triển khai tính chi phí kinh doanh tại công ty cổ phần quản lý và xây dựng giao thông i sơn la - Pdf 22

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
BẢNG
Theo Luật Kế toán số 03/2003/QH ngày 17 - 6 - 2003 hệ thống kế toán
doanh nghiệp bao gồm Kế toán tài chính và Kế toán quản trị (tính chi phí kinh
doanh). Trong đó, kế toán tài chính nhằm cung cấp thông tin cho các chủ thể
có liên quan ở bên ngoài quá trình kinh doanh của DN (các cơ quan quản lý
nhà nước, ngân hàng, nhà đầu tư, nhà cung cấp ), còn kế toán quản trị thu
thập, xử lý thông tin về các nguồn lực hiện có trong nội bộ DN nhằm cung cấp
cơ sở thông tin kinh tế bên trong cần thiết để nhà quản trị đưa ra các quyết định
điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong hiện tại, tương lai. Thông tin
chi phí do kế toán quản trị cung cấp là chi phí kinh doanh, là căn cứ tin cậy để
đánh giá đúng kết quả, hiệu quả kinh doanh của DN. Vì vậy xây dựng được hệ
thống tính chi phí kinh doanh là mối quan tâm hàng đầu của nhiều DN.
Tại Công ty cổ phần Quản lý và Xây dựng giao thông I Sơn La hiện
nay mới chỉ thực hiện tính toán chi phí tài chính để phục vụ cho việc lập các
báo cáo tài chính theo quy định của Nhà nước, việc xây dựng mô hình kế toán
quản trị chưa được quan tâm triển khai.
Nhận thức được vai trò của tính chi phí kinh doanh với hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu cho Luận
văn thạc sĩ của mình là “Triển khai tính chi phí kinh doanh tại Công ty cổ
phần Quản lý và Xây dựng giao thông I Sơn La”.
Ngoài các phần Mở đầu và Kết luận. Nội dung luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Sự cần thiết phải tính chi phí kinh doanh trong lĩnh vực xây
dựng cơ bản tại Công ty cổ phần Quản lý và Xây dựng giao
thông I Sơn La
Chương 2. Khuyến nghị áp dụng các nguyên lý tính chi phí kinh doanh tại
Công ty cổ phần Quản lý và Xây dựng giao thông I Sơn La

Các tài khoản được mở chi tiết cho từng công trình, HMCT để tiện cho
việc theo dõi và hạch toán.
Thứ ba, thực trạng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xây lắp tại Công ty
- Các loại giá thành xây lắp được Công ty tính toán: CTCP Quản lý và
Xây dựng giao thông I Sơn La là một công ty hoạt động trong lĩnh vực xây
dựng cơ bản do đó các sản phẩm xây lắp được Công ty tiến hành sản xuất,
hoàn thành và bàn giao hầu hết đều theo phương thức đấu thầu hoặc được chỉ
định thầu. Để đảm bảo chất lượng công trình đồng thời thực hiện mục tiêu
kinh doanh có lãi nên đối với mỗi công trình, HMCT nhận thầu Công ty đều
phải tính toán trước giá thành công trình (giá dự thầu) và sau khi thi công
hoàn thành bàn giao Công ty tiến hành tập hợp chi phí và tính toán giá thành
sản xuất, giá thành thực tế để xác định lợi nhuận của mỗi công trình.
- Các khoản mục chi phí xây lắp: Công ty sử dụng phương pháp tập
hợp chi phí sản xuất trực tiếp, theo phương pháp này các chi phí có liên quan
trực tiếp tới công trình nào thì được tập hợp trực tiếp cho công trình đó. Các
chi phí liên quan đến nhiều công trình thì cuối tháng, kế toán tập hợp, phân bổ
cho từng công trình (HMCT) theo tiêu thức chi phí nhân công trực tiếp. Mỗi
công trình (HMCT) từ khi khởi công đến khi hoàn thành bàn giao thanh quyết
toán đều được mở riêng một sổ chi tiết tính chi phí sản xuất để tập hợp chi phí
sản xuất thực tế phát sinh cho công trình (HMCT) đó, đồng thời cũng để tính
giá thành công trình (HMCT) đó. Căn cứ để ghi số liệu vào sổ chi tiết là các
bảng tổng hợp chứng từ gốc phát sinh cùng loại của mỗi tháng và được chi
tiết theo các khoản mục: chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp,
chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung
- Cách thức hạch toán chi phí sản xuất tại Công ty
+ Hạch toán khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Tại Công ty, NVL trực tiếp được dùng cho thi công công trình rất đa
dạng và phong phú bao gồm: nhựa đường, sắt thép, xi măng, đá, cát, sỏi…
Các nguồn cung cấp NVL cho công trình bao gồm NVL xuất từ kho Công ty

công trực tiếp cho đơn vị thi công. Công ty và đơn vị thi công ký kết hợp
đồng giao khoán trong thời gian 20 tháng từ tháng 5/2008 đến hết tháng
12/2009.
+ Hạch toán khoản mục chi phí sử dụng máy thi công
Để tập hợp chi phí sử dụng máy thi công kế toán sử dụng tài khoản
623, tài khoản này được mở chi tiết cho từng công trình. Chi phí sử dụng máy
thi công được kế toán Công ty tập hợp và phân bổ cho các công trình, HMCT
theo tiêu thức chi phí nhân công trực tiếp.
Đối với công trình cầu Long Hẹ sử dụng tài khoản 6230801 và được
theo dõi theo các tài khoản cấp 2:
Tài khoản 62310801: Chi phí nhân công
Tài khoản 62320801: Chi phí vật liệu
Tài khoản 62340801: Chi phí khấu hao máy thi công
Tài khoản 62370801: Chi phí dịch vụ mua ngoài
∙ Chi phí nhân công
Chi phí nhân công của công trình cầu Long Hẹ hạch toán vào tài khoản
62310801 là chi phí nhân công trực tiếp điều khiển máy thi công, không hạch
toán vào tài khoản này các khoản trích theo lương như BHXH, BHYT, KPCĐ
của công nhân trực tiếp điều khiển máy thi công hoặc chi phí nhân công của
bộ phận gián tiếp của đội. Hàng tháng, lương của lái xe máy thi công được kế
toán tập hợp và phân bổ cho các công trình, HMCT theo tiêu thức chi phí
nhân công trực tiếp.
Các chứng từ sử dụng để tập hợp chi phí nhân công là hợp đồng làm
khoán, bảng chấm công, nhật trình xe máy.
∙ Chi phí vật liệu
Chi phí vật liệu là chi phí vật liệu xuất dùng phục vụ trực tiếp cho máy
thi công. Do địa điểm của công trình thi công xa trung tâm nên các loại vật
liệu này không phải mua và làm thủ tục nhập kho, xuất kho giống như NVL
phục vụ cho quá trình xây lắp mà kế toán căn cứ vào hóa đơn, chứng từ các đội
gửi về, kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp của các chứng từ để tiến hành nhập số

cho đội trong quá trình thi công như quần áo, găng tay… bảo hộ lao động. Giá
xuất dùng là giá thực tế mua vào.
+ Chi phí khấu hao nhà đội sản xuất: Tại các công trình mà đơn vị thi
công hoặc gần vị trí đó Công ty cho xây dựng các nhà phục vụ cho công nhân
tham gia xây lắp, khi tính chi phí sản xuất chung cho công trình cũng phải
tính khấu hao của nhà đội sản xuất.
∙ Hạch toán chi phí dịch vụ mua ngoài: Chi phí dịch vụ mua ngoài phát
sinh tại các tổ, đội xây lắp bao gồm toàn bộ tiền điện, nước, tiền thuê bao điện
thoại, cước điện thoại hàng tháng, tiền photo… Chi phí dịch vụ mua ngoài
công trình cầu Long Hẹ được kế toán tập hợp vào tài khoản 62770801
Cuối tháng, các chứng từ hóa đơn thanh toán với người cung cấp dịch
vụ cùng bảng kê thanh toán hóa đơn GTGT được gửi về phòng Tài vụ - Vật
tư. Sau khi kiểm tra tính hợp lý, pháp lý của các hóa đơn chứng từ kế toán
tổng hợp và nhập số liệu.
- Cách thức đánh giá sản phẩm dở dang và tính giá thành sản phẩm xây
lắp tại Công ty
Thứ tư, trên cơ sở phân tích thực trạng tính chi phí tại công ty tác giả
đưa ra những nhận xét, đánh giá về công tác tính chi phí và lý do phải triển
khai tính chi phí kinh doanh tại Công ty
Trong chương 2, Luận văn giải quyết các vấn đề sau:
Thứ nhất, đặc điểm kinh tế - xã hội - kỹ thuật - tự nhiên chủ yếu ảnh
hưởng đến công tác tính CPKD tại Công ty bao gồm: các quy định của Nhà
nước về thực hiện tính chi phí kinh doanh trong các DN, đặc điểm quản trị
trong DN, đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh tại Công ty, trình độ đội ngũ
kế toán
Thứ hai, áp dụng nguyên tắc bảo toàn tài sản về mặt hiện vật trong tính
CPKD tại Công ty: Nguyên tắc bảo toàn tài sản về mặt hiện vật đòi hỏi trong
quá trình tính chi phí kinh doanh không dựa vào giá trị mua sắm các yếu tố ở
thời điểm mua sắm chúng mà phải đánh giá giá trị của các yếu tố tham gia
vào quá trình sản xuất trên cơ sở giá cả mua lại được chúng sau quá trình kinh

- Hình thành các điểm chi phí tại Công ty
Điểm chi phí (ĐCP) là nơi phát sinh chi phí, hay là một bộ phận DN
được giới hạn theo tiêu thức thích hợp nhằm tập hợp, phân bổ CPKD chung,
kế hoạch hóa và đánh giá hiệu quả hoạt động tại mỗi bộ phận đó.
Dựa trên việc nghiên cứu cơ cấu tổ chức và nhiệm cụ của các bộ phận
phòng ban tại Công ty, có thể phân chia các ĐCP sau: ĐCP nguyên vật liệu,
ĐCP sản xuất, ĐCP tiêu thụ, ĐCP chung, ĐCP quản trị
- Tổ chức tính chi phí kinh doanh theo điểm tại Công ty
Phương pháp phân bổ chi phí kinh doanh
+ Đối với CPKD trực tiếp thì chi phí của đối tượng nào sẽ được tập hợp
và phân bổ trực tiếp cho đối tượng đó
+ Đối với CPKD chung là chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối
tượng chịu chi phí thì lấy tổng chi phí gián tiếp này phân bổ vào các ĐCP
còn lại theo tiêu thức như số lao động hay tiền lương của lao động trong ĐCP
đó. Trong trường hợp của Công ty thì chi phí tại ĐCP chung chỉ được phân bổ
vào ĐCP quản trị, NVL và tiêu thụ vì ĐCP chung chỉ phục vụ cho các bộ
phận tại văn phòng chứ không phục vụ các đội sản xuất.
- Tổ chức tính CPKD theo điểm tại Công ty
Để phân bổ CPKD chung cho các ĐCP trong bảng ta áp dụng phương
pháp phân bổ trực tiếp.
CPKD chung tại ĐCP chung được phân bổ cho các ĐCP quản trị, ĐCP
NVL, ĐCP tiêu thụ theo tỷ lệ số lao động tại các ĐCP.
Tỷ lệ CPKD định mức tại Công ty là ĐCP cầu Long Hẹ = ĐCP đường
103 bằng 106% so với tổng chi phí NVL trực tiếp và chi phí nhân công trực
tiếp, đội lái máy thi công bằng 18%, ĐCP quản trị bằng 38%, ĐCP tiêu thụ
bằng 5%, ĐCP nguyên vật liệu bằng 5,5% tổng chi phí NVL trực tiếp và chi
phí nhân công trực tiếp của các công trình thi công trong tháng.
Căn cứ vào số liệu phân bổ CPKD chung, ta lập bảng phân bổ CPKD
chung cho các ĐCP
Chương 3 của Luận văn giải quyết các vấn đề chính sau:

HMCT hay tổ, đội…)
Để làm được điều này Công ty phải thiết kế hệ thống chứng từ nội bộ
mang tính khoa học, chứa đựng đầy đủ các thông tin cần thiết cung cấp cho kế
toán tài chính và tính chi phí kinh doanh. Hệ thống chứng từ nội bộ chủ yếu là
các chứng từ nhập kho, xuất kho NVL.
+ Lập chứng từ xuất kho: khi xuất kho NVL nhân viên làm nhiệm vụ
xuất kho phải lập hóa đơn xuất kho. Mỗi hóa đơn xuất kho đều ghi nhận việc
xuất kho nhiều loại NVL khác nhau với đơn vị hiện vật và giá trị
+ Tập hợp loại NVL sử dụng: Do Công ty tổ chức kho phân tán (kho tại
Công ty và kho tại các công trình, HMCT). Nên NVL xuất kho Công ty cho
các công trình, HMCT hóa đơn xuất kho sẽ chỉ xác định được số lượng NVL
từng loại đã xuất khỏi kho Công ty, để biết được số lượng NVL từng loại cụ
thể đưa vào sử dụng cho thi công công trình, HMCT phải có số liệu ghi chép
ở kho bộ phận mới xác định được. Nhân viên ghi chép ban đầu tập hợp NVL
từng loại sử dụng trong kỳ
- Về tổ chức nhân viên ghi chép ban đầu:
+ Hiện nay tại mỗi công trình, HMCT Công ty bố trí một nhân viên
kinh tế làm nhiệm vụ tập hợp các hóa đơn chứng từ cuối tháng gửi về Phòng
Tài vụ - Vật tư Công ty để ghi chép, hạch toán. Khi triển khai mô hình tính
CPKD tại Công ty nhân viên kinh tế sẽ làm nhiệm vụ ghi chép ban đầu các
chi phí phát sinh tại công trình, HMCT.
+ Phòng Tổ chức hành chính tại Công ty quản lý số lượng lao động,
thời gian làm việc của cán bộ công nhân viên tại trụ sở Công ty hàng tháng
lập bảng chấm công làm cơ sở tính lương cho từng cán bộ, công nhân viên.
Khi triển khai mô hình tính CPKD thì cán bộ phòng Tổ chức hành chính sẽ
thực hiện công tác tính lương chung cho cán bộ công nhân viên tại trụ sở
Công ty và ghi chép ban đầu về tiền lương chung.
+ Thủ kho Công ty sẽ làm nhiệm vụ ghi chép ban đầu về công tác nhập,
xuất NVL và tính chi phí NVL từng loại sử dụng vào thi công từng công
trình, HMCT căn cứ vào số liệu ghi chép ban đầu của nhân viên kinh tế tại

lý chi phí mới nhằm tiết kiệm và sử dụng chi phí một cách có hiệu quả, là cơ
sở hạ giá thành sản phẩm xây lắp, tăng trường khả năng cạnh tranh của Công
ty trên thị trường. Quá trình nghiên cứu lý luận về tính CPKD và thực tiễn tại
Công ty, vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu tác giả đã thực hiện
các mục tiêu nghiên cứu đặt ra:
- Phân tích đánh giá thực trạng công tác hạch toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty
- Áp dụng nguyên lý tính CPKD tại Công ty
- Đề xuất các giải pháp nhằm triển khai tính CPKD tại Công ty
trờng ĐạI HọC KINH Tế QUốC DÂN

Nguyễn hải khanh
triển khai tính chi phí kinh doanh
tại công ty cổ phần quản lý và xây dựng
giao thông i sơn la

Chuyên ngành
: Quản trị kinh doanh tổng hợp
LUậN VăN THạC sỹ quản trị kinh
doanh
Ngời hớng dẫn khoa học:
pgs.ts. nguyễn ngọc
huyền
Hà Nội - 2010
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết lựa chọn đề tài nghiên cứu
Trong môi trường toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới hiện nay, phát triển
và khẳng định vị trí của mình trên thị trường là vấn đề xuyên suốt trong hoạt
động của mọi DN. Giải quyết vấn đề này phụ thuộc rất nhiều vào hiệu quả sản
xuất kinh doanh của DN. Vấn đề hiệu quả ở đây được hiểu là với một lượng

- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác tính chi phí tại Công ty cổ
phần Quản lý và Xây dựng giao thông I Sơn La, trên cơ sở đó có những nhận
xét và bước đầu đưa ra những giải pháp nhằm triển khai tính chi phí kinh
doanh tại Công ty
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tìm hiểu những vấn đề cơ bản cũng như quá
trình hình thành và phát triển công tác tính chi phí tại CTCP Quản lý và Xây
dựng giao thông I Sơn La
- Phạm vi nghiên cứu: các số liệu tính chi phí tại CTCP Quản lý và Xây
dựng giao thông I Sơn La từ năm 2005 đến 2009 và hình thành giải pháp cho
tương lai.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trên nền tảng duy vật biện chứng và duy vật lịch sử tác giả sử dụng các
phương pháp sau:
- Phương pháp gián tiếp: phương pháp tính chi phí kinh doanh theo
loại, phương pháp tính chi phí kinh doanh theo điểm và theo đối tượng
- Phương pháp trực tiếp: điều tra, phỏng vấn
2
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận. Nội dung luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Sự cần thiết phải tính chi phí kinh doanh trong lĩnh vực
xây dựng cơ bản tại Công ty cổ phần Quản lý và Xây
dựng giao thông I Sơn La
Chương 2. Áp dụng các nguyên lý tính chi phí kinh doanh tại Công
ty cổ phần Quản lý và Xây dựng giao thông I Sơn La
Chương 3: Giải pháp nhằm triển khai tính CPKD tại Công ty cổ
phần Quản lý và Xây dựng giao thông I Sơn La
3
CHƯƠNG 1
SỰ CẦN THIẾT PHẢI TÍNH CHI PHÍ KINH DOANH TRONG

- Đoạn bảo dưỡng sửa chữa đường bộ 4.
Năm 1998, thực hiện theo Nghị định số 56/NĐ-CP ngày 03/10/1996
của Chính phủ quy định về Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích, đơn
vị được chuyển đổi thành Công ty quản lý sửa chữa đường bộ I, là Doanh
nghiệp Nhà nước hoạt động công ích theo Quyết định số 1702/QĐ-UB ngày
13/09/1998 của UBND Tỉnh Sơn La.
Năm 2003 hai công ty lại được hợp nhất thành Công ty quản lý sửa
chữa đường bộ I Sơn La.
Năm 2005, thực hiện chủ chương chuyển đổi, sắp xếp lại doanh nghiệp
nhà nước, Công ty đã chuyển đổi thành Công ty cổ phần quản lý và xây dựng
giao thông I, Nhà nước nắm cổ phần chi phối trên 50%. Năm 2009, Công ty
đã mua lại hết số cổ phần mà Nhà nước nắm giữ.
1.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của Công ty
* Chức năng:
CTCP Quản lý và Xây dựng giao thông I Sơn La là công ty cổ phần,
theo quy định tại điều lệ Công ty, Công ty hoạt động kinh doanh trong lĩnh
vực xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng, công trình đường bộ, quản lý sửa
chữa công trình giao thông, vận tải hành khách đường thủy nội địa và vận tải
đường thủy nội địa. Với đặc điểm trên Công ty có những chức năng chủ yếu:
Quản lý và sửa chữa công trình giao thông đường bộ; Phục vụ vượt sông; Xây
dựng các công trình giao thông, thủy lợi, dân dụng; Sản xuất kinh doanh vật
liệu đá, sỏi, cát; San ủi mặt bằng; Cho thuê, sửa chữa máy thi công, phương
tiện vận tải; Đào tạo, cấp giấy phép lái xe mô tô hạng A1
5
* Nhiệm vụ:
Công ty hoạt động trên hai lĩnh vực chủ yếu đó là sản xuất sản phẩm
công ích và hoạt động kinh doanh. Trong mỗi lĩnh vực, Công ty có những
nhiệm vụ chủ yếu như sau:
- Sản xuất sản phẩm công ích:
+ Quản lý, sửa chữa 553 km đường bộ trên 13 tuyến đường Quốc lộ và

chức hành
chính
Phòng Tài
vụ - Vật tư
Phòng Kế
hoạch -
Kỹ thuật
Các đơn vị trực thuộc:
Hạt bảo dưỡng, Bến phà,
Đội xây lắp, Đội máy, Tổ
đào tạo lái xe mô tô A1
7
Bảng 1.1: Hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh
giai đoạn 2005 – 2009
ĐVT: Đồng
Năm Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Lợi nhuận
trước thuế
187.525.691 304.659.745 339.792.677 466.896.051 642.151.206
Vốn sản
xuất KD
bình quân
26.114.109.91
1
23.209.781.923 27.498.013.60
3
44.722.980.071 47.377.125.415
Hiệu quả
sử dụng
vốn KD

giá thực trạng công tác tính chi phí tài tại Công ty.
1.2. Phân tích tổ chức công tác hạch toán và tính giá thành của Công ty
1.2.1. Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán
Công ty tổ chức công tác kế toán theo hình thức tập trung, kế toán
trưởng điều hành trực tiếp các nhân viên kế toán. Hạch toán kế toán thực hiện
một cấp tập trung, hầu hết công việc ghi sổ kế toán được thực hiện tại phòng
kế toán, Công ty không tổ chức bộ phận kế toán riêng ở từng đơn vị trực
thuộc mà ở các đơn vị chỉ tập hợp chứng từ chi phí, cuối tháng thanh toán tại
Phòng Tài vụ - Vật tư Công ty.
Để thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ, đảm bảo phân công hợp lý lao động
kế toán, đồng thời căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý, bộ
máy kế toán của Công ty được phân công, phân nhiệm như mô tả ở sơ đồ 1.2.
9

Trích đoạn Hình thành các điểm chi phí tại Công ty Mục tiêu và nhiệm vụ chủ yếu Thống nhất nhận thức về tính chi phí kinh doanh và cam kết áp dụng Tổ chức lại công tác ghi chép ban đầu trong phạm vi toàn Công ty Tổ chức lại bộ phận kế toán thành hai bộ phận là kế toán tài chính và tính chi phí kinh doanh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status