Lời nói đầu
Trong thời đại hiện nay, với các sản phẩm, dịch vụ ngày càng đa
dạng và không ngừng đợc hoàn thiện, ngân hàng đang giữ một vai trò
hết sức quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên, do
tính chất phức tạp và tiềm ẩn rủi ro cao của cac hoạt động nghiệp vụ,
ngân hàng là một tổ chức dễ bị tổn thơng, chấn động, gây nguy cơ đổ
vỡ hàng hoạt cho hệ thống, ảnh hởng đến nền kinh tế, thậm chí có thể
gây nên những cuộc khủng hoảng trầm trọng, (cuộc khủng hoảng tài
chính tiền tệ Châu á 1997 là một ví dụ điển hình). Một trong những
nguyên nhân quan trọng của sự suy yếu của ngân hàng chính là tình
trạng nợ xấu tồn đọng quá cao, lại trong một thời gian dài, mà không
đợc xử lý, khiến tình hình tài chính của ngân hàng rơi vào khó khăn,
nhiều ngân hàng mất khả năng thanh toán và đi đến chỗ phá sản. Vì
vậy, vấn đề nợ đọng đang đợc nhiều quốc gia quan tâm, đặc biệt là
những nớc có tỷ lệ nợ đọng quá cao so với mức giới hạn an toàn, và
những nớc nằm trong vùng ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tài chính
Châu á vừa diễn ra. Trong số các biện pháp xử lý nợ đọng, thành lập
công ty quản lý nợ và khai thác tài sản đợc coi là cách hiệu quả nhất,
tiết kiệm chi phí nhất, thời gian xử lý lại ngắn nhất
ở nớc ta, trớc yêu cầu cơ cấu lại ngân hàng, lành mạnh hoá tình
hình tài chính nhằm củng cố và tăng cờng sức mạnh cho hệ thống
ngân hàng, công tác xử lý nợ tồ đọng của các ngân hàng thơng mại
đang đợc gấp rút triển khai.Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản
cũng đang là một trong những lựa chọn của Chính phủ để giải quyết
vấn đề này. Để có thể phát huy đợc tối đa các u điểm của phơng thức
này, công tác nghiên cứu, xem xét, đánh gía kỹ lỡng về mô hình tổ
chức cũng nh những hoạt động nghiệp vụ của công ty, từ đó xây dựng,
đa ra một mô hình phù hợp và có thể phát huy hiệu quả hoạt động cao
nhất trong điều kiện nớc ta hiện nay là điều vô cùng cấp thiết, cần làm
ngay.
Chơng I:
Hoạt động của công ty quản lý nợ và khai thác tài sản -
Những vấn đề mang tính lý luận.
1. Tổng quan về công ty quản lý nợ và khai thác tài sản.
Ngày nay chúng ta đợc nghe nhắc rất nhiều tới nền kinh tế tri
thức, nơi mà sự tăng trởng, ổn định của nhiều lĩnh vực với hàm lợng
chất xám cao, nhân viên có tay nghề đợc coi là nhân tố trọng tâm của
sự phát triển. Một trong những khu vực trọng tâm đó chính là khu vực
Tài chính - Ngân hàng. Trên thực tế, hệ thống Tài chính Ngân hàng
cũng đang ngày càng khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng và tầm
ảnh hởng vô cùng rộng lớn của mình tới sự phát triển của nền kinh tế
từng quốc gia nói riêng cũng nh sự phát triển chung của cả khu vực và
toàn thế giới. Sự lành mạnh, ổn định của hệ thống ngân hàng là tiền
đề cho sự hng thịnh của nền kinh tế. Ngợc lại, sức khỏe của nền kinh
tế cũng sẽ phản ánh và ảnh hởng sâu sắc tới tình trạng hoạt động của
các ngân hàng. Qua nhiều cuộc khủng hoảng, mà gần đây nhất là cuộc
khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu á năm 1997, nhận định này càng
đợc khẳng định. Một trong những nhân tố dẫn tới khủng hoảng 1997
chính là nguy cơ dễ bị tổn thơng (Suy ngẫm lại sự thần kỳ Đông á)
của khu vực Tài chính Ngân hàng, là các bất cập, thiếu hợp lý trong
đờng lối phát triển, huy động và cho vay của hệ thống các ngân hàng.
Và khi khủng hoảng nổ ra, ngành ngân hàng, đến lợt mình, lại cũng là
nạn nhân chịu những cú sốc nặng nề nhất. Các nớc đ phải thực hiệnã
một loạt các biện pháp nhằm cơ cấu lại, tăng cờng sức mạnh cho hệ
thống ngân hàng, trong đó có việc thành lập công ty khai thác nợ và
quản lý tài sản (Asset Management Company AMC) để xử lý số nợ
tồn đọng khó đòi khổng lồ, làm sạch bảng cân đối tài sản của các
ngân hàng. Một bài học rút ra là không nên chỉ coi công ty khai thác
nợ và quản lý tài sản nh một hình thức xử lý hậu quả, để sự việc đã
thiểu chi phí cho quá trình cải tổ hệ thống ngân hàng và các doanh
nghiệp. Khác với các loại hình công ty khác, ở hầu hết các nớc, công ty
quản lý nợ và khai thác tài sản không hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận.
Hơn nữa, đối tợng mua bán của công ty quản lý nợ và khai thác tài sản
là các khoản nợ khó đòi tồn đọng với ít tài sản đảm bảo có giá trị, thậm
chí có giá trị bằng 0 hoặc tài sản không đủ giấy tờ, không còn đối tợng
để thu nợ... nên hầu nh công ty cũng không thể tạo ra lợi nhuận đợc.
4
Chức năng: Nh khái niệm đ trình bày rõ, hai chức năng cơ bảnã
nhất của công ty quản lý nợ và khai thác tài sản là mua lại nợ tồn
đọng khó đòi và tối đa hoá khả năng thu hồi các khoản nợ đó.
Việc mua lại nợ khó đòi từ hệ thống ngân hàng đợc thực hiện theo
những phơng thức và các mức giá cả khác nhau, tuỳ thuộc vào tình
trạng của khoản nợ cũng nh sự thoả thuận giữa 2 bên, bên bán và bên
mua. Thờng, ngân hàng sẽ có nhu cầu bán lại nợ khê đọng cho quản lý
nợ và khai thác tài sản khi tỷ lệ nợ quá hạn của hệ thống đ vã ợt quá
5% (mức tối đa cho phép theo thông lệ quốc tế).
Vì nợ đợc mua bán là những khoản nợ tồn đọng khó đòi, với rất
nhiều khó khăn và vớng mắc trong việc thu hồi nợ từ khách nợ hay từ
việc xử lý tài sản đảm bảo, nên khả năng thu hồi toàn bộ giá trị món
vay gần nh là không thể. Để có thể tối đa hóa đợc giá trị thu hồi của
khoản vay và các nguồn lực từ khoản vay, công ty quản lý nợ và khai
thác tài sản phải rất linh hoạt và chủ động trong việc xử lý số nợ khê
đọng đ mua. Một số biện pháp công ty quản lý nợ và khai thác tài sảnã
thờng sử dụng là: dùng tài sản thế chấp để góp vốn liên doanh liên kết
hay cho thuê, sửa chữa, đầu t để tăng giá trị tài sản trớc khi đem bán,
chuyển nợ thành vốn cổ phần...
Quyền lực hoạt động: Để giải quyết các khoản nợ tồn đọng, công
ty quản lý nợ và khai thác tài sản cần có một quyền lực đặc biệt.
Mặt khác, làm nh vậy sẽ không thúc đẩy đợc quá trình cải cách nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động cho hệ thống ngân hàng. Có một phơng
pháp khác, đáp ứng đợc cả hai mục tiêu tiết kiệm chi phí và thúc đẩy
quá trình cải cách hệ thống ngân hàng, đó là mô hình công ty quản lý
nợ và khai thác tài sản.
Mô hình công ty quản lý nợ và khai thác tài sản đợc đa ra áp
dụng lần đầu tiên tại Mỹ vào năm 1989. Trong những năm 80, một
cuộc khủng hoảng các quỹ tiết kiệm và cho vay (S&L) với quy mô lớn
đ diễn ra ở Mỹ. Do một số quỹ tiết kiệm quá lớn để có thể đóng cửaã
một cách đơn giản mà không gây ra những tác động nhất định tới xã
hội nên Chính phủ Mỹ đ phải đã a ra giải pháp thành lập Công ty uỷ
thác xử lý tài sản (Resolution Trust Company) (hay Công ty tín thác
xử lý các đổ vỡ ngân hàng), một loại hình công ty quản lý nợ và khai
thác tài sản. Công ty này với t cách là một cơ quan Trung ơng đứng ra
mua lại các khoản nợ khó đòi của các quỹ tiết kiệm và sau đó tìm cách
6
làm tối đa hoá khả năng thu hồi của các khoản nợ thông qua việc bán
trên thị trờng.
Sau Mỹ, vào những năm 1992-1995, một loạt các công ty quản lý
nợ và khai thác tài sản cũng đợc thành lập ở các nớc Châu Âu nh Thuỵ
Điển, Na Uy, Phần Lan khi những nớc này rơi vào khủng hoảng ngân
hàng với khối lợng lớn nợ tồn đọng trong nền kinh tế.
Tại Đông Nam á, để giải quyết hậu quả của cuộc khủng hoảng
tài chính tiền tệ và phục hồi kinh tế sau khủng hoảng, công ty quản lý
nợ và khai thác tài sản cũng đợc thành lập ở các nớc nh Indonesia,
Malaysia, Thái Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc. Đến nay, trên toàn thế
giới đ có khoảng trên 20 công ty quản lý nợ và khai thác tài sản đã ợc
thành lập.
ở Việt Nam, mặc dù những ảnh hởng của cuộc khủng hoảng
nghiệp với nhau, giữa doanh nghiệp với nhà nớc, doanh nghiệp với
ngân hàng trong quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các
nguồn vốn là một điều tất yếu.
Nh vậy, có thể nói các khoản nợ cũng chính là một phần nguồn
vốn của doanh nghiệp. Khi các khoản nợ này thành nợ tồn đọng khó
đòi với số lợng ngày càng lớn thì có nghĩa nguồn vốn đang bị chiếm
dụng, đang bị sử dụng một cách không hiệu quả của doanh nghiệp
ngày càng nhiều. Đối với một doanh nghiệp, đây là điều vô cùng nguy
hiểm, nó báo hiệu sự suy yếu của doanh nghiệp đó. Suy rộng ra, đối với
một nền kinh tế, các khoản nợ tồn đọng khó đòi thể hiện sự l ng phíã
nguồn lực, ngăn trở sự phát triển, thậm chí có thể gây nên những tác
động hết sực tiêu cực tới nền kinh tế. Tựu chung lại, nợ tồn đọng cần
phải đợc xử lý vì:
Nợ tồn đọng có tác động xấu tới nền kinh tế, thể hiện:
- Thứ nhất, vốn tồn đọng trong nền kinh tế làm ảnh hởng trực tiếp
đến thu nhập quốc dân (GNP) của một quốc gia. Theo lý thuyết về
cầu tiền tệ của Irving Fisher thì:
P.Y = M.V = GNP
Trong đó:
P: mức giá cả
Q: tổng sản phẩm
M: khối lợng tiền tệ
V: vòng quay tiền tệ
Vốn tồn đọng chính là đại diện cho một lợng lớn vồn bị nằm chết
trong nền kinh tế. Lợng vốn chết này sẽ khiến cho vòng quay tiền
8
tệ (V) bị chậm lại. Vốn tồn đọng càng lớn thì V sẽ càng nhỏ. Và nh
vậy, giả sử M không đổi, V giảm càng nhiều dẫn đến GNP cũng sẽ
giảm nhiều tơng ứng. Hơn nữa, thu nhập quốc dân thấp lại ảnh h-
đòi ngày càng nhiều, khả năng thanh toán của ngân hàng sẽ bị yếu
9
đi, và đến một lúc nào đó, ngân hàng không còn khả năng đáp ứng
đợc những đợt rút tiền ồ ạt của dân chúng, ngân hàng sẽ bị phá sản.
Trong điều kiện mỗi ngân hàng đều có quan hệ giao dịch, trao
đổi với những ngân hàng khác, mỗi ngân hàng đều giữ một vai trò
nhất định trong cả bộ máy thì chỉ cần một ngân hàng bị phá sản sẽ
gây ảnh hởng đến toàn hệ thống, thậm chí trầm trọng hơn, có thể
gây ra khủng hoảng tài chính tiền tệ và gây ảnh hởng trực tiếp,
nghiêm trọng đến đời sống kinh tế x hội của một quốc gia, làmã
suy giảm uy tín và vị thế của quốc gia đó trên trờng quốc tế. Vì vậy,
nhìn chung, tuỳ theo đặc điểm, tình hình từng nớc mà có nớc thành
lập một tổ chức xử lý nợ tồn đọng cho cả hệ thống, có nớc chỉ thành
lập riêng cho những ngân hàng mà sự sụp đổ của nó có thể có tác
động dây chuyền đến cả hệ thống.
- Thứ hai, việc mua bán nợ tồn đọng ngân hàng không chỉ giúp lành
mạnh hoá, đảm bảo khả năng thanh toán cho ngân hàng mà còn
giúp các tổ chức tín dụng:
+) Đa dạng hoá các nghiệp vụ hoạt động: Bên cạnh những nghiệp
vụ mà ngân hàng vẫn thực hiện từ trớc đến nay nh huy động, cho
vay, thanh toán,... thì nh còn đợc thực hiện việc bán những khoản
nợ cho các công ty, tổ chức khác trong và ngoài ngành ngân hàng.
+) Khắc phục khó khăn về tài chính trong kinh doanh: Việc bán
các khoản nợ tồn đọng sẽ giải phóng một phần nguồn vốn đang bị ứ
đọng tại những dự án đầu t không hiệu quả. Nguồn thu từ hoạt
động bán nợ khó đòi này sẽ góp phần bù đắp chi phí, đáp ứng yêu
cầu về thanh khoản, tái tạo vốn đầu t, giải quyết những khó khăn
về tài chính. Hơn nữa, với quy định trích lập quỹ dự phòng rủi ro
cho các khoản nợ quá hạn, các ngân hàng sẽ gánh một chi phí rất
lệ nợ quá hạn trên tổng d nợ của mình trong phạm vị cho phép, xử
lý những món cho vay không hiệu quả, tập trung vào những khoản
cho vay hiệu quả, nâng cao chất lợng hoạt động tín dụng, ngăn
ngừa những rủi ro do tình trạng nợ đọng gây nên.
Nh vậy, nợ tồn đọng là một vấn đề nhức nhối mà nhiều quốc gia
cần phải tập trung giải quyết triệt để. Các quốc gia đ áp dụng nhiềuã
biện pháp truyền thống để xử lý nh: xử lý nội bộ, khoanh nợ chờ xử lý,
xoá nợ, mua bán nợ giữa các nh... nhng hiệu quả không cao, không xử
lý đợc dứt điểm và vì thế họ phải áp dụng một phơng thức đặc biệt là
thành lập các công ty quản lý tài sản để xử lý nợ tồn đọng của mình.
Việc thành lập các công ty quản lý nợ và khai thác tài sản để giải
quyết vấn đề nợ đọng khó đòi là hiệu quả và tiết kiệm chi phí hơn so
với những phơng thức thông thờng khác do:
11
Thứ nhất, các ngân hàng không có đủ nguồn lực và kỹ năng cần
thiết để xử lý các khoản nợ trong khi đó công ty quản lý nợ và khai
thác tài sản đợc chuyên môn hoá để thực hiện công việc này. Xử lý nợ
đọng đòi hỏi phải có một lợng vốn không nhỏ. Hơn nữa, công việc này
hết sức phức tạp, nó liên quan tới nhiều hoạt động, nhiều ngành, cần
có sự linh hoạt và những kỹ năng đặc biệt nhất định. Nếu ngân hàng
tập trung đáp ứng những yêu cầu đó để giải quyết nợ tồn đọng của
mình thì chi phí xử lý cũng nh những khoản chi phí cơ hội của ngân
hàng sẽ rất lớn. Nhng với công ty quản lý nợ và khai thác tài sản đợc
chuyên môn hoá thì hoạt động này sẽ trở nên dễ dàng và tiết kiệm
hơn.
Thứ hai, các ngân hàng bị hạn chế và thiếu quyền lực đặc biệt
để xử lý nợ trong khi công ty quản lý nợ và khai thác tài sản có thể
thúc đẩy các thay đổi pháp lý cần thiết. Nh đ phân tích, hoạt động xửã
lý nợ liên quan tời nhiều nhánh luật khác nhau, để tạo hành lang pháp
đó. Mô hình này đợc áp dụng ở Trung Quốc, Thái lan.
3. Các bên thứ ba đợc uỷ quyền theo hợp đồng, áp dụng tại Phần
Lan
4. Bán nhanh, bán/chuyển nhợng khối lợng lớn: Tài sản có của
những tổ chức có nguy cơ đổ vỡ sẽ đợc bán, chuyển nhợng lại
một phần hay toàn bộ cho một tổ chức có tình hình tài chính
lành mạnh... Mô hình này đợc áp dụng ở Mỹ.
5. Ngân hàng thu nợ/toà thu nợ, áp dụng tại ấn Độ.
Trong các mô hình trên, theo ý kiến của các chuyên gia thì mô
hình thứ nhất, cơ quan xử lý trung ơng, là có khả năng đạt mức độ
thành công cao nhất. Nguyên do là một mô hình cơ quan xử lý trung -
ơng do Chính phủ thành lập đợc xem là mang tính khả thi cao và theo
hớng tiếp cận này Chính phủ sẽ đạt đợc nhiều mục đích đồng thời.
Thứ nhất, Chính phủ thuận lợi trong việc thiết lập một phơng
tiện (công ty quản lý nợ và khai thác tài sản) thuộc sở hữu của nhà nớc
cho việc mua tậu tài sản, tối đa hoá giá trị của chúng và việc đem bán
các tài sản đó cho các nhà đầu t sẽ dễ dàng hơn nhờ vào uy tín và sự
bảo l nh của Chính phủ.ã
Thứ hai, qua đó Chính phủ có thể có sự kiểm soát trung ơng hoá
đối với chơng trình tái cơ cấu chuyển nhợng dài hạn đối với các khoản
vay không hoạt động.
Thứ ba, Chính phủ có đủ năng lực để trao các đặc quyền cho các
công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của mình để hỗ trợ cho việc
13
chuyển giao các tài sản hiệu quả cũng nh cung cấp các cơ chế bên
ngoài t pháp để tạo các thuận lợi cho việc giải quyết tranh tụng giữa
các bên đi vay và bên cho vay, tạo cơ hội cho các cuộc bán tài sản với
giá trị tối đa thông qua việc thiết lập các cơ chế nhằm đảm bảo quyền
sở hữu vừa sạch vừa sáng đối với các tài sản và một cơ chế nhợng
khủng hoảng nh bằng cách cung cấp một cơ chế cho các ngân hàng yếu
kém bán tài sản có vấn đề để lấy tiền hay giấy nhận nợ. Việc này giúp
bơm tiền vào các ngân hàng, cải thiện khả năng thanh toán của khu
vực ngân hàng, trợ giúp các ngân hàng yếu kém quay trở lại cách thức
hoạt động cho vay thận trọng, làm cho các ngân hàng thơng mại thoát
khỏi gánh nặng xử lý các khoản vay có vấn đề, đồng thời cải thiện đợc
tỷ lệ vốn đối với ngân hàng, tuỳ thuộc vào việc trích lập dự phòng ban
đầu và giá trị bán tài sản thu đợc để hệ thống ngân hàng thu hồi đợc
vốn tiếp tục quay vòng phục vụ các doanh nghiệp, tăng lợi nhuận,
giảm chi phí, ngăn ngừa các nguy cơ đổ vỡ cục bộ trong hệ thống.
Nh vậy, bằng các biện pháp kỹ năng đặc biệt của mình trong việc
xử lý nợ và tồn đọng ngân hàng, các công ty quản lý nợ và khai thác tài
sản ngân hàng đ giúp lành mạnh hoá hoạt động của các ngân hàng,ã
góp phần cơ cấu lại hệ thống ngân hàng một cách hiệu quả. Có thể nói
thành lập công ty quản lý nợ và khai thác tài sản chính là một phần
thiết yếu quan trọng trong chơng trình cơ cấu lại các ngân hàng.
1.1.7. Đối với nền kinh tế.
Trong nền kinh tế, hệ thống tài chính ngân hàng đóng một vai
trò vô cùng quan trọng, sự tăng trởng hay suy yếu của nền kinh tế đợc
thể hiện qua sự hùng mạnh hay yếu kém của hệ thống tài chính ngân
hàng. Ngợc lại, sức khỏe của hệ thống ngân hàng cũng xẽ có ảnh hởng
lớn đến sức khỏe của nền kinh tế. Vì thế, công ty quản lý nợ và khai
thác tài sản giúp lành mạnh hoá hoạt động ngân hàng cũng chính là
giúp tăng cờng sức mạnh, lành mạnh hoá các hoạt động của nền kinh
tế. (Điều này càng đợc thể hiện rõ hơn qua việc các quốc gia khắc phục
những hậu quả do cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ gây ra. Để khôi
phục, cơ cấu lại kinh tế, một trong những biện pháp quan trọng trớc
tiên các quốc gia đ làm là tiến hành cơ cấu, phục hồi lại sức mạnh choã
hệ thống ngân hàng với biện pháp thành lập công ty quản lý nợ và
khai thác tài sản để xử lý các khoản nợ khó đòi khổng lồ.) Nền kinh tế
16
Thực ra, thực hiện bán khoản cho vay có nghĩa là tạo điều kiện
cho bên bán nợ các ngân hàng thay đổi quy mô hoạt động. Bán
khoản cho vay xuất phát từ một số yêu cầu trong quản trị kinh doanh
nh: cải thiện khả năng thanh toán của ngân hàng, cải thiện danh mục
cho vay và đầu t, ngăn chặn rủi ro, tăng thu nhập...
Bản chất của mua bán nợ là chuyển giao quyền yêu cầu, là thay
đổi quyền sở hữu đối với các khoản nợ. Mà vấn đề sở hữu là vấn đề rất
nhậy cảm trong hoạt động kinh tế. Hơn nữa, các khoản nợ phát sinh
trong hoạt động cho vay của ngân hàng là rất phong phú với các đặc
điểm hoàn toàn khác nhau, mà trớc hết là đặc điểm đa dạng của loại
hình, kì hạn, l i suất... của khoản vay và ngã ời vay nợ. Sự thay đổi
thành phần (nhà nớc, t nhân, liên doanh...) trong sở hữu nợ qua mua
bán nợ thể hiện sự phức tạp của hoạt động này, nhất là ở những nớc
mà còn tồn tại sự khác biệt đáng kể trong hoạt động của các doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.
Bên cạnh đó, việc mua bán nợ còn bị giới hạn bởi một số yếu tố
khác.
Thứ nhất, ngân hàng phải giải quyết tốt các mâu thuẫn nh vừa
muốn bán với giá tối u (thu hồi đợc giá trị lớn nhất có thể từ món cho
vay) vừa muốn tăng sự an toàn (giảm d nợ xấu). Hay việc bán khoản
cho vay thờng đi kèm với chuyển giao thông tin về khách hàng mà
ngân hàng không có đủ, và vừa phải có nghĩa vụ bảo mật những thông
tin đó.
Thứ hai, để đảm bảo an toàn cho toàn hệ thống, việc mua bán nợ
bị hạn chế và chịu sự kiểm soát của nhà nớc bằng các quy định và tính
thuế.
ở Việt Nam, theo Quy chế mua bán nợ của tổ chức tín dụng ban
hành kèm theo Quyết định số 140/1999/QĐ-NHNN14 thì mua bán nợ
dịch nợ rất năng động. Tuy nhiên, hầu hết các nớc đều không có một
khuôn khổ chung, thống nhất cho hoạt động mua bán nợ. Đa số các nớc
thực hiện phơng án tạo khung pháp lý cho hoạt động mua, bán nợ
theo từng lĩnh vực nhất định. Các giao dịch này tuỳ theo tính chất của
khoản nợ đợc thực hiện theo những quy định riêng. Hoạt động ngân
hàng trong giao dịch mua, bán nợ cũng là một trong những lĩnh vực
chủ yếu.
Điều kiện về phơng tiện giao dịch: Thực tế là không có một
khoản nợ nào chỉ đợc ghi sổ đơn thuần. Hơn nữa, việc ghi sổ chỉ là xác
nhận, còn chủ nợ khi nào cũng có trong tay một chứng từ, hay chứng
18
chỉ nào đó xác nhận quyền của mình về khoản nợ đó. Do vậy, về bản
chất, trong mọi trờng hợp các khoản nợ đều đợc ghi nhận (xác nhận)
bằng các chứng chỉ. Vấn đề đặt ra là các chứng chỉ phải nh thế nào để
đáp ứng đợc các yêu cầu giao dịch là tin cậy, an toàn, phổ thông. Tất
yếu, khả năng giao dịch (đợc mua, bán hay không đợc mua, bán) các
khoản nợ cũng phải đợc xác định rõ ràng không chỉ trong các chứng chỉ
nợ, mà cả trong các hợp đồng về quan hệ vay nợ. Ngoài ra, các giao
dịch các khoản nợ cũng có liên quan rất mật thiết với giao dịch các
quyền. Nh vậy, phải có các quy định pháp lý về điều kiện vật chất của
phơng tiện giao dịch.
Điều kiện về khuôn khổ pháp lý cho tổ chức và hoạt động giao
dịch mua, bán nợ: Phải có các quy định cần thiết về các nội dung chủ
yếu nh hình thức, quy cách, quyền phát hành các chứng chỉ giao dịch;
điạ điểm, phơng thức giao dịch; các quy định về kiểm tra, giám sát, th-
ởng phạt...
Hoạt động mua bán nợ tại các công ty quản lý nợ và khai thác tài
sản chỉ là một nhánh của hình thức hoạt động mua bán nợ nói chung.
Nó gắn liền với đối tợng, phạm vi cũng nh mục tiêu mua bán đặc trng
ngày 5 tháng 10 năm 2001 của Thủ tớng Chính phủ, chỉ thị số
01/2002/CT-NHNN của thống đốc Ngân hàng Nhà nớc về việc xử lý nợ
tồn đọng của các ngân hàng thơng mại quy định: phạm vi xử lý nợ tồn
đọng của các ngân hàng thơng mại là các khoản nợ tồn đọng còn d nợ
đến thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2000. Việc xử lý các khoản nợ
tồn đọng của các ngân hàng thơng mại sau thời điểm ngày 31 tháng 12
năm 2000 thực hiện theo các quy định hiện hành.
2.1.3. Đối tợng tham gia.
Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản sẽ tiến hành mua bán và
xử lý nợ của những tổ chức, ngân hàng mà tỷ lệ nợ khê đọng khó đòi
quá lớn, gây ảnh hởng tiêu cực đến hoạt động của bản thân ngân hàng
đó cũng nh sự ổn định của cả hệ thống, hay thực hiện giải quyết tình
trạng nợ đọng cho cả hệ thống theo chơng trình cơ cấu lại ngân hàng,
lành mạnh hoá tình hình tài chính. Nh vậy, nói chung các đối tợng đợc
tham gia xử lý nợ tồn đọng là các tổ chức tín dụng trong hệ thống tài
chính ngân hàng. Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản không có
trách nhiệm, không có quyền mua các khoản nợ khó đòi của doanh
nghiệp, và các tổ chức phi ngân hàng.
20
Trong quá trình xử lý nợ của công ty quản lý nợ và khai thác tài
sản, công ty có thể tiến hành việc bán lại các khoản nợ hay những tài
sản cầm cố thế chấp tiền vay ra thị trờng. Pháp luật thờng không có
quy định hạn chế các chủ thể công ty quản lý nợ và khai thác tài sản
có thể quan hệ hợp tác mua bán nhằm đảm bảo tính chủ động và linh
hoạt của công ty trong việc tìm nguồn, tối đa hoá giá trị thu hồi từ nợ
vay.
ở Việt Nam, cũng theo Quyết định 149/2001/QĐ-TTg của Thủ t-
ớng Chính phủ, đối tợng đợc xử lý nợ tồn đọng là ngân hàng thơng mại
nhà nớc, ngân hàng thơng mại cổ phần của nhà nớc và nhân dân.
các kế hoạch xử lý dài hạn do chậm nhận đợc các khoản tiền từ ngân
sách và đ bị giải thể vào năm 1993 bằng Luật đóng cửa RTC do khôngã
đủ nguồn vốn để giải quyết thêm các tổ chức tiết kiệm bị đổ vỡ.
2.1.4. Hoạt động xử lý nợ của công ty quản lý nợ và khai thác tài sản.
Tuy cơ chế xử lý tài sản của các công ty quản lý nợ và khai thác
tài sản của từng nớc cũng khác nhau, các nớc có thể phát triển các ph-
ơng pháp xử lý cho riêng mình, nhng nhìn chung việc xử lý thờng đợc
thực hiện theo trình tự sau: các khoản vay không hoạt động và tài sản
có vấn đề của các tổ chức tín dụng, các ngân hàng đợc chuyển đến công
ty quản lý tài sản. Tại đây chúng đợc phân loại theo các mức độ khác
nhau và đợc chuyển thành các tài sản có. Sau đó tuỳ theo từng loại mà
chúng đợc xử lý theo các phơng pháp khác nhau nh cơ cấu lại, tài trợ,
tối đa hoá giá trị... để trở thành các hình thức dễ chuyển nhợng hơn và
cuối cùng đem bán, thu hồi lại vốn.
a. Mua, tiếp nhận các khoản nợ tồn đọng
Trớc tiên, công ty quản lý nợ và khai thác tài sản sẽ mua các
khoản nợ không hoạt động từ các ngân hàng. Việc tiếp nhận nợ tồn
đọng có thể đợc tiến hành dới các hình thức khác nhau. Ngân hàng có
thể uỷ thác cho công ty; ngân hàng mua trái phiếu của công ty, công ty
dùng số tiền đó để mua lại nợ tồn đọng của chính ngân hàng; nhng phổ
biến nhất có lẽ là công ty trực tiếp mua lại các khoản nợ cần xử lý của
ngân hàng.
Khi việc mua bán các khoản nợ khê đọng đợc thực hiện giữa
ngân hàng và công ty quản lý nợ và khai thác tài sản, giá cả là yếu tố
22
quan trọng cần đợc xem xét. Thông thờng, trong giao dịch bán khoản
cho vay cần phân biệt một số khái niệm có liên quan đến giá:
Thứ nhất là giá trị của khoản cho vay đợc chuyển giao, đó là giá
trị của trái quyền có thể bao gồm cả gốc và l i mà khách hàng nợ sẽã
23
giảm l i suất hoàn toàn hay chỉ trong một thời gian nhất định; gi n nợã ã
(kéo dài thời hạn trả nợ); cho doanh nghiệp vay vốn đầu t thêm...
Các khoản nợ có thể đợc bán ra trên thị trờng theo mức giá thoả
thuận giữa bên mua và bên bán (công ty quản lý tài sản). Bên mua th-
ờng là những đơn vị có mối quan hệ, hoặc quan tâm đặc biệt tới doanh
nghiệp nợ, nhìn thấy ở khoản nợ này một cơ hội kinh doanh có thể tận
dụng đợc.
Còn một phơng thức xử lý khác cũng hay đợc các công ty quản lý
tài sản sử dụng, đó là chuyển nợ thành cổ phần của doanh nghiệp. Đây
là một trong những cách đợc các nhà nghiên cứu kinh tế đánh giá cao,
vì khi công ty quản lý nợ và khai thác tài sản có cổ phần trong doanh
nghiệp, công ty sẽ có quyền can thiệp vào hoạt động của doanh nghiệp
đó, buộc doanh nghiệp phải thực hiện những biện pháp cần thiết để
khôi phục tình hình tài chính cho doanh nghiệp. Và nh vậy, quá trình
cơ cấu lại ngân hàng sẽ đợc gắn liền với quá trình cơ cấu lại các doanh
nghiệp.
Đối với các tài sản cầm cố, thế chấp, công ty cũng có thể xử lý
bằng nhiều cách khác nhau. Công ty có thể tiến hành sửa chữa, nâng
cấp tài sản để tăng tính khả mại cũng nh giá trị của tài sản khi đem
bán ra thị trờng. Công ty còn có thể đa tài sản vào hoạt động kinh
doanh của bản thân công ty, hay đem tài sản góp vốn, liên doanh...
Tóm lại, để thu hồi giá trị tối đa của khoản nợ, hoạt động xử lý tài sản
của công ty là hết sức linh hoạt và đa dạng.
3. Kinh nghiệm hoạt động của các công ty quản lý nợ và khai
thác tài sản một số quốc gia trên thế giới - bài học đối với
Việt Nam.
3.1. Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới.
3.1.1. Kinh nghiệm của Thái Lan.
khẩn trơng ban hành một nghị định khẩn cấp thành lập công ty quản
lý tài sản, một cơ quan nhà nớc chịu trách nhiệm thực hiện các biện
pháp xử lý nợ tồn đọng theo thông lệ quốc tế. Việc thành lập công ty
quản lý tài sản để quản lý nợ tồn đọng của các tổ chức tài chính là một
phần của chơng trình cơ cấu lại khu vực tài chính của Thái Lan.
3.1.1.2. Uỷ ban tái cơ cấu ngành tài chính Thái Lan.
25