MÔ HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY QUẢN LÝ TÀI SẢN CÁC TỔ
CHỨC TÍN DỤNG VIỆT NAM
1. Tóm tắt
Bài nghiên cứu này thảo luận về mô hình tổ chức hoạt động của công ty quản
lý tài sản (viết tắt VAMC) trong việc tái cấu trúc ngân hàng. Từ đó xác định những
điểm bất hợp lý đang tồn tại để phân tích nguyên nhân chính dẫn đến hoạt động
không hiệu quả của VAMC trong quá trình xử lý nợ. Cụ thể là mua nợ theo giá trị sổ
sách nhưng thực chất là tránh sự đổ vỡ của hệ thống ngân hàng thương mại, cơ chế
không tạo được động lực để xử lý nợ triệt để hay sau khi mua nợ thì việc bán nợ
không khả thi, Trên cơ sở này, bài nghiên cứu xây dựng một số nhóm giải pháp
hướng đến hoàn thiện hiệu quả hoạt động của VAMC.
2. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, tình hình hê thống ngân hàng đã bộc lộ những yếu
kém trong hoạt động đặc biệt tỷ lệ nợ xấu luôn ở mức cao. Vấn đề tìm kiếm một mô
hình xử lý nợ xấu cho Việt Nam đã được đặt ra từ năm 2011, khi bắt đầu có những
dấu hiệu cảnh báo về sự tăng nhanh tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng. Theo báo
cáo của Ngân hàng nhà nước, tính đến hết tháng 30/9/2012, tỷ lệ nợ xấu toàn hệ
thống chiếm đến 8.86% trong tổng số dư nợ vay, tương đương với con số hơn 255
nghìn tỷ đồng. Tuy nhiên theo đánh giá các tổ chức quốc tế thì con số thực tế cao hơn
nhiều so với công bố: theo Fitch Ratings tỷ lệ trên là 15%, Baclays là 20%. Mặc dù
chưa có số liệu chính xác về số nợ xấu nhưng nó đã thực sự trở thành “cục máu đông”
làm nghẽn mạch tăng trưởng nền kinh tế.
Những tháng đầu năm 2013, tình hình nợ xấu vẫn không được khả quan mặc
dù bản thân các ngân hàng đã có những biện pháp tự xử lý. Chính vì mức độ nghiêm
trọng của vấn đề này nên việc ra đời công ty Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng (viết
tắt VAMC) vào ngày 26/07/2013 được kỳ vọng sẽ phần nào tháo gỡ những khó khăn
hiện tại. Vậy VAMC đang hoạt động với cách thức nào? Và với cách thức như vậy,
liệu VAMC có đáp ứng được mục tiêu này không? Đây là vấn đề được đặt ra trong
bài nghiên cứu này.
Đề trả lời những câu hỏi đặt ra, bài viết bao gồm những phần sau: Phần thứ
nhất là tìm hiểu về VAMC; phần thứ hai là so sánh mô hình VAMC với mô hình các
VAMC hoạt động theo nguyên tắc lấy thu bù chi, không vì mục tiêu lợi nhuận;
công khai, minh bạch; hạn chế rủi ro và chi phí trong xử lý nợ xấu.
Mô hình hoạt động của VAMC
Trước khi chính thức thành lập và đi vào hoạt động, Chính phủ và Ngân hàng
Nhà nước đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý cho hoạt
động của VAMC. Đầu tiên, đó là Nghị định 53/2013/NĐ-CP quy định về việc
thành lập, tổ chức và hoạt động của VAMC. Tiếp đó lần lượt là các thông tư
19/2013/TT-NHNN quy định về việc mua bán, xử lý nợ xấu của VAMC và cuối
cùng là thông tư 20/2013/TT-NHNN quy định về việc tái cấp vốn của NHNN với các
TCTD trên cơ sở trái phiếu đặc biệt (viết tắt TPĐB) do VAMC phát hành.
Về cơ bản, các văn bản này chính là bộ khung cho cơ chế xử lý nợ xấu của
VAMC, có thể tóm tắt bằng sơ đồ sau:
Hình 1: Mô hình hoạt động VAMC
• Về hoạt động mua nợ: VAMC sẽ mua các khoản nợ xấu từ TCTD theo 2
phương thức:
- Mua theo giá trị sổ sách: Các khoản nợ xấu sẽ được mua theo giá trị sổ sách,
được hiểu là số dư nợ ghi sổ đang theo dõi sau khi đã trừ đi khoản trích lập dự
phòng cho khoản đó. Tố chức tín dụng sẽ được nhận TPĐB tương ứng và có thể
sử dụng trái phiếu này thực hiện nghiệp vụ tái cấp vốn tại Ngân hàng Nhà nước
(số tiền tái cấp vốn tối đa là 70% mệnh giá TPĐB). Trái phiếu này có thời hạn 5
năm. Sau khí trái phiếu đến hạn mà VAMC vẫn chưa xử lý được hết khoản nợ
thì sẽ trả về cho TCTD và hưởng tỷ lệ phần trăm (quy định hiện nay là 2% trên
số tiền thu hồi). TCTD nhận TPĐB sẽ phải trích lập dự phòng mỗi năm ít nhất
20% so với mệnh giá TPĐB.
- Mua theo giá trị thị trường: giá mua các khoản nợ này trên cơ sở thỏa thuận
được đánh giá theo giá trị thị trường, VAMC sẽ trả cho TCTD bằng tiền không
phải TPĐB. Điều kiện các khoản nợ mua theo giá thị trường được yêu cầu chặt
chẽ hơn: khoản nợ được VAMC đánh giá có khả năng thu hồi đầy đủ số tiền
mua nợ, tài sản đảm bảo (viết tắt TSĐB) có khả năng phát mãi…
• Về hoạt động xử lý các khoản nợ sau khi mua:
giới:
• Về vốn hoạt động: để có vốn đủ lớn để xử lý nợ xấu, các công ty xử lý nợ
thường được tài trợ vốn từ Chính phủ hoặc huy động vốn với hình thức phát hành
trái phiếu. Trái phiếu này được sự bão lãnh của Chính phủ, điều này tạo sự thuận
lợi cho việc huy động nguồn lực lớn để xử lý nợ xấu. Với VAMC, vốn điều lệ
hiện nay chỉ có 500 tỷ đồng, con số quá nhỏ so với quy mô nợ xấu tại Việt Nam.
Việc phát hành trái phiếu để huy động vốn chưa được thực hiện và khó có được
sự bảo lãnh từ chính phủ. Điều này cũng dễ hiểu bởi trong tình trạng thâm hụt
ngân sách hiện nay, Quốc hội sẽ không thông qua việc dùng ngân sách để xử lý
nợ xấu.
• Về hình thức mua nợ: hầu hết các mô hình trên thế giới đều mua đứt các
khoản nợ xấu và chủ động trong việc xử lý nợ. Tại Việt Nam có sự khác biệt là
VAMC còn có thể mua nợ và thanh toán bằng TPĐB, nếu không xử lý hết các
khoản nợ mua được thì VAMC có thể trả lại cho TCTD. Một trong các lý do có
thể giải thích do nguồn vốn để mua hẳn các khoản nợ quá hạn hẹp. Và đây được
xem là cách thức hoàn toàn mới trong mô hình xử lý nợ xấu tại các nước trên thế
giới.
5. Không hiệu quả từ mô hình hoạt động của VAMC
Mô hình xử lý nợ xấu của VAMC như trên chắc chắn đã được Chính phủ và Ngân
hàng Nhà nước cân nhắc rất nhiều trong bối cảnh kinh tế của Việt Nam hiện nay còn nhiều
vấn đề: (1) tỷ lệ nợ xấu đến hàng ngàn tỷ đồng, số liệu thống kê không minh bạch; (2) Ngân
sách tiếp tục thâm hụt, nguồn tài trợ cho xử lý nợ xấu hạn hẹp. Vì thế, mô hình VAMC như
trên có thể coi là sáng tạo, tạm thời giúp tình hình thanh khoản các ngân hàng tốt hơn và kéo
dài được thời gian xử lý các khoản nợ xấu. Tuy nhiên với mục tiêu thực sự xử lý nợ xấu, tạp
dòng vốn cho TCTD thì mô hình hoạt động hiện tại không thực sự hiệu quả với các lý do sau
như sau:
5.1VAMC mua nợ xấu theo giá trị ghi sổ, thanh toán bằng TPĐB
Đây được xem là lần đầu tiên Việt Nam thành lập một công ty xử lý nợ, tuy nhiên mô
hình này đã phát triển tại nhiều nước trên thế giới. Điểm nổi bật và khác biệt của mô hình
này chính là việc VAMC mua nợ xấu theo giá trị ghi sổ bằng TPĐB do VAMC phát hành.
Ở các nước trong khu vực như Maylasia, Thái Lan mức giá khoản nợ xấu được mua
lại thường theo một tỷ lệ trên giá trị TSĐB sau khi được định giá bởi tổ chức độc lập và có
uy tín. Để giải quyết vấn đề không thỏa thuận được giá cả, công ty xử lý nợ và TCTD có sự
chia sẽ lợi nhuận từ việc thu hồi nợ xấu. Nghĩa là trong trường hợp khoản nợ thu hồi có lợi
nhuận, TCTD cũng sẽ hưởng được tỷ lệ phần trăm trên lợi nhuận đó.
Thứ ba, việc huy động vốn của VAMC để mua các khoản nợ theo giá thị trường
Theo luật định, tiền mà VAMC mua nợ xấu theo giá thị trường phải do tiền tự có của
VAMC ngoài vốn điều lệ. Do đó, VAMC buộc phải phát hành trái phiếu. Đối với các nước
như Thái Lan hay Malaysia, nguồn vốn này được tài trợ bởi chính phủ hoặc trái phiếu được
bão lãnh bởi chính phủ. Nhưng Việt Nam thì từ quan điểm của Chính phủ sẽ không sử dụng
ngân sách vào xử lý nợ xấu, với việc trái phiếu không có bảo lãnh thì ai sẽ mua? Và nếu mua
thì mức lãi suất phải cao, nhưng liệu VAMC có xử lý được nợ hay ko để trả tiền lãi và gốc
này hay không.
Theo số liệu báo cáo, đến đầu tháng 5/2014, VAMC đã mua về 45 nghìn tỷ đồng hoàn
toàn dưới hình thức thanh toán bằng TPĐB
5.3Không có động lực xử lý nợ triệt để
Thứ nhất, mục tiêu hoạt động của VAMC là xử lý nợ nhưng thực chất là gia hạn nợ,
tăng tính thanh khoản cho TCTD. Đối với phương thức mua nợ bằng giá trị sổ sách, trong
vòng 5 năm nếu VAMC không xử lý được các khoản nợ xấu thì sẽ trả lại cho TCTD. Ngược
lại, nếu xử lý được toàn bộ hay một phần thì VAMC sẽ hưởng phí hoa hồng. Những điều
này khiến VAMC không chịu áp lực để xử lý nợ
Thứ hai, dù bán nợ cho VAMC nhưng hàng năm các TCTD vẫn phải trích lập dự
phòng rủi ro đối với TPĐB theo tỷ lệ 20% mệnh giá. Vậy sau 5 năm nếu VAMC không xử
lý được nợ thì các TCTD cũng đã trích lập đủ 100% trị giá TPĐB. Như vậy vô hình chung,
VAMC chỉ tạm giữ khoản nợ xấu trong thời hạn 5 năm cho các TCTD. Như vậy cơ chế đã
tạo cho VAMC tâm lý ỷ lại không lo giải quyết nợ xấu.
Thứ ba, VAMC có thể ủy quyền cho TCTD đã bán nợ xấu cho mình theo dõi, thúc đẩy
khách hàng trả nợ. Có thể nói khi thực hiện ủy quyền vai trò của VAMC trong mô hình
dường như quá thừa và việc thành lập VAMC là vô nghĩa.
Theo số liệu báo cáo đầu tháng 5/2014, trong số 45 nghìn tỷ đồng mua nợ, VAMC thu
Mua theo giá thị trường một mặt làm tăng trách nhiệm và động lực xử lý nợ; mặt khác muốn
xử lý nợ triệt để phải dùng tiền thật chứ không thể theo cách hạch toán như VAMC đang làm
hiện tại. Chính vì không dùng tiền thật để xử lý nợ xấu nên các ngân hàng không dám cho
doanh nghiệp đang gặp khó khăn vay tiền. Doanh nghiệp không thể tiếp cận được nguồn
vốn, phải giải thể khiến nợ xấu tăng lên, nó giống như một vòng xoáy liên tục và khó có thể
thoát ra.
• Trao quyền năng đặc biệt cho VAMC để VAMC chủ động trong việc xử lý nợ xấu
- Ở các quốc gia trên thế giới, khi khủng hoảng xảy ra, nợ xấu ảnh hưởng đến an toàn
hệ thống thì việc xử lý khủng hoảng nhận được sự đồng thuận rất cao. Ví dụ như ở
Malaysia, trong vòng 3 tháng, Quốc hội nước này đã thông qua đạo luật riêng cho công ty
xử lý nợ xấu AMC Danaharta. Đạo luật này cho phép AMC có nhiều quyền năng, thậm chí
họ có thể thay mặt tòa án xử lý các vấn đề liên quan đến tài sản. Do đó, dù mới manh nha
hoạt động từ năm 1998 nhưng đến 2005, Công ty này đã cơ bản hoàn thành nhiệm vụ giải
quyết sạch nợ xấu.
- Tại Việt Nam, quyền năng của VAMC thấp hơn khi chỉ mới đang dừng ở Nghị định.
Theo đó, Nghị định 53 tạo điều kiện giúp VAMC phát huy điểm mạnh trong quá trình hoạt
động. Thế nhưng xét cho cùng VAMC chỉ là công cụ đặc biệt của NHNN để góp phần xử lý
các khoản nợ xấu chứ không phải là “công cụ vạn năng”. Trong môi trường pháp lý của Việt
Nam còn nhiều bất cập hiện nay, VAMC cần được giao quyền lực đủ mạnh hơn nữa để có
thể chủ động linh hoạt trong việc xử lý nợ xấu. Đơn cử như với các khoản nợ xấu có TSĐB
VAMC nên bán nợ mà không cần thông báo cho bên vay. Hay trong quá tình tái cơ cấu
doanh nghiệp, VAMC có quyền xem xét, bổ nhiệm lãnh đạo để giúp doanh nghiệp phục hồi
khả năng kinh doanh…Bên cạnh đó để quyền năng phát huy tối đa, VAMC cần củng cố lòng
tin từ các TCTD, doanh nghiệp và dân cư bởi quá trình xử lý nợ xấu sẽ hiệu quả hơn khi
nhận được sự đồng thuận lớn từ xã hội.
• Cải thiện thị trường bất động sản
- Theo thống kê từ NHNN, nợ xấu tập trung cao vào thị trường bất động sản, đồng thời
thị trường bất động sản đóng băng gây trở ngại trong việc xử lý TSĐB.
- Do đó, mục tiêu đi cùng với xử lý nợ xấu phải là khôi phục, cải thiện thị trường bất
động sản. Nhà nước nên có những chính sách đặc biệt như giảm thuế GTGT trong các ngành
2. Huỳnh Thế Du, 2004, “Xử lý nợ xấu ở Việt Nam nhìn từ mô hình Trung Quốc và
một số nền kinh tế khác”,
< h ttp://www.vnep.org.vn/Upload/SO%201%20chuyen%20de%20no%20xau.pdf>
3. Lê Phúc Yên, 2013, “Không có động cơ xử lý nợ ở mô hình VAMC”,
< www.fetp.edu.vn/attachment.aspx?ID=19689 >
4. Các nguồn khác từ internet:
[Ngày truy cập: 01/05/2014]
/>VA-KHUYEN-NGHO-CHO-VIET-NAM/56/event.tctc [Ngày truy cập:
01/05/2014]
/>no-xau-mot-cach-triet-de-va-co-hieu-qua sav [Ngày truy cập: 30/05/2014]
[Ngày truy
cập: 30/05/2014]