HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY QUẢN LÝ NỢ VÀ KHAI THÁC TÀI
SẢN - NHỮNG VẤN ĐỀ MANG TÍNH LÝ LUẬN.
1. Tổng quan về công ty quản lý nợ và khai thác tài sản.
Ngày nay chúng ta được nghe nhắc rất nhiều tới “nền kinh tế tri thức”, nơi mà sự
tăng trưởng, ổn định của nhiều lĩnh vực với hàm lượng chất xám cao, nhân viên có tay
nghề được coi là nhân tố trọng tâm của sự phát triển. Một trong những khu vực trọng
tâm đó chính là khu vực Tài chính - Ngân hàng. Trên thực tế, hệ thống Tài chính –
Ngân hàng cũng đang ngày càng khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng và tầm ảnh
hưởng vô cùng rộng lớn của mình tới sự phát triển của nền kinh tế từng quốc gia nói
riêng cũng như sự phát triển chung của cả khu vực và toàn thế giới. Sự lành mạnh, ổn
định của hệ thống ngân hàng là tiền đề cho sự hưng thịnh của nền kinh tế. Ngược lại,
“sức khỏe” của nền kinh tế cũng sẽ phản ánh và ảnh hưởng sâu sắc tới tình trạng hoạt
động của các ngân hàng. Qua nhiều cuộc khủng hoảng, mà gần đây nhất là cuộc
khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu á năm 1997, nhận định này càng được khẳng định.
Một trong những nhân tố dẫn tới khủng hoảng 1997 chính là “nguy cơ dễ bị tổn
thương” (Suy ngẫm lại sự thần kỳ Đông á) của khu vực Tài chính – Ngân hàng, là các
bất cập, thiếu hợp lý trong đường lối phát triển, huy động và cho vay của hệ thống các
ngân hàng. Và khi khủng hoảng nổ ra, ngành ngân hàng, đến lượt mình, lại cũng là
“nạn nhân” chịu những cú sốc nặng nề nhất. Các nước đã phải thực hiện một loạt các
biện pháp nhằm cơ cấu lại, tăng cường sức mạnh cho hệ thống ngân hàng, trong đó có
việc thành lập công ty khai thác nợ và quản lý tài sản (Asset Management Company –
AMC) để xử lý số nợ tồn đọng khó đòi khổng lồ, “làm sạch” bảng cân đối tài sản của
các ngân hàng. Một bài học rút ra là không nên chỉ coi công ty khai thác nợ và quản lý
tài sản như một hình thức “xử lý hậu quả”, để sự việc đã xảy ra rồi mới nghĩ tới
chuyện thành lập công ty mà nên sử dụng công ty quản lý nợ và khai thác tài sản như
một biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng xấu đi của hệ thống ngân hàng, tăng
cường sự lành mạnh, và do đó, sức cạnh tranh của ngân hàng trong điều kiện hội nhập
phát triển ngày càng cao như hiện nay.
2. Khái niệm về công ty quản lý nợ và khai thác tài sản.
Loại hình công ty quản lý nợ và khai thác tài sản được sử dụng ở nhiều nước. Tại
mỗi nước, tuỳ theo điều kiện kinh tế và chính sách phát triển từng nước mà công ty
Vì nợ được mua bán là những khoản nợ tồn đọng khó đòi, với rất nhiều khó khăn
và vướng mắc trong việc thu hồi nợ từ khách nợ hay từ việc xử lý tài sản đảm bảo,
nên khả năng thu hồi toàn bộ giá trị món vay gần như là không thể. Để có thể tối đa
hóa được giá trị thu hồi của khoản vay và các nguồn lực từ khoản vay, công ty quản lý
nợ và khai thác tài sản phải rất linh hoạt và chủ động trong việc xử lý số nợ khê đọng
đã mua. Một số biện pháp công ty quản lý nợ và khai thác tài sản thường sử dụng là:
dùng tài sản thế chấp để góp vốn liên doanh liên kết hay cho thuê, sửa chữa, đầu tư để
tăng giá trị tài sản trước khi đem bán, chuyển nợ thành vốn cổ phần...
Quyền lực hoạt động: Để giải quyết các khoản nợ tồn đọng, công ty quản lý nợ
và khai thác tài sản cần có một quyền lực đặc biệt. Quyền lực này được quy định và
bảo vệ bởi những nghị định, quy định, quyết định do các cơ quan chức năng ban hành,
thậm chí là cả một đạo luật riêng do Quốc hội ban hành. Việc xử lý nợ khê đọng, tài
sản đảm bảo tiền vay có liên quan tới rất nhiều các nhánh luật khác nhau như luật phá
sản, luật doanh nghiệp, luật đất đai, pháp lệnh về hợp đồng kinh tế... và nhiều khi sự
mâu thuẫn giữa các luật này trong hoạt động nghiệp vụ của công ty là điếu khó tránh
khỏi. Đồng thời, quá trình xử lý tài sản đảm bảo cũng luôn làm phát sinh những mâu
thuẫn về lợi ích giữa các bên: chủ nợ, khách nợ, chính quyền địa phương... và các bên
liên quan khác. Vì vậy, xét riêng trên khía cạnh giải quyết cho hết tất cả những mâu
thuẫn, tranh chấp về mặt pháp lý, nếu không có được những quyền hạn và kỹ năng
đặc biệt, việc giải quyết các khoản nợ khê đọng khó đòi của công ty quản lý nợ và
khai thác tài sản sẽ rất mất thời gian, thậm chí trong nhiều trường hợp, có nhiều món
nợ vì lý do này mà không thể được xử lý.
1.1. Lịch sử hình thành - Sự cần thiết thành lập công ty quản lý nợ và khai
thác tài sản.
1.1.1. Lịch sử hình thành.
Nền kinh tế thế giới đã chứng kiến nhiều những bước thăng trầm, những đợt
khủng hoảng nặng nề của hệ thống tài chính – ngân hàng. Hậu quả của những cuộc
khủng hoảng này là sự suy yếu, xáo động của không chỉ bộ máy ngân hàng mà còn
của cả nền kinh tế. Những khoản nợ khó đòi khổng lồ là một trong những nguyên
nhân khiến cho hệ thống ngân hàng rơi vào khó khăn, đồng thời nó cũng lại là một trở
học quý giá từ cuộc khủng hoảng là phải xây dựng cho được một hệ thống tài chính –
ngân hàng thật sự lành mạnh, vững chắc. Hơn nữa, trong quá trình hội nhập kinh tế,
hệ thống ngân hàng đứng trước sự canh tranh ngày càng cao, đòi hỏi củng cố, tăng
cường sức mạnh cho các ngân hàng càng trở nên cấp thiết. Trước tình hình đó, ngày
15/9/2000 Ngân hàng Nhà nước đã ban hành quyết định số 305/2000/QĐ-NHNN5 về
việc thành lập Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản thế chấp của ngân hàng thương
mại. Năm 2001, quyết định 1389/2001/QĐ-NHNN do phó thống đốc Ngân hàng Nhà
nước Trần Minh Tuấn ký ngày 07/11/2001, ban hành quy định về việc thành lập Công
ty quản lý nợ và khai thác tài sản trực thuộc ngân hàng thương mại ra đời thay thế cho
quyết định 305/2000 ở trên. Hiện nay, nhiều công ty quản lý nợ và khai thác tài sản
của các ngân hàng thương mại quốc doanh và cả ngân hàng thương mại cổ phần đã
được thành lập như công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của Ngân hàng Đầu tư và
phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sài Gòn thương tín...
1.1.2. Sự cần thiết thành lập công ty quản lý nợ và khai thác tài sản.
Trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh luôn diễn ra vô cùng khốc liệt,
muốn tồn tại các doanh nghiệp buộc phải làm ăn có hiệu quả thì mới có thể trụ
vững. Mà để tiến hành hoạt động kinh doanh có hiệu quả, bất cứ doanh nghiệp nào
cũng cần có một lượng vốn nhất định. Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất kinh
doanh, không phải lúc nào doanh nghiệp cũng có đủ nguồn vốn cần thiết để tiến
hành hoạt động, sẽ có lúc doanh nghiệp rơi vào tình trạng thiếu vốn, nhưng cũng có
lúc sẽ dư thừa vốn. Do vậy, việc phát sinh các khoản công nợ giữa các doanh
nghiệp với nhau, giữa doanh nghiệp với nhà nước, doanh nghiệp với ngân hàng
trong quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các nguồn vốn là một điều tất yếu.
Như vậy, có thể nói các khoản nợ cũng chính là một phần nguồn vốn của
doanh nghiệp. Khi các khoản nợ này thành nợ tồn đọng khó đòi với số lượng ngày
càng lớn thì có nghĩa nguồn vốn đang bị chiếm dụng, đang bị sử dụng một cách
không hiệu quả của doanh nghiệp ngày càng nhiều. Đối với một doanh nghiệp, đây
là điều vô cùng nguy hiểm, nó báo hiệu sự suy yếu của doanh nghiệp đó. Suy rộng
ra, đối với một nền kinh tế, các khoản nợ tồn đọng khó đòi thể hiện sự lãng phí
nguồn lực, ngăn trở sự phát triển, thậm chí có thể gây nên những tác động hết sực
quốc gia đó trong bối cảnh các nước trên thế giới đang tiến nhanh tới toàn cầu hoá,
hội nhập kinh tế.
• Nợ tồn đọng khó đòi ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng, thể hiện:
- Thứ nhất, nợ tồn đọng là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc các
ngân hàng mất khả năng thanh toán, có nguy cơ rủi ro gây đổ vỡ ngân hàng. Hoạt
động của ngân hàng thực chất là việc sử dụng nguồn vốn tiền gửi của dân cư và
nguồn đi vay để tiến hành cho vay, đầu tư trở lại cho các hoạt động sản xuất kinh
doanh. Khoản thu được từ những món đầu tư đó chính là nguồn ngân hàng thanh
toán cho các khản tiền tiết kiệm và các khoản ngân hàng đã đi vay, đảm bảo sự tồn
tại và phát triển của ngân hàng. Khi việc cho vay, đầu tư của ngân hàng là không
hiệu quả, các khoản nợ tồn đọng khó đòi ngày càng nhiều, khả năng thanh toán của
ngân hàng sẽ bị yếu đi, và đến một lúc nào đó, ngân hàng không còn khả năng đáp
ứng được những đợt rút tiền ồ ạt của dân chúng, ngân hàng sẽ bị phá sản.
Trong điều kiện mỗi ngân hàng đều có quan hệ giao dịch, trao đổi với những
ngân hàng khác, mỗi ngân hàng đều giữ một vai trò nhất định trong cả bộ máy thì
chỉ cần một ngân hàng bị phá sản sẽ gây ảnh hưởng đến toàn hệ thống, thậm chí
trầm trọng hơn, có thể gây ra khủng hoảng tài chính – tiền tệ và gây ảnh hưởng
trực tiếp, nghiêm trọng đến đời sống kinh tế – xã hội của một quốc gia, làm suy
giảm uy tín và vị thế của quốc gia đó trên trường quốc tế. Vì vậy, nhìn chung, tuỳ
theo đặc điểm, tình hình từng nước mà có nước thành lập một tổ chức xử lý nợ tồn
đọng cho cả hệ thống, có nước chỉ thành lập riêng cho những ngân hàng mà sự sụp
đổ của nó có thể có tác động dây chuyền đến cả hệ thống.
- Thứ hai, việc mua bán nợ tồn đọng ngân hàng không chỉ giúp lành mạnh hoá, đảm
bảo khả năng thanh toán cho ngân hàng mà còn giúp các tổ chức tín dụng:
+) Đa dạng hoá các nghiệp vụ hoạt động: Bên cạnh những nghiệp vụ mà ngân
hàng vẫn thực hiện từ trước đến nay như huy động, cho vay, thanh toán,... thì nh
còn được thực hiện việc bán những khoản nợ cho các công ty, tổ chức khác trong
và ngoài ngành ngân hàng.
+) Khắc phục khó khăn về tài chính trong kinh doanh: Việc bán các khoản nợ tồn
đọng sẽ giải phóng một phần nguồn vốn đang bị ứ đọng tại những dự án đầu tư
Như vậy, nợ tồn đọng là một vấn đề nhức nhối mà nhiều quốc gia cần phải
tập trung giải quyết triệt để. Các quốc gia đã áp dụng nhiều biện pháp truyền thống
để xử lý như: xử lý nội bộ, khoanh nợ chờ xử lý, xoá nợ, mua bán nợ giữa các nh...
nhưng hiệu quả không cao, không xử lý được dứt điểm và vì thế họ phải áp dụng
một phương thức đặc biệt là thành lập các công ty quản lý tài sản để xử lý nợ tồn
đọng của mình. Việc thành lập các công ty quản lý nợ và khai thác tài sản để giải
quyết vấn đề nợ đọng khó đòi là hiệu quả và tiết kiệm chi phí hơn so với những
phương thức thông thường khác do:
Thứ nhất, các ngân hàng không có đủ nguồn lực và kỹ năng cần thiết để xử
lý các khoản nợ trong khi đó công ty quản lý nợ và khai thác tài sản được chuyên
môn hoá để thực hiện công việc này. Xử lý nợ đọng đòi hỏi phải có một lượng vốn
không nhỏ. Hơn nữa, công việc này hết sức phức tạp, nó liên quan tới nhiều hoạt
động, nhiều ngành, cần có sự linh hoạt và những kỹ năng đặc biệt nhất định. Nếu
ngân hàng tập trung đáp ứng những yêu cầu đó để giải quyết nợ tồn đọng của mình
thì chi phí xử lý cũng như những khoản chi phí cơ hội của ngân hàng sẽ rất lớn.
Nhưng với công ty quản lý nợ và khai thác tài sản được chuyên môn hoá thì hoạt
động này sẽ trở nên dễ dàng và tiết kiệm hơn.
Thứ hai, các ngân hàng bị hạn chế và thiếu quyền lực đặc biệt để xử lý nợ
trong khi công ty quản lý nợ và khai thác tài sản có thể thúc đẩy các thay đổi pháp
lý cần thiết. Như đã phân tích, hoạt động xử lý nợ liên quan tời nhiều nhánh luật
khác nhau, để tạo hành lang pháp lý đảm bảo cho sự thuận lợi và trôi chảy của công
việc thì đơn vị xử lý nợ phải được pháp luật trao cho những quyền lực đặc biệt. Do
vậy, nếu ngân hàng tự mình đứng ra xử lý mà không chuyển giao cho công ty quản
lý nợ và khai thác tài sản thì sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn về mặt pháp lý.
Thứ ba, các ngân hàng chỉ được áp dụng biện pháp duy nhất để thu hồi nợ là
bán đấu giá các tài sản thế chấp trong khi công ty quản lý nợ và khai thác tài sản có
thể tối đa hoá khả năng thu hồi nợ thông qua nhiều biện pháp. Các khoản nợ tồn
đọng khó đòi nếu chỉ được xử lý bằng một cách là bán tài sản thì chắc chắn sẽ
không tối đa hoá được giá trị thu hồi vì trong nhhiều trường hợp, đó không phải là
giải pháp tối ưu, chưa kể đến những khoản vay không có tài sản cầm cố, thế chấp
Thứ hai, qua đó Chính phủ có thể có sự kiểm soát trung ương hoá đối với
chương trình tái cơ cấu chuyển nhượng dài hạn đối với các khoản vay không hoạt
động.
Thứ ba, Chính phủ có đủ năng lực để trao các đặc quyền cho các công ty
quản lý nợ và khai thác tài sản của mình để hỗ trợ cho việc chuyển giao các tài sản
hiệu quả cũng như cung cấp các cơ chế bên ngoài tư pháp để tạo các thuận lợi cho
việc giải quyết tranh tụng giữa các bên đi vay và bên cho vay, tạo cơ hội cho các
cuộc bán tài sản với giá trị tối đa thông qua việc thiết lập các cơ chế nhằm đảm bảo
quyền sở hữu vừa “sạch” vừa “sáng” đối với các tài sản và một cơ chế nhượng bán
minh bạch.
Tóm lại, với những đặc trưng trên có thể nói công ty quản lý tài sản là một
định chế đặc biệt có một không hai trong lịch sử.
1.3. Vai trò của công ty quản lý nợ và khai thác tài sản.
1.3.1. Vai trò của công ty quản lý nợ và khai thác tài sản đối với ngân hàng.
Như trên đã trình bày, việc thành lập công ty quản lý tài sản là một tất yếu
khách quan đối với các nước kinh tế thị trường có tỷ lệ nợ quá hạn trên 5% hoặc
gặp các vấn đề nghiêm trọng về nợ tồn đọng. Công ty quản lý tài sản còn đóng một
vai trò quan trọng không thể thiếu được trong các chương trình quốc gia về cơ cấu
lại hệ thống ngân hàng, lành mạnh hoá hệ thống tài chính và là một phần trong
chương trình khôi phục hệ thống kinh tế.
Công ty được thành lập với các hoạt động chính là: mua lại nợ khó đòi tồn
đọng của các tổ chức tín dụng trên cơ sở giá thị trường; quản lý và xử lý các khoản
nợ này bằng các biện pháp và kỹ năng đặc biệt; quản lý và xử lý các tài sản thế
chấp, cầm cố gắn liền với các khoản nợ đã mua; tập trung vào việc bán tối đa hoá
giá trị ròng cao nhất trong một khoảng thời gian hợp lý, nhằm giảm thiểu tổn thất
cho quốc gia.
Với các nhiệm vụ trên, công ty quản lý nợ và khai thác tài sản đóng một vai
trò quan trọng trong việc cơ cấu lại ngân hàng. Cụ thể, công ty quản lý nợ và khai
thác tài sản đóng vai trò chủ động, tích cực trong việc thúc đẩy phát triển khu vực
ngân hàng thông qua xử lý các khoản nợ xấu, làm lành mạnh tình hình tài chính của
thành lập công ty quản lý nợ và khai thác tài sản để xử lý các khoản nợ khó đòi
khổng lồ.) Nền kinh tế tăng trưởng bền vững, ổn định chính là một trong những yếu