.2. Nâng cao chất lượng cho vay 91
3.2.4.3. Quản lý rủi ro trong cho vay 92
3.2.5. Một số giải pháp khác 92
3.2.5.1. Nâng cao chất lượng dịch vụ 93
3.2.5.2. Bổ sung, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 93
3.2.5.3. Nâng cao năng lực công nghệ, tận dụng tối đa ưu thế của công nghệ hiện
đại hóa ngân hàng 94
3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 95
3.3.1. Kiến nghị với Chính phủ 95
3.3.2. Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 97
3.3.3. Kiến nghị với Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam (BIDV) 98
HÌNH VẼ
Hình 1.1: NHTM là trung gian tài chính Error: Reference source not found
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.2. Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh Hà Thành Error: Reference source
not found
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bên cạnh những cơ hội và lợi thế có thể phát huy các Ngân hàng thương mại
Việt Nam cũng chịu không ít các thách thức đặc biệt là áp lực cạnh tranh của các
tập đoàn doanh nghiệp và tập đoàn tài chính xuyên quốc gia, chính vì vậy để có thể
tận dụng tối đa các cơ hội, hạn chế thách thức đòi hỏi các ngân hàng thương mại
Việt Nam phải có những giải pháp thích hợp để có thể thích ứng với tiến trình tự do
hoá, nhanh chóng ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ, mở rộng và phát
triển dịch vụ ngân hàng tiên tiến, đảm bảo an toàn hiệu quả hoạt động kinh doanh
nhằm không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại
Việt Nam trong môi trường cạnh tranh trong và ngoài nước.
Nhận thức được môi trường cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực ngân hàng trong
thời kỳ mới, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hà Thành được
thành lập năm 2003 là đơn vị trực thuộc Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Vận dụng tổng hợp các phương pháp duy vật biện chứng, logic trong khái
quát tổng quan và luận giải vấn đề kết hợp với phương pháp thống kê, so sánh và
vận dụng các bảng biểu, sơ đồ phân tích.
4. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận. Luận văn gồm 03 Chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Việt Nam - Chi nhánh Hà Thành.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay tiêu dùng tại Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hà Thành.
2
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1. Ngân hàng thương mại và hoạt động của Ngân hàng thương mại
1.1.1.1. Ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất trong nền
kinh tế. Hệ thống ngân hàng hiện nay được chia làm 2 bộ phận chính: Ngân hàng
Trung ương (NHTW) và các ngân hàng trung gian. Bộ phận lớn nhất trong nhóm
các Ngân hàng trung gian là hệ thống Ngân hàng thương mại (Commercial banking
system). Với chức năng trung gian tài chính, Ngân hàng thương mại (NHTM) là
một thiết chế kinh doanh chuyên việc đưa những người cho vay và đi vay gặp
nhau. Nói cách khác, các NHTM là trung gian tài chính vì nó chuyển hoá những
khoản tiền tiết kiệm, tài sản chưa sử dụng của một số bộ phận nhân dân này đến tay
những bộ phận nhân dân khác đang cần vay để sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng.
Hình 1.1 : NHTM là trung gian tài chính
(Nguồn: Tiền và hoạt động NH của Lê Vinh Danh – NXBCT Quốc Gia – Hà nội 1996)
NHTM là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nền kinh tế.
nhập từ ngân hàng là nguồn thu nhập quan trọng của nhiều hộ gia đình. Ngân hàng
là tổ chức cho vay chủ yếu đối với các doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình và một
phần đối với Nhà nước. Đối với các doanh nghiệp, ngân hàng thường là tổ chức
cung cấp cho vay để phục vụ cho việc mua hàng hóa dự trữ hoặc xây dựng nhà
máy, mua sắm trang thiết bị. Khi doanh nghiệp và người tiêu dùng phải thanh toán
cho các khoản mua hàng hóa và dịch vụ, họ thường sử dụng séc, ủy nhiệm chi, thẻ
cho vay hay tài khoản điện tử. Khi họ cần thông tin tài chính hay lập kế hoạch tài
chính, họ thường đến các ngân hàng để nhận được lời tư vấn. Các khoản cho vay
của ngân hàng cho Chính phủ (thông qua mua các chứng khoán của Chính phủ) là
nguồn tài chính quan trọng để đầu tư chứng khoán.
NHTM là một trong những tổ chức trung gian tài chính quan trọng nhất, thực
hiện các chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách tiền tệ, vì vậy là một kênh quan
trọng trong chính sách kinh tế của chính phủ nhằm bảo đảm cho nền kinh tế vận
động nhịp nhàng và hữu hiệu .
1.1.1.2. Hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại.
Sự ra đời của các NHTM đã đóng vai trò to lớn đối với sự phát triển của nền
kinh tế. NHTM thực hiện huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau. Ngân hàng tạo
lập nguồn vốn của mình từ các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế dưới các hình
thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi phát séc. Theo thời gian,
hoạt động huy động vốn của NHTM cũng phong phú hơn như có thêm hình thức
vay vốn từ dân cư, các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước bằng cách chủ động phát
hành kỳ phiếu hay trái phiếu ngân hàng. Ngoài ra, NHTM còn được vay vốn từ các
NHTM khác, vay nước ngoài, vay Ngân hàng Trung ương dưới hình thức tái cấp
vốn và tái chiết khấu.
Trên cơ sở nguồn vốn huy động được, ngân hàng sẽ sử dụng vốn đó để cho
vay, đầu tư và thực hiện hoạt động ngân quỹ. Hoạt động ngân quỹ của ngân hàng là
nhằm bảo đảm khả năng chi trả hoặc thanh toán thường xuyên cho khách hàng.
Thông qua việc đầu tư trở lại cho nền kinh tế, ngân hàng sẽ hỗ trợ cho nhu cầu chi
tiêu hàng hoá, dịch vụ, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật làm tăng năng suất lao
động, nâng cao mức sống xã hội. Nghiệp vụ sử dụng vốn, cho vay là hoạt động chủ
và mục tiêu quản lý của ngân hàng. Sau đây là một số cách phân loại:
a. Theo thời gian: gồm 2 loại:
• Cho vay ngắn hạn: Từ 12 tháng trở xuống
• Cho vay trung hạn: Từ trên 1 năm đến 5 năm
• Cho vay dài hạn: Trên 5 năm
5
Thời hạn cho vay thường được xác định cụ thể và ghi trong hợp đồng cho vay,
là thời hạn trong đó ngân hàng cam kết cấp cho khách hàng một khoản cho vay. Việc
phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng vì thời gian liên quan mật thiết đến
tính an toàn và sinh lợi của cho vay cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng.
b. Theo hình thức gồm:
•Chiết khấu thương phiếu: là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng
tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để sở
hữu một thương phiếu chưa đến hạn. Phần thu nhập của ngân hàng được tính toán
dựa trên lãi suất chiết khấu và thời hạn của thương phiếu. Vì vậy về bản chất nghiệp
vụ thì chiết khấu là hoạt động cho vay.
•Cho vay: là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải
hoàn trả gốc và lãi trong một khoảng thời gian nhất định và một kế hoạch nhất định.
•Bảo lãnh: là việc cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính hộ khách hàng của
mình. Mặc dù chưa phải cho vay khách hàng bằng tiền ngay nhưng vì khách hàng
sử dụng uy tín của ngân hàng nên ngân hàng cũng tiến hành thẩm định hồ sơ của
khách hàng như một món vay trong đó xác định mức tối đa mà ngân hàng chấp
nhận bảo lãnh cho khách hàng là bao nhiêu.
•Cho thuê là việc ngân hàng bỏ tiền ra mua tài sản để cho khách hàng thuê
theo những thoả thuận nhất định. Thông thường trong đó thường quy định rõ thời
gian thuê là bao nhiêu, số tiền thuê trả hàng tháng là bao nhiêu và sau thời gian thuê
khách hàng có mua lại tài sản đó hay không. Các ngân hàng trên thực tế không trực
tiếp thực hiện việc cho thuê tài sản mà thường là nghiệp vụ của các công ty cho thuê
tài chính. Hợp đồng cho thuê tài sản thường được ký dài hạn tương tự như khoản
cho vay trung và dài hạn mà tổ chức tài chính cung cấp cho khách hàng.
của các tổ chức cho vay vào mức độ rủi ro của khoản vay. Một khoản vay nếu được
đánh giá tốt hơn có thể được chuyển và xếp hạng cho vay ở nhóm có mức độ rủi ro
thấp hơn đồng thời TCTD cũng có thể xếp hạng một khoản cho vay đang ở nhóm
hạng rủi ro thấp hơn xuống nhóm hạng cho vay rủi ro cao hơn nếu TCTD đó đánh
giá và có đầy đủ cơ sở cho việc xếp hạng rủi ro khoản vay đó ở mức độ cao hơn.
Các khoản nợ nghi ngờ hoàn toàn không phải là các khoản nợ xấu. Việc phân
loại và tách ra nợ nghi ngờ nhằm phản ánh mức độ rủi ro hơn của những khoản nợ
này so với các khoản nợ tổn thất.
Phân loại nợ theo tiêu thức này là cơ sở để ngân hàng có thể chủ động đánh
giá được mức độ rủi ro của danh mục cho vay của mình từ đó có những chính sách
quản trị điều hành hoạt động cho vay thích hợp.
7
Ở Việt Nam hiện nay, các tiêu chuẩn để phân mức rủi ro và phân loại nợ đã
được điều chỉnh phù hợp với thông lệ quốc tế. Phương thức phân loại nợ mới nhất
hiện nay của Việt Nam được thể hiện và thống nhất trong quyết định số
493/2005/QĐ-NHNN do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành ngày
22/04/2005.
e. Theo ngành kinh tế
Hoạt động cho vay cũng có thể được phân chia theo ngành nghề kinh tế như
Xây dựng, Nông nghiệp, Thương mại, Nông nghiệp, Công nghiệp, Thương mại và
dịch vụ
Trong hoạt động cho vay, một trong những nội dung cực kỳ quan trọng
chính là quản lý được rủi ro cho vay. Việc thống kê dư nợ cho vay theo tiêu thức
ngành nghề có ý nghĩa giúp ngân hàng kiểm soát được danh mục cho vay theo
ngành nghề, từ đó có những điều chỉnh danh mục cho vay theo ngành nghề thích
hợp, phù hợp với định hướng hoạt động của ngân hàng và xu hướng phát triển
của nền kinh tế.
f. Theo phương pháp hoàn trả: gồm 2 loại:
• Cho vay có thời hạn cụ thể: là loại cho vay có thoả thuận thời hạn trả
nợ cụ thể theo hợp đồng. Cho vay có thời hạn bao gồm: cho vay chỉ có một kỳ hạn
Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp.
Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.
Có Dự án đầu tư/ phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu
quả; Dự án đầu tư/ phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp với các quy định
pháp luật.
Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ và
hướng dẫn của Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam.
c. Bảo đảm tiền vay: Bảo đảm tiền vay là việc Tổ chức tín dụng áp dụng các
biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được
khoản nợ đã cho khách hàng vay.
Các biện pháp:
• Bảo đảm bằng tài sản:
Cầm cố, thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay
Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba
Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay
• Bảo đảm không bằng tài sản:
9
Tổ chức tín dụng lựa chọn cho vay không có bảo đảm bằng tài sản (tín chấp).
• Điều kiện của tài sản bảo đảm :
Tài sản phải thuộc quyền sở hữu hoặc thuộc quyền sử dụng, quản lý của khách
hàng vay, bên bảo lãnh.
Tài sản được phép giao dịch: Tài sản mà pháp luật cho phép hoặc không cấm
mua, bán, tặng cho, chuyển đổi, chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp, bảo lãnh và các
giao dịch khác.
Tài sản không có tranh chấp: Tài sản không có tranh chấp về quyền sở hữu
hoặc quyền sử dụng, quản lý của khách hàng vay, bên bảo lãnh tại thời điểm ký kết
Hợp đồng bảo đảm.
Tài sản mà pháp luật quy định phải mua bảo hiểm thì khách hàng vay, bên
bảo lãnh phải mua bảo hiểm tài sản trong thời hạn bảo đảm tiền vay.
1.1.2.3. Quy trình cho vay của Ngân hàng thương mại
• Quy mô của mỗi khoản vay nhỏ nhưng số lượng khoản vay lớn:
Khi khách hàng có nhu cầu mua sắm, đối với những hàng hoá thông thường
thì giá cả của nó không quá cao, còn đối với những loại hàng hoá có giá trị lớn như
bất động sản (nhà cửa), động sản (ô tô) thì khách hàng cũng đã tích luỹ từ trước và
ngân hàng chỉ cho vay bổ sung phần thiếu hụt vì vậy so với các món vay kinh
doanh thì những món vay tiêu dùng thường có quy mô nhỏ hơn rất nhiều.
Tuỳ vào sự phát triển của nền kinh tế xã hội dẫn đến số lượng những khoản
vay tiêu dùng là lớn hay nhỏ. Khi nền kinh tế phát triển thu nhập của người dân có
xu hướng gia tăng, nhu cầu tiêu dùng của họ cũng tăng theo và họ đã tìm đến ngân
hàng để thoả mãn ngay các nhu cầu hiện tại và ngược lại khi nền kinh tế suy yếu,
người dân có xu hướng tiết kiệm hơn tiêu dùng nên họ sẽ hạn chế tìm kiếm các
khoản vay từ ngân hàng.
• Lãi suất của khoản vay ít co dãn:
Lãi suất CVTD thường được cố định, không linh hoạt như các khoản vay kinh
doanh khác. Thông thường người đi vay quan tâm tới số tiền phải thanh toán hơn là
lãi suất mà họ phải chịu vì: một mặt, đối với người tiêu dùng, giá trị (lợi ích) được
thoả mãn lớn hơn rất nhiều chi phí bỏ ra để thoả mãn những lợi ích đó, mặt khác
khoản vay nhỏ và được trả trong nhiều kỳ nên tiền lãi phải trả thường thay đổi
không nhiều.
• Các khoản CVTD có chi phí cao:
Nếu xét về số lượng thì CVTD gồm rất nhiều những món vay nhỏ mặc dù nếu
tính tổng dư nợ thì chỉ bằng một vài khoản vay lớn tuy nhiên ngân hàng vẫn phải
11
thực hiện đầy đủ đúng quy trình cho từng món vay từ khâu tiếp nhận hồ sơ, tìm hiểu
thông tin về khách hàng, thẩm định khách hàng mà không được phép bỏ sót một
khâu nào, những điều này làm mất rất nhiều thời gian và việc thực hiện một khoản
vay rất tốn kém, chiếm một khoản mục chi phí lớn của ngân hàng và lãi suất cho vay
tiêu dùng thường cao hơn các loại cho vay trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp.
• Các khoản CVTD có độ rủi ro cao
Về cơ bản thì hoạt động cho vay là hoạt động rủi ro nhất trong hoạt động
này.
b. Căn cứ vào phương thức hoàn trả khoản vay
Phương thức trả nợ hợp lý sẽ đem lại sự hài lòng cho người đi vay đồng thời
đem lại hiệu quả cho khoản cho vay được cấp. Ta có thể chia CVTD thành ba loại:
• CVTD trả góp (Installment consumer loan): đó là khoản CVTD mà hình
thức trả nợ là hàng kỳ hạn nhất định người đi vay trả cho ngân hàng một khoản nợ
(trong đó bao gồm cả gốc lẫn lãi) theo sự thoả thuận trong hợp đồng. Phương thức
này thường áp dụng cho khoản vay có giá trị lớn hoặc thu nhập từng kỳ người đi
vay không đáp ứng hoàn trả ngay khoản nợ.
Thông thường đối với hình thức cấp cho vay này ngân hàng thường chú ý đến
một số vấn đề sau:
- Loại tài sản ngân hàng tài trợ: Thiện chí trả nợ của người đi vay sẽ tốt
hơn nếu tài sản hình thành từ tiền vay đáp ứng được nhu cầu thiếu đối với khách hàng
trong tương lai. Nếu tài sản khách hàng mua về có giá trị sử dụng lâu dài, và hữu ích
thì khách hàng sẽ nhiệt tình hơn trong việc trả nợ. Cho nên khi lựa chọn loại tài sản
để tài trợ khách hàng, ngân hàng thường lựa chọn loại đem lại giá trị hữu ích lâu dài.
- Số tiền khách hàng trả trước: thông thường ngân hàng yêu cầu khách
hàng trả trước một phần giá trị tài sản khi mua sắm - số tiền này gọi là số tiền trả
trước (hay gọi là vốn tự có của khách hàng), phần còn lại ngân hàng sẽ cho vay. Số
tiền trả trước đủ lớn nhằm một mặt người đi vay họ ý thức được họ sở hữu tài sản
này, một mặt giảm độ rủi ro xuống cho ngân hàng, tuỳ vào loại tài sản tài trợ mà
ngân hàng yêu cầu khách hàng trả trước phần trăm giá trị tài sản.
- Chi phí tài trợ: là số tiền người đi vay phải trả cho ngân hàng khi nhận
số tiền cho vay của ngân hàng. Chính là lãi suất vay và các chi phí phát sinh khác.
- Điều khoản thanh toán: trước khi cấp cho vay ngân hàng thường phải
thoả thuận với khách hàng số tiền khách hàng phải trả định kỳ, thời hạn cho vay
không quá dài, phương pháp tính lãi, cách thức phân bổ lãi theo thời gian, nếu
khách hàng trả nợ trước hạn ngân hàng sẽ xử lý thế nào…
•CVTD phi trả góp (Noninstallment consumer loan): theo phương thức
này tiền vay được khách hàng thanh toán cho ngân hàng chỉ một lần khi đến hạn.
Trong xu hướng vận động, phát triển và mở cửa hội nhập hiện nay tại Việt
Nam, bên cạnh với sự ra đời của một loạt các ngân hàng thương mại cổ phần là sự
tham gia của các “đại gia” trong lĩnh vực tài chính ngân hàng trên thế giới khiến sự
14
cạnh tranh nhằm xác định và chiếm giữ phân đoạn thị trường giữa các ngân hàng
diễn ra hết sức sôi động. Xác định các nguồn thu từ hoạt động cho vay sẽ ngày càng
bị hạn chế và gặp nhiều khó khăn, trong khi đó thị trường ngân hàng bán lẻ mới chỉ
chiếm từ 6-12% trong tổng doanh thu của các ngân hàng Việt Nam (tỷ lệ này tại các
nước phát triển là khoảng 50%) sẽ ngày càng phát triển mạnh mẽ nhằm thoả mãn
đầy đủ nhất nhu cầu ngày càng lớn của trên 80 triệu dân Việt về sản phẩm, dịch vụ
ngân hàng.
Thị trường ngân hàng bán lẻ ngày càng phát triển cả về quy mô và đa dạng về
sản phẩm, nhiều sản phẩm dịch vụ mới ra đời với nhiều tiện ích trong cho vay và
phi cho vay như các loại hình thẻ cho vay, ghi nợ, mua hàng, dịch vụ thấu chi tài
khoản, cho vay mua nhà trả góp, xe hơi, cho vay đi du học, … So với khoảng 3000
sản phẩm dịch vụ bán lẻ tại thị trường nước ngoài thì số lượng các sản phẩm dịch
vụ bán lẻ hiện đang cung ứng trên thị trường bán lẻ Việt Nam còn rất khiêm tốn,
đây chính là một thách thức, khó khăn đồng thời là một cơ hội cho các NHTM nói
chung và BIDV nói riêng trong quá trình phát triển, giới thiệu và cung ứng các sản
phẩm tới khách hàng. Việc đa dạng hóa sản phẩm bán lẻ là một trong những biện
pháp chính yếu tạo thuận lợi cho việc triển khai sản phẩm ra thị trường. Với từng
nhu cầu, đối tượng khách hàng có các sản phẩm phù hợp cũng như các sản phẩm
phái sinh, các sản phẩm bán chéo giữa các bộ phận trong ngân hàng. Chẳng hạn với
sản phẩm thẻ nội địa khách hàng có thẻ rút tiền mặt, thanh toán hàng hoá, dịch vụ,
vấn tin tài khoản, chuyển khoản, sử dụng nhiều sản phẩm như cho vay qua dịch vụ
thấu chi, bảo hiểm và đặc biệt là gửi tiền qua máy ATM là biện pháp khuyến khích,
giữ chân và mời gọi khách hàng sử dụng, gia tăng sử dụng sản phẩm dịch vụ của
ngân hàng. Với danh mục sản phẩm dịch vụ chưa đa dạng hiện tại của hệ thống
ngân hàng, các ngân hàng nhận thấy cần tăng nguồn chi phí vào công tác nghiên
cứu, phát triển và đa dạng hóa các dòng sản phẩm, dịch vụ của mình, xây dựng và
khách hàng cho vay) và định tính (chất lượng cho vay, uy tín, danh tiếng) qua đó
bổ sung và làm tăng lợi nhuận thu được từ hoạt động cho vay và đảm bảo mức
độ rủi ro nhất định.
Phát triển cho vay tiêu dùng có ý nghĩa quan trọng đối với các ngân hàng
thương mại. Bởi vì:
• Hoạt động cho vay đem lại nguồn thu chủ yếu cho các ngân hàng thương
mại. Phát triển được hoạt động cho vay tiêu dùng đồng nghĩa với việc gia tăng lợi
nhuận và hiệu quả hoạt động ngân hàng.
• Phát triển cho vay tiêu dùng là động lực thúc đẩy các sản phẩm cho vay
16
khác và các sản phẩm dịch vụ khác trong ngân hàng thương mại đặc biệt là lĩnh vực
thanh toán và huy động vốn.
• Hiện nay các ngân hàng thương mại có xu hướng tăng tỷ lệ thu nhập từ các
hoạt động dịch vụ trên tất cả các hoạt động thanh toán, huy động vốn và cho vay
đặc biệt tập trung vào sản phẩm cho vay tiêu dùng vì đây vẫn là mảng dịch vụ giữ
vai trò cốt lõi trong quá trình phát triển ngân hàng và cho vay tiêu dùng cũng là
phương tiện tốt nhất để hỗ trợ các dịch vụ khác của ngân hàng.
• Đối với các ngân hàng mới thành lập hay chi nhánh ngân hàng mới thành
lập hay thâm nhập vào một địa bản mới, sự cạnh tranh càng trở nên gay gắt hơn.
nhưng cho vay vẫn giữ vai trò cốt lõi trong quá trình phát triển ngân hàng và cho
vay tiêu dùng ngày nay phát huy được tối đa trong việc khai thác các dịch vụ đi
khác kèm của ngân hàng. Theo thống kê thì đến 90% số khách hàng đang sử dụng
dịch vụ ngân hàng đều ít nhiều liên quan tới hoạt động cho vay tiêu dùng và ngược
lại 100% số khách hàng có quan hệ cho vay với ngân hàng thì đều sử dụng thêm các
dịch vụ mà ngân hàng cung cấp . Cùng với sự phát triển mạng lưới và đổi mới công
nghệ các ngân hàng đều tiến tới chiến lược phát triển các dịch vụ mới hiện đại. Phát
triển cho vay nói chung và cho vay tiêu dùng đóng vai trò to lớn góp phần quyết
định sự tồn tại và hiệu quả hoạt động của ngân hàng đó trên địa bàn.
Như vậy, phát triển CVTD được hiểu là sự tăng trưởng hoạt động cho vay về
cả chiều rộng và chiều sâu. Yêu cầu của nền kinh tế thị trường và sự cạnh tranh