THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY QUẢN LÝ NỢ VÀ KHAI THÁC TÀI SẢN NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN - Pdf 64

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY QUẢN LÝ NỢ VÀ
KHAI THÁC TÀI SẢN NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT
TRIỂN NÔNG THÔN.
1 Sự cần thiết phải thành lập công ty quản lý nợ và khai thác tài sản ở Việt
Nam
Thời gian gần đây, khi đánh giá về tình hình kinh tế và đề ra định hướng phát
triển đối với lĩnh vực ngân hàng, Đảng và Chính phủ thường nêu lên thực trạng nợ
quá hạn của các tổ chức tín dụng và định hướng khẩn trương có biện pháp xử lý thực
trạng này là phải thành lập công ty quản lý tài sản tồn đọng ngân hàng để xử lý vấn đề
nợ tồn đọng. Sự cấp thiết của việc thành lập công ty quản lý nợ và khai thác tài sản tại
Việt Nam thể hiện ở những lý do sau:
Thứ nhất, nợ xấu trong nền kinh tế cao và vẫn tiếp tục gia tăng. Hoạt động
tín dụng là một trong những nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại, là nguồn
chủ yếu đem lại lợi nhuận. Nghiệp vụ này luôn phải gắn với rủi ro tín dụng, và nước
có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn của ngân hàng. Trong hệ thống ngân hàng
thương mại Việt Nam, tỷ lệ nợ quá hạn là một vấn đề khá nghiêm trọng. Theo tính
toán của World Bank, nợ khó đòi phải xử lý theo tiêu chuẩn kế toán Việt Nam của hệ
thống ngân hàng đạt trên 1 tỷ USD. N ếu căn cứ theo tiêu chuẩn kế toán quốc tế thì số
nợ khó đòi lên tới 3-4 tỷ USD. Còn theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, tính đến
tháng 5/2000, nợ xấu trong toàn hệ thống chiếm 12,7%, tương đương 19.261 tỷ đồng.
Trong đó nợ quá hạn khó đòi, nợ khoanh, nợ chờ xử lý lên đến 17.198 tỷ và vẫn tiếp
tục gia tăng so với mức 13.000 tỷ vào thời điểm cuối tháng 2/1999, riêng khối ngân
hàng quốc doanh đã chiếm 81%. Số dư nợ chờ xử lý có tài sản xiết nợ và tài sản đang
nằm trong các vụ án của toàn hệ thống là 6.202 tỷ (các ngân hàng quốc doanh chiếm
78%), nợ được khoanh là 3.900 tỷ, nợ được xoá: 1.260 tỷ. Đó là chưa kể hiện nay việc
xếp loại nợ khó đòi của ta chủ yếu dựa vào tiêu chí thời gian quá hạn, chưa tính đến
các tiêu chí khác như nợ còn đang trong diện quá hạn thông thường nhưng thực tế
doanh nghiệp đã bị thua lỗ nặng, không còn khả năng trả nợ. Như vậy, một phần số dư
nợ được coi là nợ quá hạn thông thường trên thực tế đã là nợ quá hạn khó đòi.
Tình hình nợ quá hạn của nước ta không chỉ cao, trong khoảng 10 năm liền
luôn cao hơn mức an toàn (5%), mà nguy hiểm hơn là tình trạng nợ đọng biến động

hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 2755 tỷ đồng. Trong khi đó, tỷ lệ nợ quá
hạn/tổng vốn tự có của các ngân hàng quốc doanh lên tới 234% thời điểm cuối 1999.
Đến 31/12/2000, nợ tồn đọng ở các ngân hàng thương mại nhà nước đã gấp 4 lần vốn
tự có. Nợ quá hạn cao trong khi vốn tự có quá thấp gây nguy cơ mất khả năng thanh
toán cho các ngân hàng vào bất cứ lúc nào. Nếu vấn đề này không được giả quyết cơ
bản và nhanh chóng sẽ gây tác động tiêu cực cho không chỉ hệ thống ngân hàng mà
còn toàn bộ nên kinh tế.
Thứ ba, nợ đọng có nguy cơ gây khủng hoảng kinh tế. Các số liệu trên cho
thấy, nền kinh tế nước ta đang bị tồn đọng một lượng vật chất lớn đóng băng, không
được khai thác, doanh nghiệp không trả được nợ cho ngân hàng, làm suy giảm sức
mạnh của các ngân hàng. Hệ thống ngân hàng không thu hồi được vốn để tiếp tục
quay vòng phục vụ các doanh nghiệp, tăng chi phí, giảm lợi nhuận, giảm uy tín và
thậm chí chứa đựng nguy cơ đổ vỡ cục bộ, trước tiên là đối với các ngân hàng yếu
kém, xa hơn có thể dẫn tới đổ vỡ hệ thống. Với vai trò cung ứng vốn, điều tiết lưu
thông tiền tệ và thực hiện chính sách của Chính phủ, sự đổ vỡ của hệ thống ngân hàng
có thể gây ra khủng hoảng kinh tế làm mất an ninh chính trị, đảo lộn trật tự xã hội.
Chúng ta đã từng chứng kiến bài học này từ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu
Á 1997.
Nguyên nhân của tình trạng tỷ lệ nợ quá hạn ngày càng gia tăng trong hệ thống
ngân hàng Việt Nam có thể được tóm lược là:
- Một số khoản nợ từ thời bao cấp không chi trả được.
- Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp đi vay vẫn chưa cải thiện nhiều.
- Các ngân hàng thương mại quốc doanh còn bị ảnh hưởng của cơ chế quản lý hành
chính trong hoạt động kinh doanh do vừa thực hiện chức năng kinh doanh vừa thực
thi nhiệm vụ chính sách kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước. Nhiều doanh nghiệp
nhà nước vẫn được cho vay theo chỉ đạo, chỉ thị... mà không tính toán đến rủi ro
tín dụng, đến điều kiện hoàn vốn và lãi, các doanh nghiệp này lại chiếm tỷ lệ vốn
vay rất lớn.
- Bản thân hoạt động ngân hàng còn nhiều yếu kém, bất cập. Các ngân hàng thương
mại quốc doanh có vai trò chủ đạo và chủ lực trong hệ thống ngân hàng nhưng còn

Thứ năm, mọi biện pháp để xử lý nợ đọng được áp dụng đều không đạt
hiệu quả mong đợi. Như vậy, vấn đề xử lý nợ tồn đọng đã trở thành một nhu cầu bức
xúc đối với nước ta. Để giải quyết vấn đề này chúng ta đã sử dụng nhiều biện pháp từ
khuyến khích đến cưỡng chế, giao cho các ngân hàng tự xử lý. Tuy nhiên, do vướng
phải các quy định về pháp luật, do chồng chéo chức năng, do không đủ thẩm quyền
mà việc mua bán nợ không thực hiện được, hoặc chỉ thực hiện được với các tài sản
nhỏ lẻ. Nhu cầu đó đòi hỏi phải thành lập một tổ chức đặc trách các khoản nợ quá hạn
khó đòi tồn đọng trong hệ thống ngân hàng bằng các phương thức mua, quản lý, tài
trợ... nhằm tối đa hoá giá trị của nó để bán, cho thuê, góp vốn... thu hồi lại vốn.
Trước đòi hỏi của thực tế, bắt đầu từ năm 2000, ta đã tiến hành chương trình cơ
cấu lại hệ thống ngân hàng thương mại với nội dung chính là cơ cấu tài chính, trong
đó giảm tỷ lệ nợ quá hạn là một mục tiêu quan trọng của chương trình. Để giảm,
khống chế tỷ lệ nợ tồn đọng trong giới hạn cho phép, rất nhiều các biện pháp cần phải
được thực hiện một cách đồng bộ như: nâng cao chất lượng tín dụng, chú trọng đến
công tác quản lý rủi ro... và thành lập các công ty quản lý nợ và khai thác tài sản để
giải quyết dứt điểm những khoản nợ khê đọng khó đòi từ thời điểm 31/12/2000 trở về
trước. Quyết định 150/2001/QĐ - TTg do Thủ tướng Phan Văn Khải ký ngày
05/10/2001, tiếp theo là quyết định 1389/2001/QĐ - NHNN do Phó Thống đốc ngân
hàng nhà nước Trần Minh Tuấn ký ngày 07/11/2001 cùng các quyết định, thông tư
khác về ban hành điều lệ mẫu, hướng dẫn chế độ tài chính... đã tạo điều kiện về pháp
lý cho sự ra đời của nhiều công ty quản lý nợ và khai thác tài sản trực thuộc ngân
hàng thương mại ở nước ta. Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản đã được thành lập
tại không chỉ các ngân hàng thương mại quốc doanh (Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển...) mà còn ở cả các ngân hàng thương
mại cổ phẩn như Sài Gòn Thương tín (Sacombank). Mặc dù mới được thành lập, chưa
có nhiều kinh nghiệm trong quản lý, xử lý tài sản, và còn gặp phải khó khăn từ nhiều
phía, công ty quản lý nợ và khai thác tài sản trực thuộc ngân hàng thương mại đã góp
phần không nhỏ vào việc giải quyết nợ tồn đọng, cơ cấu lại hệ thống ngân hàng. Tính
đến cuối năm 2001, gần 40% số nợ tồn đọng của hệ thống ngân hàng đã được xử lý.
1. Khái quát về công ty quản lý nợ và khai thác tài sản Ngân hàng Nông

của Nhà nước; thay đổi cơ chế chính sách.
Các nguyên nhân chủ quan, bao gồm: Một số cán bộ ngân hàng và doanh
nghiệp làm sai trái, thậm chí lừa đảo; yếu kém trong hoạt động ngân hàng, chậm điều
chỉnh, chỉ đạo nghiệp vụ không sâu sát, kịp thời; khách hàng vay thiếu kiến thức và
kinh nghiệm hoạt động trong cơ chế thị trường, quản lý kinh doanh yếu kém...
Số nợ tồn đọng đã ảnh hưởng rất lớn đến kết quả tài chính của Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, giảm năng lực cạnh tranh, đồng thời làm ảnh hưởng
xấu tới uy tín, vị trí, vai trò của một ngân hàng thương mại quốc doanh lớn. Nợ tồn
đọng quá lớn sẽ làm tăng gánh nặng cho ban điều hành ngân hàng, không thể tập
trung vào công tác cải cách và hướng tới nguồn lực cho các hoạt động sinh lời lành
mạnh, không đáp ứng được các chuẩn mực tài chính quốc tế. Vì vậy, yêu cầu bức xúc
đặt ra cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là: một mặt đẩy mạnh tăng
trưởng nguồn vốn và đầu tư tín dụng có chất lượng cao, đồng thời phải tích cực xử lý
nợ tồn đọng và giải toả tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh để tái tạo lại vốn bằng tiền.
Để đáp ứng yêu cầu trên, ngày 22 tháng 11 năm 2001, công ty quản lý nợ và khai
thác tài sản Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam được
thành lập theo quyết định 438/QĐ-HĐQT/TCCB.
2.3. Khái quát về Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn.
Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản – Ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn Việt Nam là công ty trực thuộc Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn được thành lập theo Quyết định số 438/QĐ-HĐQT/TCCB ngày 22 tháng 11 năm
2001 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
Việt Nam. Công ty chính thức khai trương và đi vào hoạt động từ 11/4/2002. Công ty
hạch toán độc lập, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, có con dấu riêng,
tài khoản mở tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn và các ngân hàng
thương mại khác khi được Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
chấp thuận. Công ty hoạt động trong lĩnh vực quản lý nợ và khai thác tài sản bảo đảm
nợ vay trong hệ thống Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, mua
bán nợ tồn đọng với các tổ chức tín dụng và các công ty quản lý nợ và khai thác tài

pháp luật.
• Nội dung hoạt động của công ty:
- Tiếp nhận, quản lý các khoản nợ tồn đọng (bao gồm: nợ có tài sản bảo đảm và nợ
không có tài sản bảo đảm) và tài sản bảo đảm nợ vay (tài sản thế chấp, cầm cố; tài
sản gán nợ; tài sản Toà án giao ngân hàng) liên quan đến các khoản nợ để xử lý,
thu hồi vốn nhanh nhất cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt
Nam.
- Hoàn thiện hồ sơ có liên quan đến các khoản nợ theo quy định của pháp luật trình
Ban Chỉ đạo cơ cấu lại tài chính ngân hàng thương mại của Chính phủ xem xét,
trình Thủ tướng Chính phủ cho phép Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn Việt Nam được xử lý.
- Chủ động bán các tài sản bảo đảm nợ vay thuộc quyền định đoạt của Ngân hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam đã giao cho công ty quản lý và khai
thác theo giá thị trường (giá bán tài sản có thể cao hoặc thấp hơn giá trị nợ tồn
đọng) theo hình thức sau:
+) Tự bán công khai trên thị trường.
+) Bán qua Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản.
+) Bán cho công ty mua, bán nợ của Nhà nước (khi được thành lập)
- Lập và tổ chức thực hiện đề án cơ cấu lại nợ tồn đọng bằng các biện pháp: Giãn
nợ, miễn giảm lãi suất, đầu tư thêm, chuyển đổi nợ thành vốn góp theo chỉ đạo của
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
- Sử dụng nguồn vốn của công ty để xử lý tài sản bảo đảm nợ vay được giao quản lý
và khai thác bằng các biện pháp thích hợp: cải tạo, sửa chữa, nâng cấp tài sản để
bán, cho thuê, khai thác kinh doanh. Riêng góp vốn, liên doanh bằng tài sản thực
hiện theo đề án của công ty khi được Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn Việt Nam chấp thuận.
- Mua, bán nợ tồn đọng của các Tổ chức tín dụng khác, của các Công ty quản lý nợ
và khai thác tài sản của ngân hàng thương mại khác theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện các hoạt động khác theo uỷ quyền của Ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn Việt Nam.

. Giải thể công ty, chia, tách, sáp nhập, chấm dứt hoạt động của chi nhánh công
ty.
. Tổ chức kiểm toán độc lập thực hiện kiểm toán công ty.
. Báo cáo tài chính tổng hợp và quyết toán hàng năm của công ty
. Hướng dẫn cụ thể việc thực hiện các quy định của Nhà nước và của các cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền.
+) Bổ nhiệm, miễn nhiệm Trưởng và Phó phòng chuyên môn, nghiệp vụ của công
ty (trừ Trưởng phòng kế toán, Tổ trưởng tổ kiểm tra nội bộ); Phó Giám đốc chi
nhánh, Phó văn phòng đại diện; Trưởng và Phó phòng chuyên môn nghiệp vụ của
chi nhánh.
+) Tuyển dụng, sử dụng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện các chế độ chính sách
cán bộ của công ty theo đúng quy định của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn Việt Nam và của pháp luật.
+) Thực hiện phương án hoạt động kinh doanh, phương án sử dụng lợi nhuận sau
thuế khi được Hội đồng quản trị Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
Việt Nam phê duyệt.
+) Điều hành và quyết định các vấn đề có liên quan đến các hoạt động kinh doanh
của công ty theo đúng pháp luật, Điều lệ công ty và quyết định của Hội đồng quản
trị Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam; chịu trách nhiệm về
kết quả kinh doanh của công ty.
+) Đại diện cho công ty trong quan hệ dân sự, tố tụng, tranh chấp, giải thể.
+) Được áp dụng các biện pháp vượt thẩm quyền của mình trong trường hợp khẩn
cấp (thiên tai, địch hoạ, hoả hoạn,...) và chịu trách nhiệm về những quyết định của
mình, sau đó phải báo cáo ngay với Hội đồng quản trị và Tổng Giám đốc Ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
+) Chịu sự kiểm soát của Hội đồng quản trị, kiểm tra, kiểm toán nội bộ của Ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, các cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền đối với hoạt động của công ty.
+) Báo cáo Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàng
Nhà nước và các cơ quan Nhà nước theo quy định của pháp luật về kết quả hoạt

phòng nghiệp
vụ kinh doanh
phòng tài
chính kế
toán
phòng tổng
hợp
phòng hành
chính nhân sự
- CHI NHÁNH
- VĂN PHÒNG ĐẠI
DIỆN
- Chi nhánh, văn phòng đại diện: ở những thành phố, những trung tâm lớn, tập
trung hoạt động của Ngân hàng nông nghiệpvà Phát triển nông thôn như Hải
phòng, Bắc ninh, Thanh Hoá... công ty có thành lập các chi nhánh, văn phòng đại
diện để kịp thời, sâu sát nắm bắt tình hình nợ tồn đọng và đề ra biện pháp xử lý
thích hợp cho hoạt động ngân hàng ở những địa bàn đó.
2. Thực trạng hoạt động của công ty quản lý nợ và khai thác tài sản Ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
3.1. Tình hình hoạt động của công ty quản lý nợ và khai thác tài sản trong
năm qua.
3.1.1. Thực trạng nợ tồn đọng đến 31/12/2000 của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn Việt Nam.
Nợ tồn đọng luôn là một vấn đề nhức nhối và cần được giải quyết trong hoạt
động tín dụng của ngân hàng nói chung. Tuy nhiên, không phải mọi khoản nợ đều
được đưa vào chương trình giải quyết nợ đọng, cơ cấu lại tài chính cho hệ thống nhân
hàng thương mại hiện nay. Theo chỉ thị số 01/2002/CT-NHNN của Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam về việc xử lý nợ tồn đọng của các ngân hàng thương mại
ban hành dựa trên tinh thần Quyết định số 149/2001/QĐ-TTg ngày 5/10/2001 của Thủ
tướng Chính phủ thì phạm vi xử lý nợ tồn đọng của các ngân hàng thương mại là các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status